
Những ngày cuối đời, nội tôi nằm bất động một chỗ, hai chân teo cứng, môi mấp máy, lưỡi cứng đờ, nước mắt chảy lăn trên má. Chúng tôi nín thở trong căn phòng im ắng, kim giây nhích từng sát na. Mạch đập nội yếu dần yếu dần cho đến khi đôi bàn tay nhăn nheo lạnh ngắt. Ngọn đèn sáp hắt vào khuôn mặt khô gầy, đen xạm, cằn cỗi và tròng mắt trắng đục. Cha tôi run run đưa tay lên vuốt mắt nội, hai con ngươi mở trừng trừng. Tôi ra phòng thờ, thắp nhang khấn nguyện “Nội ơi, con sẽ đem tro của người rải một phần ở Hòn Ông.” Khấn xong tôi lấy hết can đảm thế nhiệm vụ cho cha. Đôi mắt nhắm nghiền như đang trong giấc ngủ trưa dài. Cả nhà thở phào nhẹ nhõm, lục đục gọi điện báo tang, mời Thầy đến cúng lễ.
Sau thất đầu tiên của nội, tôi mới định hình được nỗi lo lắng của mình, “Hòn Ông của nội ở đâu?” Tôi đi đâu tìm Hòn Ông để rải tro nội bây giờ?
Tôi ghép lại những mảnh kí ức khi mờ khi tỏ của nội.
Hòn Ông tầm chục nóc nhà. Đa phần dân gốc sống từ bao đời nay. Dân Hòn Ông không cần đi đánh cá. Cá tự tìm đến. Những khi sóng lớn, cá dạt đầy bờ biển.
Năm đó, sóng lớn, Ông Cậu thác vào hòn. Dân hòn rước xác Ông về thờ, lập nên Vạn Thủy Dương. Mới đầu Vạn Thủy Dương chỉ là mấy hòn đá đắp tạm thờ xương Ông Cậu. Có một lần bão lớn, biển động mạnh, mấy chiếc thuyền ra khơi chỉ có thuyền khấn Ông ở Vạn Thủy Dương trúng cá, vượt sóng an toàn. Tiếng đồn Vạn Thủy Dương linh thiêng lan truyền. Từ đó, vạn chài ra khơi thường xin ghé Hòn Ông thắp hương cầu an. Sau những chuyến cá đầy ắp, thuyền ghé hòn tạ lễ. Từ mấy hòn đá, nay dinh Vạn Thủy Dương được xây đắp khang trang, cột tường sơn son, thếp vàng. Ngày ngày có người lau lư, quét mạng nhện. Thềm ở Vạn Thủy Dương láng bóng, không một hạt bụi.
Dân Hòn Ông cả đời sống ở đây là để canh Vạn Thủy Dương. Đi vòng hòn, tuyền người già trên sáu mươi tuổi. Sóng đánh dạt vào Hòn Ông nhiều thứ. Bù lại cũng mang nhiều thứ ở hòn cũng xuôi dòng ra biển mênh mông. Thanh niên trưởng thành, đủ sức là vươn ra khơi. Thảng hoặc, có người trở về.
Trên Hòn Ông có độc một cái giếng. Dân Hòn Ông mong thuyền chở nước ngọt hơn tất thảy. Cá khô phơi ở hòn chất đống đổi lấy những can nước ngọt. Nghe những câu chuyện thời xa xưa còn kể lại trên hòn, mấy cụ tổ chở từng ghe đất ra bồi vào mấy bãi đá. Dần dần mới có đất trồng cây xanh. Chuyện đào giếng thì không thấy ghi lại.
Không phải bất cứ dạt vào Hòn Ông đều là xác. Một buổi sáng giông bão. Một đứa trẻ sơ sinh dạt vào Hòn Ông. Đứa trẻ đỏ hỏn tím tái. Áp vào tim nghe được mạch đập. Năm, tháng, ngày, giờ dân Hòn Ông nhặt được đứa bé được viết lại đầy đủ. Tên đứa bé trên sổ vẻn vẹn ghi một chữ Sa.
