Yêu xóm của tôi – Tản văn của Võ Thị Hồng Quyên

Tôi yêu lắm cái xóm nhỏ đã gắn bó với tôi suốt hai mươi năm. Tôi yêu những con người nơi đây. Tôi yêu hàng cây xanh nghiêng bóng, yêu cả con sông chảy trước sân nhà. Tôi rất may mắn khi được sinh ra trong một gia đình có rất nhiều thành viên. Đó là một đại gia đình lớn nhưng chúng tôi không sống chung với nhau. Ông bà nội tôi sinh chín người con, gồm năm người con trai và bốn người con gái. Ông bà cho mỗi người một phần đất để xây nhà sát nhau, để khi có chuyện gì còn dễ đỡ đần, giúp đỡ nhau. Chín người con rồi cũng lập gia đình và sinh ra thế hệ chúng tôi. Nói về đại gia đình của tôi thì có lẽ kể mãi cũng không hết chuyện.

Tôi nhớ những buổi sáng tinh mơ, khi tiếng gà còn chưa gáy, tôi đã nghe tiếng lách cách mở cửa và tiếng mọi người trò chuyện rôm rả với nhau. Sáng nào mọi người cũng tụ họp ở nhà ông bà để uống trà và kể cho nhau nghe những câu chuyện thường nhật. Nhà tôi còn có một “đài phát thanh” đặc biệt chuyên cập nhật những tin tức hấp dẫn trong xóm. Đó là cô Tư của tôi. Tôi thường nói đùa rằng: “Nghe cô Tư nói là khỏi cần xem thời sự luôn”. Đến bây giờ vẫn vậy, tôi vẫn thích ngồi nghe cô kể chuyện vì cảm giác lúc nào cũng vui và gần gũi.

Không chỉ buổi sáng mà đến chiều tối, sau khi dùng cơm xong, mọi người lại tụ họp với nhau. Người đi tập thể dục, người xem tin tức, rồi cuối cùng cũng ngồi lại một nhà để tám chuyện này chuyện kia. Không khí gia đình tôi lúc nào cũng rôm rả tiếng cười. Các cô, các chú ngồi nói chuyện với nhau rất tự nhiên và thân thiết. Mỗi người có công việc riêng, cuộc sống riêng, nhưng lúc nào cũng dành thời gian quan tâm nhau.

Điều tôi thích nhất ở xóm mình là văn hóa chia sẻ đồ ăn. Hễ nhà nào hôm đó nấu món gì ngon thì y như rằng các nhà còn lại đều có một phần. Khi thì dĩa gỏi gà, lúc là tô cà ri hay vài chiếc bánh vừa mới làm xong còn nóng hổi. Những điều tưởng chừng rất nhỏ như vậy lại khiến tôi cảm thấy ấm áp vô cùng. Tôi luôn nghĩ rằng những nét văn hóa dễ thương ấy rất đáng quý và tôi muốn giữ gìn nó mãi về sau. Cả khi sau này tôi có lấy chồng thì tôi vẫn tiếp tục sống với nét văn hóa như vậy.

Vào những ngày lễ giỗ hay đám tiệc, cả gia đình lại cùng nhau nấu nướng. Người lớn thường gọi đó là “làm dằn công” với nhau. Từ sáng sớm, đàn ông đã lo kê bàn ghế, dựng bạt, người đi mua đá, người chở nước ngọt. Phụ nữ thì tụm năm tụm bảy nhặt rau, cắt thịt, nêm nếm đồ ăn. Tiếng dao thớt, tiếng cười nói hòa lẫn vào nhau nghe vui như ngày hội. Đám trẻ tụi tôi thì chỉ mong được người lớn sai vặt để chạy tới chạy lui, cảm giác như mình cũng đã trở thành người lớn thật rồi.

Tôi nhớ nhất là những buổi chiều cả đám con nít trong xóm tụ lại chơi trước sân nhà ông bà. Đứa chơi trốn tìm, đứa nhảy dây, đứa bắn bi. Có hôm chơi tới tối mịt, bị gọi tên muốn khản cả cổ mới chịu chạy về tắm rửa rồi ăn cơm. Hồi đó làm gì có điện thoại thông minh như bây giờ. Niềm vui đơn giản lắm, chỉ cần vài đứa bạn thân và một khoảng sân rộng là đã có thể cười đùa suốt cả ngày.

Con sông trước nhà tôi cũng là một phần tuổi thơ không thể thiếu. Mỗi chiều nước lớn, tôi lại rủ cả đám trong xóm ra tắm sông. Chúng tôi leo lên cây hái xoài, vừa ngâm mình dưới nước vừa ăn ngon lành rồi cười vang cả một khúc sông. Người lớn thì giặt đồ, rửa rau ngoài mé sông. Trẻ con thì nghịch nước, tạt nhau ướt hết cả người. Đến mùa mưa, nước sông đục hơn nhưng cá lại nhiều hơn trước. Mấy chú, mấy bác trong nhà thường đem lưới ra giăng, có hôm bắt được cả thau cá tươi rói.

