
Chiến tranh đã lùi xa. Nhưng chuyến tản cư năm ấy vẫn hằn sâu trong kí ức tôi.
Những năm 70, chiến tranh ác liệt lắm. Làng tôi nằm giữa tầm đạn pháo từ hai phía: bộ đội giải phóng và đồn địa phương quân của chính quyền cũ. Nên bà con, xóm giềng lần lượt đi tản cư, chỉ còn lại mươi người ở lại làng, nhưng hầu hết là người già. Ba tôi cũng muốn đưa chúng tôi rời làng để tránh cảnh bom rơi đạn lạc. Nhưng hoàn cảnh gia đình tôi lúc đó vô cùng khó khăn, mẹ tôi vừa mất. Một mình ba tôi gà trống nuôi bốn đứa con thơ dại, đứa lớn nhất mười ba, đứa út chưa đầy bốn tuổi, nếu bỏ ruộng vườn đi nơi khác lấy chi sinh sống. Thế là cả nhà chúng tôi bám trụ lại với làng.
Tôi vẫn nhớ mùa hè năm 1972, bộ đội chủ lực về làng rất đông, nghe nói chuẩn bị cho đợt tấn công nhổ bót Cầu Thầy Cai, làm bàn đạp để san bằng căn cứ Mỹ ở chi khu Cai Lậy. Hàng ngày, pháo từ phía bên này sông Cả Mít gầm lên, xé rách không gian bằng tiếng rít chói tai, thì chỉ vài giây sau, pháo từ phía đồn Thầy Cai, rồi pháo bầy từ căn cứ Mỹ ở Long Định lại dội về dồn dập. Chị em chúng tôi ngồi trong trảng xê (hầm trú ẩn) nghe đất rung lên, đất đá bay rào rào trên nóc hầm. Khói xám xịt và mùi thuốc súng khét lẹt ùa vào hầm. Giữa hai tầm pháo đan cài ấy, chúng tôi như nín thở, nghe rõ từng nhịp tim đập thình thịch trong lồng ngực.
Một buổi chiều, chúng tôi vừa ăn cơm xong, thì có một chú bộ đội đến nhà tôi, chú nói giọng Bắc, tự giới thiệu mình tên là Tánh, Đại đội trưởng đơn vị C 71 đang đóng quân tại làng tôi. Biết gia đình chúng tôi không có điều kiện đi tản cư xa. Đơn vị chú đã bàn bạc và dựng một căn chòi nhỏ ở giữa cánh đồng Tha la, cách làng Mỹ An khoảng 4 cây số. Ở nơi đó, xa tầm đạn giao tranh từ hai phía và hàng ngày ba tôi có thể về chăm sóc ruộng lúa hoa màu.
Sáng hôm sau, chú Tánh đến nhà đưa chúng tôi đến nơi ở mới. Chú Tánh đi trước cõng đứa em áp út. Ba tôi quảy gánh theo sau, một đầu gánh là đứa em gái út ngồi trong chiếc thúng, đầu còn lại là bao gạo. Tôi và chị gái, đứa ôm mùng chiếu, đứa xách xoong nồi, thau chậu. Rời nhà, chúng tôi đi men theo bờ sông Cả Mít. Những vườn cây xơ xác, ngã đỗ. Hàng dừa lão ven sông dường như không có cây nào còn nguyên vẹn, chúng bị mảnh pháo băm nát, toạc vỏ, ứa nhựa đỏ như máu. Có những thân cây bị cắt ngang ngã chắn lối đi. Chúng tôi đạp lên những cây ngã đỗ ra đến cầu Cả Mít. Trước mắt là cánh đồng lúa mênh mông. Chú Tánh chỉ tay về phía trước động viên chị em tôi: “Các cháu cố lên. Băng qua cánh đồng này, khoảng 30 phút thôi mình sẽ đến nơi ở mới”. Nhà mới của chúng tôi là một căn chòi lợp bằng lá dừa nước. Chòi nằm trên một gò đất cao, bao quanh là những cây trâm bầu rợp bóng mát . Chòi tuy nhỏ nhưng có một gian hai chái . Gian giữa có đặt hai vạt tre làm giường ngủ. Chái trên che cái trảng xê kiên cố. Chái dưới là bếp. Bếp có hai bộ ông Táo vừa mới đắp bằng đất sét và những bó củi bằng chà trâm bầu chất sẵn. Bàn giao căn chòi cho chúng tôi, trước khi về chú Tánh ân cần nói: “Ở đây xa tầm đạn pháo nhưng các cháu phải bảo ban nhau lúc ba vắng nhà, không được đi chơi xa đề phòng pháo chụp ra đồng. Ở đây các cháu sẽ không ngủ trong hầm nữa”. Tiễn chú ra về, ba tôi xúc động đứng mãi dưới tán trâm bầu nhìn theo bóng chú nhỏ dần rồi mất hút cuối cánh đồng Tha La.
