
Trong số những người làm cho vườn đồi của nhà, Phong ít khi nhớ được từng người họ hàng thế nào nhưng bác Thích thì hắn nhớ. Những người khác gặp hắn về đều chào em, chào anh, chú hay cháu, với vẻ vì nể và đều giữ ý không quá thân mật. Chỉ mỗi bác Thích cứ mày tao, có lúc còn lấy quyền bác răn dạy thằng cháu sắp tốt nghiệp đại học. Phong không thích “màu” này nhưng hắn là đứa biết cư xử phải phép.
Bác Thích xách chiếc xô đi qua sân đến thẳng chiếc ghế đá dưới gốc cây lộc vừng thằng cháu đang ngồi hỏi bố có nhà không.
-Bố cháu công tác ba ngày nữa mới về. Còn mẹ cháu đi mua hàng.
Hắn đáp và tiếp tục xem lại đoạn phim phóng sự đang phát dở. Bác Thích cũng tò mò ghé xem. Đột nhiên bác quát to “Tắt ngay!”.
Phong bấm nút dừng, không hiểu vì sao nhưng hắn ko hỏi, chỉ ngồi im nhẫn nhịn.
Bác Thích ngồi phịch xuống sân dưới gốc lộc vừng. Phong ôm chiếc laptop định đứng lên đi vào nhà thì bác nói “Bác xin lỗi”.
-Có gì đâu bác- hắn nói.
Nhưng bác Thích đã nói tiếp không cho hắn đi. Nó điêu toa quá làm tao không chịu được. Tổ sư. Thợ dưới hầm lò mà quần áo mặt mũi thằng nào cũng sạch sẽ sáng sủa như diễn viên, cười như đang được chụp ảnh. Lại còn “Chúng tôi khai thác than không phải vì tiền lương, mà để góp phần xây dựng đất nước”. Lại còn bá vai nhau ngồi hát dưới lò. Tổ sư. Thở còn chả ra hơi sức đâu nữa mà hát. Có vặc nhau chửi nhau thì có chứ hát.
Phong không khó chịu nữa mà buồn cười. Ông bác không hiểu đây là một tác phẩm báo chí. Ông ấy không biết phim phóng sự thì cũng phải có kịch bản, có đạo diễn.
-May cho chúng nó xuống mỏ ấy gặp mấy thằng thợ trẻ ranh nó thích đùa. Gặp tao tao đập mẹ máy. Mà làm thế nào nó xuống đấy quay được nhỉ? Lúc sắp về hưu “mình” rất muốn chụp vài cảnh anh em dưới lò làm kỉ niệm mà có được đâu? Thuốc lá thuốc lào còn bị cấm tiệt nữa là điện thoại.
-Ô, thế bác làm thợ lò rồi ạ?
-Tao, hai mươi bốn năm chứ mày tưởng à.
*
-Mày muốn biết gì? Lò Đá, Lò Chợ bác làm qua hết rồi. Mày phải hỏi tao đây này, chứ nhà báo chúng mày mỗi lần đi với lãnh đạo xuống lò lại phải có người dẫn đi. Đi đường nào thì chúng tao đã được báo trước để dọn đường. Một viên đá bằng ngón chân cũng phải nhặt cho bằng sạch để khỏi đau chân chúng mày. Nói vậy là mày biết chức phận tao làm gì rồi. Chức vụ cao nhất của tao trong hai bốn năm làm thợ là chức ca trưởng. Trưởng thì cũng vẫn là kiến thợ thôi. Chỉ hơn thợ cái quyền nếu thích thằng nào thì cho nó chỗ vị trí đèm đẹp dễ thở hơn tí. Ghét thằng nào thì nhét nó vào chỗ tối tăm, áp lực lớn, thường xuyên phải cúi người, đại khái vậy, đó là chuyện tao đã trải qua. Nhưng là với những thằng ca trưởng có uy. Còn tao…
-Dạ thôi bác, cháu không cần biết những chuyện ấy.
-Vậy muốn biết gì? Chuyện múa hát nhá? Múa hát là đi ấy ấy, gọi vậy cho nó lãng mạn. Múa là công nghiệp nặng, hát là công nghiệp nhẹ.
-Dạ thôi thôi…
-Sao lại thôi. Phải biết để khi xuống lò viết bài còn biết đường. Nếu đang dưới lò mà có nhu cầu đi múa thì cứ ngồi trên bờ mương nước mà giải quyết, ai đi qua đi lại mặc, không được xấu hổ. Thợ trẻ có đứa xấu hổ không chịu nghe bọn cựu binh già, cứ lủi lủi đi vào những đường lò đã khai thác xong ngồi cho kín đáo. Những đường lò ấy không còn được thông gió, tích tụ toàn khí độc. Bọn khí này nó vô hình nhưng lại có trọng lượng, người ta nói nó nặng không thoát lên cao được. Mùi nó cũng nặng. Vào đấy nếu nghe thoảng có mùi trứng thối là phải chạy ra ngay. Chậm vài giây ngất xỉu là coi như thôi đấy.