Dân Hòn Ông tin Sa được Ông Cậu gởi gắm. Hai vợ chồng câm nằng nặc đòi ôm đứa bé đỏ hỏn. Hai vợ chồng hiếm muộn, gần sáu mươi chưa có mụn con. Thấy đứa trẻ lạc trôi thì biết đích thị Ông Cậu cho, vội vàng khấn lạy, ôm lấy đứa bé. Ba mẹ hờ giữ khư khư đứa bé trong nhà. Đến khi lên sáu, đứa trẻ con chạy nghịch ra khỏi nhà thì dân hòn phát hiện ra đứa bé bị câm. Đó không phải là câm bẩm sinh. Ba mẹ hờ trước giờ có nói với Sa tiếng nào đâu mà bé biết nói. Sa gặp ai cũng nở miệng cười toe toét. Mấy ông bà cụ bập bẹ dạy bé con tập nói. Nhưng dường như đã muộn rồi. Sa chỉ biết cười. Nụ cười tươi rói không phát ra một thinh âm.
Nước giếng ở Hòn Ông chỉ đủ để uống chứ không đủ để tắm. Tắm lâu ở nước giếng Hòn Ông thì da dẻ hồng hào trắng trẻo. Thiếu nữ Hòn Ông khát tắm nước giếng hơn bất kì thứ gì. Tắm bằng nước giếng ở Hòn Ông là một cái tội. Ai tắm ở giếng Hòn Ông thì sẽ bị trục xuất ra khỏi hòn mãi mãi. Trên Hòn Ông có rất nhiều lệ. Nếu không tuân đúng theo sẽ bị phạt. Điều này ghi rõ ràng trong sổ đặt trên hương án Vạn Thủy Dương. Không sống ở trên hòn nữa thì hiển nhiên không cần tuân theo, không cần biết đến. Đông qua, thu lại, dân ở hòn ngày một ít đi.
Làn da của Sa trắng bóc chứ không mang màu rám nắng đặc trưng. Những người già trên hòn biết vợ chồng lão câm đã lấy nước giếng tắm cho đứa bé sơ sinh từ lúc chào đời đến giờ. Họ nhịn phần nước uống giếng của họ để dành hết cho Sa. Làn da của Sa tiết lộ tất cả. Ai cũng biết nhưng không ai nói. Sa là một trường hợp ngoại lệ nghiễm nhiên ở trên hòn. Sa là con gái Ông Cậu.
Những thuyền đến khấn ở Vạn Thủy Dương neo ở rất xa hòn. Duy một người bơi vào hòn thắp nhang khấn cầu rồi bơi ra thuyền đi. Người được cử bơi vào hòn ngoài sức khỏe và dẻo dai còn phải kiêng dục trước bảy ngày. Đã từng có vạn chài khinh dễ lệ của Vạn Thủy Dương. Bơi được nửa đường ra khỏi hòn thì bị chuột rút. Trưởng thuyền không dám ra khơi. Sau làm lễ tạ thì mới dám giong buồm lại. Ông Cậu biết hết. Dễ gì lừa được Ông Cậu.
Mùa biển động, đứng ở Hòn Ông nhìn ra xa, bầu trời đen cuồn cuộn, sóng gió mịt mù. Bao đời nay, mặc cho gió lớn bão mạnh, thuyền đắm, trên Hòn Ông mọi thứ rất bình lặng, yên ả. Hương đèn ở Vạn Thủy Dương vẫn sáng mỗi đêm thì đời đời dân ở Hòn Ông bình yên ở trong cơn giông bão. Người dân Hòn Ông khấn Đức Ông không phải cầu gì cho bản thân, mà là cầu an cho những sinh linh bị sóng đánh thác thân dưới biển sâu và cho những vạn chài lênh đênh trên biển cả mênh mông.
Trên Hòn Ông có một cái vịnh xinh đẹp, nước trong xanh phẳng lờ. Hai vợ chồng lão câm hay bồng Sa ra chơi ngoài vịnh. Bữa đó lỡ tay, vợ lão câm làm trật đứa bé xuống nước. Lạ kì đứa nhỏ không chìm. Con gái Ông Cậu đúng là khác biệt. Kể từ đó hai vợ chồng cứ thả đứa bé trên vịnh. Bé Sa tự do nằm chơi đùa, thả trôi bồng bềnh nhẹ tênh trên mặt nước.
Sa dường như có thể nói chuyện với những con sóng ngoài biển khơi. Mỗi lần cô đến vịnh chơi, những đàn cá quay quần đùa giỡn xung quanh. Cô đưa tai lên lắng nghe những con sóng vỗ bờ, thích thú nở nụ cười trong veo.