Tôi lớn lên bằng tiếng ghe máy chạy ngoài sông mỗi sáng, bằng mùi khói bếp trong những chiều mưa và bằng tiếng gọi nhau í ới của hàng xóm láng giềng. Ở xóm tôi, chuyện “tối lửa tắt đèn có nhau” không phải là câu nói cho hay, mà đã trở thành điều tự nhiên từ rất lâu rồi. Nhà ai có chuyện gì thì cả xóm đều biết để cùng nhau phụ giúp. Người bệnh thì có người nấu cháo mang sang. Nhà có đám tiệc thì mọi người tự qua phụ chứ không cần phải nhờ. Có khi chỉ cần nghe tiếng gọi lớn ngoài sân là biết nhà bên cạnh đang cần giúp chuyện gì đó.

Tôi từng nghĩ nơi nào cũng giống như vậy cho đến khi lớn hơn và đi nhiều hơn. Có những nơi người ta sống cạnh nhau nhiều năm nhưng không hề biết tên nhau. Có những khu phố rất đẹp, đèn sáng lung linh nhưng cửa nhà lúc nào cũng đóng kín. Còn xóm tôi thì khác. Chỉ cần ai đi đâu xa về là cả xóm biết. Chỉ cần có tiếng xe dừng trước cửa lâu hơn bình thường là đã có người bước ra hỏi han. Có lẽ vì vậy mà tôi luôn cảm thấy nơi mình lớn lên thật đặc biệt.

Thời gian trôi nhanh thật nhanh. Những đứa trẻ ngày nào giờ cũng đã lớn. Có người đi học xa, có người lên thành phố làm việc, có người lập gia đình rồi chuyển đi nơi khác. Xóm nhỏ cũng bắt đầu thay đổi. Những con đường đất ngày xưa giờ đã được đổ bê tông sạch sẽ hơn. Những căn nhà cũ cũng được sửa sang khang trang hơn trước. Người ta mua thêm xe hơi, sắm thêm nhiều đồ hiện đại. Nhưng đôi lúc tôi vẫn nhớ cái cảm giác ngày xưa hơn.

Nhớ những hôm mất điện, cả xóm mang ghế ra ngồi trước sân hóng mát. Người lớn kể chuyện đời xưa, trẻ con ngồi nghe rồi cười khúc khích. Nhớ tiếng quạt mo phe phẩy trong đêm nóng. Nhớ cả tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái tôn của những ngày tháng cũ.

Bây giờ mọi thứ tiện nghi hơn, nhưng hình như ai cũng bận rộn hơn trước. Có những bữa cơm thiếu vài người vì còn đi làm chưa về kịp. Có những buổi tối cửa nhà đóng sớm hơn ngày xưa. Tôi sợ một ngày nào đó những thói quen đẹp của xóm mình sẽ dần biến mất theo nhịp sống hiện đại. Tôi sợ rồi sẽ không còn cảnh chia nhau từng dĩa thức ăn nóng hổi, không còn những buổi sáng ngồi tụm lại uống trà hay những ngày giỗ đám mà cả họ quây quần đông đủ.

Nhưng rồi tôi lại thấy mình thật may mắn vì ít nhất tôi đã từng được sống trong những ngày tháng đẹp như vậy. Có người lớn lên giữa những tòa nhà cao tầng và ánh đèn phố thị. Còn tôi lớn lên bằng tiếng cười của đại gia đình, bằng tình làng nghĩa xóm và bằng con sông trước nhà chảy suốt tuổi thơ mình.

À đúng rồi, tuổi thơ của tôi còn gắn liền với cô em họ nhỏ hơn tôi một tuổi. Hai đứa lớn lên cùng nhau, chơi chung, bị la chung, đánh chung rồi cũng chia nhau đủ thứ chuyện vui buồn. Hai đứa cũng xa nhà nhưng vẫn thường nhắc nhau là: “Ê, về quê thì nhớ rủ nha mày”. Chỉ một câu nói đơn giản thôi nhưng lúc nào cũng khiến tôi thấy thương cái xóm nhỏ này nhiều hơn.

Có thể sau này tôi sẽ đi nhiều nơi, gặp nhiều người và sống ở những thành phố hiện đại hơn. Nhưng tôi tin sẽ không nơi nào cho tôi cảm giác bình yên như cái xóm nhỏ này. Nơi có ông bà ngồi uống trà mỗi sáng. Nơi có cô Tư với “bản tin thời sự” không bao giờ hết chuyện. Nơi có mùi đồ ăn thơm lan từ nhà này sang nhà khác. Và cũng là nơi mà chỉ cần mở cửa bước ra sân, tôi đã nghe tiếng người quen gọi tên mình.

Đối với nhiều người, phố phường có thể là những con đường đông đúc hay những khu đô thị nhộn nhịp. Còn với tôi, phố phường đẹp nhất chính là cái xóm nhỏ đầy tiếng cười này. Một nơi bình thường thôi nhưng chứa cả tuổi thơ, gia đình và những điều tử tế mà tôi luôn muốn mang theo suốt cuộc đời.

 

Võ Thị Hồng Quyên