-Cháu đã dự một lớp đào tạo thợ trong mô hình hầm lò rồi.
-Mô hình với thực tế nó khác nhiều. Mô hình không có quạt.
Bác Thích chuyển sang giọng hồi tưởng. Buồn cười. Ngày đầu chúng tao xuống lò thực tập, nghe quạt nó gào rú như tiếng động cơ phản lực, cứ tưởng tiếng tàu điện. Đứng nép nép vào, nép vào, tàu ra đấy. Cả lũ đứng nép vào hông lò chờ mãi không thấy tàu ra. Rồi lúc một hòn đá xít bằng nắm tay rơi xuống trúng máng tóe lửa ra như đánh lửa, nó văng trúng chân hay bụng một đứa, cũng sợ xô nhau chạy. Đá xít là đá lẫn trong than. Chúng tao gọi nó là than sống, than sượng, hay đá bảy chú lùn. Bảy chú lùn ngày xưa lên núi tìm quặng có khi tìm đá xít cũng nên.
-Vâng cháu biết đá xít rồi.
-Mày thấy bác có giống đá xít không? Bọn ong nó gọi tao là đá xít, loại dở dở ương ương không phải than cũng không phải đá. Chỉ cần một tảng bằng cái xô này nó lăn xuống cũng làm máng bị quá tải, đường dây điện hồng rực lên như dây mai so bếp điện ấy, mới càng hoảng hồn. Lớ quớ là bị điện giật như chơi.
-Tàu điện bỏ rồi mà bác. Bây giờ đầu tàu chạy bằng ắcquy rồi.
-Ờ tao quên …
Ngày đầu tiên tao đi thực tập rơi vào tốp ca ba. Ca ba bắt đầu từ 22 giờ 30- Bác Thích tiếp tục hồi tưởng- Lúc đó tao mười tám tuổi, chưa thức đêm bao giờ. Trời mùa đông lạnh ngăn ngắt lại có mưa phùn. Gặp tốp thợ ca hai đang lên. Ông nào cũng đen kịt như nhọ nồi từ mặt mũi đến quần áo, bàn tay cũng đen như tay gấu. Một tay đùm túm những đèn lò, bình tự cứu, bình ắc-quy, bình nước uống, tay kia cầm áo. Rét thế mà có người cởi áo ra. Thân người cởi trần của ông ấy cũng đen kịt như mặt mũi. Các loại dây đèn dây thắt lưng lòng thòng quét đất, quần trễ xuống dưới rốn cũng chẳng buồn kéo lên. Nhìn họ đi cứ thấy xốc xếch lôi thôi.
Tới lúc mình đi làm mới biết. Xuống dưới lò mùa đông cũng nóng như mùa hè, không, mùa đông nóng hơn. Mùa hè ở trong lò cảm tưởng như ở trong bóng râm. Còn mùa đông, sờ vào gỗ, đá, sắt thép, thành lò chỗ nào cũng ướt hơi nước, giống như mồ hôi đá. Mày thấy mồ hôi đá bao giờ chưa? Mùa đông càng xuống sâu càng thấy nóng lên rõ rệt, nóng hầm hập. Nóng nhất là những vỉa xuất lộ khí nhiều. Thợ Lò Chợ, Lò Cái mồ hôi đều ướt hết áo. Cho nên đi làm phải mang theo một cái áo khô. Lúc về, ra đến gần cửa lò phải cởi áo ướt ra thay cái áo khô ấy vào vì ra bên ngoài sẽ rét như cắt. Cái áo “mồi” này thường là áo cũ tận dụng, hết mùa đông mới bỏ đi nên nó bám bẩn như chúng tao đã thấy nhóm thợ ca hai mặc lúc ấy.
Bọn trẻ con chúng tao mới đi làm lớ ngớ, việc nặng không kham được, lại phải lôi theo mấy thứ búa chém, cuốc chim, xẻng, choòng, đủ thứ dụng cụ, có đứa lại chậm hiểu, vụng chân tay, thế là bị ong chửi. Ở trong hầm người ta dễ bị nổi điên dễ bực bội. Lò đã tối, nóng, lại khói bụi, tiếng ồn, chỗ đứng lại dốc chênh vênh. Tiếng gầm rú của quạt tao đã nói rồi, nó như tiếng động cơ phản lực. Lúc ấy mới biết mình không lường hết, thực tế dưới lò không như lúc học trong mô hình.
-Tao đang nói về tốp thợ ca hai hôm ấy. Ca hai lúc cuối ca rất mệt mỏi. Thường ngày lúc gần hết ca sẽ có xe song loan chở người ca sau vào, đón người ca trước ra. Nhưng có hôm ca trước bị sự cố gì đấy khắc phục mãi không xong. Ví như dây mìn bị đứt ruột dẫn bên trong, mìn không nổ, phải lần tìm chỗ đứt, việc dở dang không xong phải chờ ca sau vào bàn giao, thế là nhỡ tàu, phải lếch thếch đi bộ có khi đến năm “cây số” đường hầm mới ra đến cửa lò. Nói lếch thếch cũng không đúng, phải là cắm đầu cắm cổ bước. Mạnh ông nào ông nấy bước hùng hục. Ra khỏi cửa lò mới lếch thếch, mới thất tha thất thểu.