Ở nơi tản cư, chúng tôi được ba phân công mỗi người một việc. Chị tôi lo cơm nước và trông chừng hai em. Còn tôi theo ba về đồng Mỹ An để chăm sóc ruộng rẫy. Sáng nào cũng vậy, ba tôi dậy sớm nấu xong cơm nước, chia hai phần. Phần của ba và tôi bỏ vào hai lon sữa Guizgo dành cho bữa ăn trưa ở lại trên đồng. Phần còn lại để trên bếp dành cho chị và các em tôi. Trước khi rời chòi, ba dặn dò chị tôi coi chừng các em cho cẩn thận. Không được đi mò cua, bắt ốc, bẻ mua chín hay đi hái trái nhãn lồng… Hễ nghe tiếng pháo dù gần hay xa lập tức đưa các em vào trảng xê để nấp. Sau đó hai cha con băng đồng Tha La về Mỹ An. Ruộng lúa và rẫy khoai của nhà tôi nằm ở cuối cánh đồng Mỹ An giáp đồng Tha La, chỉ cách một con kênh nhỏ. Khi bước qua cây cầu dừa là hai cha con lội ngay xuống ruộng. Tất tả nhổ cỏ. Dặm lúa . Có khi ba lên rẫy xới đất. Tôi dăm khoai. .. Những buổi trưa , ăn cơm xong, khi tôi chập chờn ngủ dưới bóng trâm bầu, bóng nón lá của ba tôi lấp loáng trên đồng vắng. Ba đi ngoéo cua, mò ốc, tát đìa bắt cá lo cho bữa cơm chiều. Xong việc trên đồng, ghé rẫy đào khoai, bẻ bắp. Những hôm thảng tiếng súng, ba tôi về nhà lấy thêm gạo, hốt ổ trứng gà, hái ít trái cây. Cư thế, mỗi ngày, sáng đi, khi mặt trời chưa ló dạng. Chiều về, chạng vạng mới đến chòi, tay xách nách mang. Chưa thấy người, tiếng ba đã gọi vang. Ba điểm danh các em tôi, trao quà tận tay từng đứa một. Quà của ba tôi toàn là “cây nhà lá vườn” . Trái ổi , trái mận, khúc mía có khi là mấy chùm trái mua chín bẻ vội trên đường về. Nhìn các con hớn hở mừng vui, đôi mắt ba tôi hấp hái. Mỉm cười. Cha con quây quần bên mâm cơm nghi ngút khói. Ôi! Những bữa cơm tản cư giữa đồng không mông quạnh, không thể nào tôi quên.
Tôi nhớ từng đêm, ba thức canh chừng cho chúng tôi ngủ, thấp thỏm lo pháo bầy nổ chụp ra đồng. Một lần, tôi thấy ba trở dậy, đẩy nhẹ liếp cửa. Tôi rón rén theo sau. Hai cha con sóng bước trên con đường đất nhỏ. Cỏ dưới chân mát lạnh sương đêm. Trăng sáng vằng vặc. Đồng lúa phủ lớp sương khói mờ mờ. Tiếng vạt sành. Tiếng dế. Rỉ rả. Nỉ non. Đôi mắt hướng về làng Mỹ An, ba nói với tôi rằng: ”Giờ này chắc nhà mình lạnh lẽo lắm! Ba mong yên yên đôi chút. Ba đưa mấy đứa trở về nhà. Để mỗi đêm còn được đốt cây nhang cho má con”. Phải qua một vụ lúa, lúc hiệp định Paris ký kết. Mỹ rút quân. Trực thăng không còn đổ bộ trên đồng. Pháo bầy không còn dồn dập. Chúng tôi mới rời căn chòi lá, về lại vườn xưa chốn cũ .
Khi chúng tôi về nhà, bộ đội đã rút quân đi nơi khác. Mỗi lần ra thăm đồng, nhìn về hướng Tha La tôi nhớ căn chòi lá đơn sơ nhưng ấm áp tình quân dân cá nước. Tôi như thấy thấp thoáng trên con đường quê, hai bên là đồng lúa chín vàng óng ả, bóng dáng áo xanh vững chãi cõng em trai tôi xăng xái bước về phía trước.


Bài viết liên quan