Đến tuổi trăng rằm, mái tóc Sa dài mượt. Làn da trắng muốt. Năm đó trên hòn gặp biến động lớn. Long thần nổi giận chuyện chi mà biển động rất mạnh. Sấm chớp từng cơn xé rách bầu trời. Khi trời sáng, người dân hòn kinh hãi thấy mặt biển lềnh bềnh xác thuyền, xác người. Chưa năm nào xác dạt vào nhiều đến thế. Xác thối tanh nồng nặc. Bảy ngày bảy đêm dân Hòn Ông thanh tẩy cho hòn đến kiệt sức. Mùi tanh nồng ám trên từng bãi đá, bãi cát. Những cơn sóng không thể mang mùi này ra khỏi hòn. Uế trược đi vào từng hơi thở của người dân trong hòn. Cơ thể người dân nổi mẩn đỏ, ghẻ ngứa. Gãi đến mức cả cơ thể lở loét. Đúng là Ông Cậu đang phạt dân trong hòn. Trưởng hòn lo lắng dò xét xem mình có phạm chuyện chi không mà Ông Cậu phạt.
Thì ra cháu của trưởng hòn chơi dại, đái bậy ngay lư đồng trong dinh Vạn Thủy Dương. Chuyện này mà truyền ra là nhục cả họ. Dân hòn oán than. Tội này phạt tính đến ba đời. Trưởng một mình lụm khụm lau cái lư đống sáng bóng cho đến dứt mùi khai. Ngoài trưởng ra, không ai biết việc này nên dễ dàng giấu nhẹm. Chỉ khổ nổi, nhắm mắt xem như không biết thì Ông Cậu quở, họa này dân cả hòn gánh. Đêm đó trưởng âm thầm trục gia đình cháu họ ra khỏi hòn, với lời thề từ nay không bao giờ quay lại. Kể ra đó cũng là hình phạt thích đáng. Chuyện này, trưởng giữ kín. Những bí mật chưa chắc là trong quyển sổ ở Vạn Thủy Dương mà ở trong bụng các trưởng.
Cháu thì đã đuổi đi rồi. Nhưng cái họa trước mắt và lâu dài thì tính sao? Trưởng thở dài trăn trở. “Phải rồi, phải làm lễ tẩy trần. Phải tẩy đi những tội lỗi mà dân hòn bao đời nay vô tình gây nên.”
Từ xưa đến nay Hòn Ông chưa tổ chức lễ tẩy trần lần nào cũng do một lẽ. Tế phẩm dâng lên lễ tẩy trần là một cô gái nguyện giữ tịnh. Trước giờ không có một cô gái nào chịu gánh trách nhiệm này. Giờ thì có con gái Ông Cậu. Trưởng gật gù, bản thân Sa chắc chắn trong veo và thuần khiết. Sa lại chẳng bao giờ có ý kiến gì. Trưởng và dân hòn nói sao thì Sa cũng chỉ cười chứ không chống đối. Không còn ai phù hợp hơn với vai trò này. Có điều phải canh giữ cẩn thận.
Trưởng hòn tìm đến nhà với vợ chồng câm.
“Trước giờ Sa tắm nước giếng Hòn Ông. Cả hòn ai cũng biết nhưng không phạt. Vì một lẽ trước giờ tắm giếng thì là tịnh. Sẽ là tế phẩm trong lễ tẩy trần. Từ giờ cô Sa sẽ là Cô của hòn. Không còn là con của hai người nữa.”
Hai vợ chồng câm vẫn câm lặng như trước giờ. Sa nhẻo miệng cười chào trưởng hòn.
Để chuẩn bị cho lễ tẩy trần, cờ trên dinh được giặt lại. Rượu được nấu để tắm rửa. Cả hòn những ngày ấy mùi rượu phảng phất làm những chú chim biển tận trên cao cũng mê hương rượu, tự lảo đảo xuống bãi biển Hòn Ông. Chim bay đến là điềm lành. Xem ra Ông Cậu ủng hộ lễ tẩy trần.
Sa cười khi khoác lên mình một chiếc áo mới sặc sỡ. Sa cười khi thấy dân hòn khiêng kiệu cô. Sa cười khi thấy dân trong hòn quỳ xuống lạy cô. Sa cười khi thấy người trong hòn vảy rượu lên cô.
Sau khi tắm bằng rượu thì tự nhiên dân trên hòn lành ghẻ lở. Dân hòn tin cậy vào lời trưởng hòn. “Làm lễ tẩy trần xong tự nhiên qua khỏi kiếp nạn.” Nhưng cuộc sống của Sa thì có thay đổi lớn. Hàng ngày dân chực chờ canh giữ cô. Phải giữ cho cô tịnh. Còn Sa vẫn thản nhiên tự do thả bồng bềnh trên mặt nước trong veo như trước. Làn nước trong phô ra làn da trắng nõn và những nét cong mềm mại.
Mỗi lần chân cô bước đến đâu là có những ánh mắt tò mò nhìn đến đó. Gót chân của cô có nhẹ đến mấy nhưng dân hòn vẫn biết Sa ở đâu. Đêm khuya yên ắng ngoài vịnh vẫn có ánh mắt tò mò theo dõi Sa bồng bềnh trên mặt nước vịnh, trăng tan trên gò bồng đảo trắng mềm.
Hai vợ chồng lão câm, im lặng theo dõi những ánh mắt tò mò, những đầu ngón tay vọc lún xuống cát sâu, rỉ máu. Những ngày sau, dân hòn không thấy hai vợ chồng câm nữa. Họ biến mất trong im lặng như bao năm nay họ tồn tại trên hòn này. Lần đầu tiên dân hòn không thấy Sa cười. Cô thất thểu, nét mặt ngây dại, quằn quại trên bãi cát, từ chối ra vịnh thả trôi bồng bềnh trên mặt nước.
Hôm đó sương trắng phủ quanh hòn. Mênh mông trắng xóa. Đôi chân Sa như trôi trong màn sương. Cô mơ màng không biết được đâu là sương đâu là mênh mông biển cả. Cô tan mình trong sương đến khi kịp nhận ra trong sương là mặt nước mênh mông. Những ánh mắt tò mò không phân biệt được làn da trắng của cô và sương nên không kịp giữ cô lại. Đó là lần đầu tiên trong đời người ta bảo cô chìm.
Dân hòn truyền Ông Cậu đã đến đón Sa. Lạ kì nữa là từ ngày Sa tan trong sương. Lâu lâu đến ngày trăng tròn, trong vịnh lại có tiếng hát trong trẻo. Dân Hòn đồn đó là tiếng hát của Sa, con gái Ông Cậu. Tiếng hát chẳng có chút gì oán thán, hờn trách.
Dân Hòn Ông gom cát đổ khuôn, đúc bức tượng con gái Ông Cậu, nhưng đúc mãi mà không thành hình. Tất cả dân hòn đều nhớ đến nụ cười trong veo của Sa, nhưng chẳng ai có thể tạc được y đúc. Tượng lên cứ không giống, ngày hôm sau cát nung lại cứ chảy đi. Tượng cô mãi không đúc được. Thôi thì ý cô, sống không muốn người khác tôn thờ thì thác cũng muốn được lãng quên.
Mỗi lần nghĩ đến con gái Ông Cậu, trưởng lại ứa nước mắt. Nụ cười trong veo của Sa lại hiện về. Trưởng đến Dinh Vạn Thủy Dương lạy cho đến chảy máu đầu. Từ nay sẽ chẳng còn ai đứng ra lãnh thay những cái tội mà dân hòn đã trót gây ra.
Ngày nhỏ nội hay ra đứng trên tảng đá Bạc nhìn ra biển cả, nhìn ra bầu trời và những con thuyền xa xôi ngoài khơi xa. Ở tảng đá Bạc, nội chứng kiến tất thảy vui buồn trên hòn.
Sau khi Ông Cậu đón Sa đi. Dân hòn tự nhiên lại sợ tội. Nội tôi trốn khỏi hòn. Nội lặn ngụp trên biển tưởng chừng đã chết đi nhưng may là con gái Ông Cậu đưa dạt lên bờ xa xôi. Sau khi lên bờ, nhìn thấy nước mênh mông là nội hoảng nên người đã trốn chạy cách biển rất xa. Từ đó không còn nếm vị mặn và mùi cá tanh. Dẫu không còn làm gì liên quan đến biển cả nhưng bao lần thoát chết, nội thấy Ông Cậu đỡ cho mình. “Đã từng là dân Hòn Ông, thì đi đến đâu, làm nghề gì Ông Cậu vẫn phù hộ.”
Những kỉ vật của nội tôi còn giữ lại là một cái chén cổ uống nước. Cái chén này nội bảo nội trộm khi rời Hòn Ông. Tôi lấy cái chén đó đổ nước vào rồi thắp vào ngày cúng thất thứ hai của nội.
Đêm đó tôi mơ một giấc mơ lạ. Tôi thấy mình đứng trên hòn đá Bạc, nằm dài cùng nội tôi nghe tiếng con gái Cậu Ông. Kí ức của nội giờ lại ở trong tôi, sống động vô cùng. Gốc của nội là Hòn Ông. Nơi đầu tiên nội quỳ lạy khấn nguyện là Vạn Thủy Dương. Trong máu của tôi có một phần biển cả. Tôi phải ra biển. Tôi phải tìm Hòn Ông. Tôi phải tìm tảng đá Bạc nơi ông ngồi ở đó đón hoàng hôn và bình minh, tôi phải cúi lạy con gái Ông Cậu.
Tôi đi theo những mảnh ghép kí ức vụn của nội lang thang khắp các làng chài, các bãi biển, đảo, hòn lớn nhỏ trải dài từ Bắc tới Nam, từ Đông sang Tây. Không nơi nào trùng khớp với những gì nội tôi kể. Vạn chài nào cũng có nét đượm buồn và cũ kĩ. Dân vạn chài tôi qua đều lắc đầu trả lời không biết khi tôi hỏi về Vạn Thủy Dương và Hòn Ông. Tất cả nhìn tôi bằng ánh mắt hiếu kì và tò mò, đôi khi có phần xa lạ. Dẫu vậy, càng đi ra biển qua các làng chài tôi càng thấy mình có một kết nối với biển cả.
Bốn chín ngày của nội tôi về thắp nhang, nhìn di ảnh của người, lòng tôi lại không yên. Ánh mắt cha tôi ngày càng mờ đục. Trên Hòn Ông có sổ ghi ngày tháng năm nội tôi sinh ra. Chúng tôi không được quên gốc gác của chính mình.
Tôi lại vác ba lô đi tìm tiếng hát con gái Ông Cậu. Chuyến này, tôi bôn ba dò hỏi các vị nghiên cứu các dinh vạn. “Vạn Thủy Dương à?” Họ lấy những quyển sách dày thật dày hoặc những quyển sách cũ kĩ hoen ố, những dòng chữ cổ tôi không hiểu gì cả. Nhưng tất cả đều có cùng một câu trả lời cho tôi. Không có tên Vạn Thủy Dương trong bất kì sắc phong nào ở triều đình thời trước. Không có bất cứ tài liệu nào liên quan đến Vạn Thủy Dương. Lẽ nào ông tôi lại nhớ sai tên? Thêm lần nữa tôi mất phương hướng.
“Nội ơi, con biết đi đâu mà tìm Hòn Ông cho người?”
Lênh đênh trên biển cả cũng giúp tôi biết nhiều câu chuyện. Không phải tất cả nơi nào cũng có trong bản đồ, không phải mọi thứ đều được ghi chép trên giấy tờ. Nhưng lạ là chuyến này tôi lại thấy những vạn chài, những hòn tôi qua lại có những nét tương đồng với Hòn Ông, đó là niềm tin thủy chung với Ông Cậu. Có lẽ chỉ bằng niềm tin đó họ mới đối diện với sóng gió, bão bùng quanh năm như vậy.
Trong một lần lênh đênh trên một con thuyền nhỏ. Tôi nghe tin đồn về tiếng hát trong trẻo ở ngoài biển khơi. Từ trước đến nay chưa nghe tiếng hát đó bao giờ. Tiếng hát trong lắm khiến dân chài ngẩn ngơ quên mất việc đánh cá. Người đi biển đồn rằng đó là tiếng hát con gái Ông Cậu. Tôi có một dự cảm quen thuộc. Phải chăng đó là tiếng hát mà nội tôi từng lắng nghe ở trên tảng đá Bạc. Tôi hỏi dân vạn chài tiếng hát xuất phát từ đâu thì không có một ai trả lời tôi. Tiếng hát ấy có thể ở bất cứ nơi nào trên biển cả mênh mông này.
Tôi nhảy thuyền khắp nơi. Có một lần khi bão sóng lớn. Toàn bộ thuyền của tôi bị đắm chìm. Tôi ngụp lặn trong nước không có gì bấu víu. Tôi thấy trước mặt tôi là bóng tối đen kịt. Khi tỉnh dậy thì đã ở trong một nhà vạn chài. Con gái Ông Cậu đã cứu tôi. Tôi tin là như vậy. Trong giấc mơ tôi còn lờ mờ thấy khuôn mặt nàng. Khi ngụp lặn trên cơn sóng tôi cũng thấy ông tôi, ông vẫy tôi lại gần rồi lại đuổi tôi đi xa.
Sau vài lần ngụp lặn ở biên khơi chết đi sống lại. Da tôi sặm đen, lưỡi tôi mặn vị muối và linh hồn tôi hòa với những cơn sóng vỗ. Tôi nhìn quanh nhận ra bất kì đảo nào trên biển này cũng là Hòn Ông trong tâm trí của nội. Một Hòn Ông tươi đẹp mà nội luôn hằng mong tưởng về dù cho đối diện với bao trắc trở và khắt nghiệt ở biển khơi. Tôi mang nắm tro ra rải ở biển cả mênh mông này. Biển không biên giới sẽ xuôi hồn ông tôi về Hòn Ông, canh giữ Vạn Thủy Dương và ngày ngày nghe tiếng hát của con ông Cậu. Nắm tro nhanh chóng hòa vào biển cả, từ giờ trở đi, những trăn trở những hối tiếc của nội sẽ tan biến vào hư không. Còn tôi sẽ vẫn rong ruổi trên những cuộc hành trình của riêng mình.
Tôi quay về nhà, mang những câu chuyện biển cả về kể với cha tôi.
“Có con gái Ông Cậu thật cha à. Tiếng hát cô ấy trong trẻo lắm. Có nhiều vạn chài đã từng nghe được tiếng hát. ”
Cha như mọi khi im lặng nghe tôi kể và nhìn ánh mắt háo hức của tôi. Ông chưa bao giờ dặn tôi cẩn thận mặc dù ông hay lo về những cơn sóng lớn. Ông cũng như tôi tin rằng bản thân tôi sẽ được Ông Cậu bảo vệ.
Nhưng có một chuyện tôi giấu cha mà không kể.
Chuyện về một hòn đảo bị ghẻ lạnh trên biển khơi xa xăm. Nơi đó từng là nơi giam cầm những người phong hủi. Chẳng vạn chài nào dám đến gần hòn vì ớn lạnh căn bệnh lây lan. Lâu lâu một vài thuyền thả trôi những đồ thực phẩm cho dân trong hòn bơi ra nhặt về. Lâu lâu có những người ngụp lặn bơi trên biển cả mênh mông hòng trốn thoát khỏi hòn. Thuyền lảng vảng gần đó không dám cho người trong hòn lên vì sợ truyền nhiễm bệnh. Không ai biết những khuôn mặt người ở đó như thế nào, không ai biết trên hòn thật sự có bao nhiêu người và liệu có còn ai tồn tại trên đó không? Không ai biết chuyện về hòn hủi cô lập ở đó, thậm chí họ còn cho rằng nhắc đến tên hòn hủi như là một vận xui rủi.
Những người con thế hệ sau của những người bị phong thì vẫn mắc chứng di truyền. Cẳng chân sẽ bị ngứa, đóng vảy nến trắng như cha tôi và tôi. Nhưng từ lúc tôi ngâm mình dưới vị mặn của biển cả thì làn da chân của tôi đã lành lặn hơn trước. Mỗi lần từ biển về tôi hay mang cho cha nước biển. Mỗi lần ngâm xong, chân da tôi hồng hào và lành lặn, bớt ngứa ngáy hơn trước. Mấy tháng đi biển mà dường như chứng phong da trên chân tôi gần biến mất. Cha tôi bảo chắc là do có nội, có Ông Cậu phù hộ mà tôi dứt căn bệnh nan y mà tôi che giấu từ nhỏ đến giờ. Cha vẫn nhớ ngày còn nhỏ tôi ngứa ngáy khó chịu mà cắn răng không dám gãi sợ bạn bè chê cười xa tránh. Tôi bảo cha, tôi sẽ dẫn ông ra biển và ngâm chân xuống biển lâu ngày thì sẽ trị dứt căn bệnh phong di truyền, nhưng ông chỉ mỉm cười im lặng. Chân ông quá yếu để đi đâu xa. Cha căn dặn sau này cha mất thì cũng hãy cứ thả tro cha xuôi về Hòn Ông.


Bài viết liên quan