Ca ba không uể oải như ca hai nhưng hay bị đói. Tuy được nghỉ bốn lăm phút giữa đêm để ăn dặm. Nhưng cứ chiến bánh mì trường kì nó khô lắm, lại bụi bặm, gió quạt mạnh nó quạt tung bụi lên hết muốn ăn. Thế là chỉ hút mỗi hộp sữa giấy có ống hút. Nhưng ngoài bánh mì ra đâu có mang theo món gì khác được.
-Tiếc nhỉ, sinh viên chúng cháu thích nhất bánh mì.
-Sao lại tiếc. Không ăn thì gói lại giấu vào hộc đồ nghề để đấy, hết ca lên mang về cho vợ con ăn, nếu gặp đồng bào đi rừng, họ muốn đổi gà rừng hay đổi măng thì đổi, hay bán cho họ kiếm thêm vài đồng.
– Dạ, thế còn…
-Khoan, từ từ hỏi. Tao đang nói về chuyện xấu hổ, không lại quên. Sách vở nói loài người hơn loài vật ở khả năng biết xấu hổ. Chúng mày học nhiều chỉ nhiều lý thuyết thôi. Ở dưới lò mà hay xấu hổ thì có mà…. Đây này, khi đeo bình ắc-quy đèn bên hông, mày đã đọc truyện Vua Quạ chưa, cái bình ắc-quy tao đeo bên hông cũng như cô công chúa đeo những coóng đựng thức ăn quanh người cô ta, y vậy. Nếu cứ ở tư thế đứng thì không sao nhưng khi cúi, ngồi, nghiêng, bò toài làm van xả bình bị hở, dung dịch axit chảy ra, nó thấm qua mông quần bich-kê, thấm vào da thịt. Không xấu hổ thì khi bắt đầu thấy rát lập tức kêu lên, ông đứng gần nghe thấy sẽ chạy lại giúp cởi nhanh quần trong quần ngoài, rồi bắc vòi của ông ấy tưới nước đái vào vết bỏng cho. Nếu ngượng thì lẳng lặng tự cởi quần áo, tự đái vào lòng bàn tay mà xoa. Còn mấy thằng thợ trẻ xấu hổ cứ cố chịu, lúc da bị dính vào quần không chịu được nữa mới thò tay ra sau mông túm quần lột, nó lột luôn cả da ra…
-Ghê quá. Sao phải nước tiểu hả bác?
– Không biết, nhưng các thế hệ vẫn truyền nhau kinh nghiệm xoa nước đái của các vị tiền bối truyền lại, cứ mặc định vậy mà làm. Mà trong buồng khấu làm gì có nước gì nữa. Mỗi ông chỉ mang theo một bình toong nước uống, lâu ngày nó móp méo dăn dúm, có khi uống còn chả đủ.
Nếu đang ở Lò Bằng, Lò Cái có thể chạy ra mương nước. Nhưng mương nước là chỗ hay đi múa hát nó ô nhiễm. Chỗ nào có mạch nước ngầm chảy mạnh tương đối sạch một tí thì mang quần ra nhúng giặt chỗ mông cho trôi axit, xong lại mặc vào. Còn chỗ mương hẹp lại thêm vỏ bạch đàn với mảnh gỗ rơi xuống ngâm dưới ấy, nước đen sì, rửa thêm nhiễm trùng, thà xoa nước đái. Nói chung thời tao làm thằng nào cũng có sẹo mông, chúng tao gọi là má lúm mông.
-Giờ thay bình khô hết rồi, bác lo gì.
-Ờ nếu vậy thì đỡ. Bình khô chắc được lâu hơn, chứ đèn sợi đốt hồi ấy chỉ được tám giờ, vừa hết ca là hết điện.
-Dạ, cho cháu hỏi thợ xén gai …
-Khoan. Để nói về Lò Đá đã. Lò Đá là “đi” trong đá, mở đường trong đá. Thợ Lò Đá là lũ kiến chuyên khoan đá, nổ mìn để mở đường vào vỉa. Phải làm đường xuyên qua đá mới tiếp cận được vỉa, gọi là đường cơ bản, để sử dụng lâu dài. Khi nổ mìn có những viên đá chỉ nhỏ bằng đầu ngón tay, bằng hạt táo, nó bắn ra mạnh đến mức nếu nó văng vào cột rồi bật nảy trở lại, không may trúng người vẫn gây tai nạn. Khi có nhà báo chúng mày xuống người ta sẽ cho dừng nổ mìn nhưng đừng có đòi. Lò Đá nóng hơn Lò Chợ. Lò Chợ có hai đầu thông gió còn Lò Đá là hầm độc đạo, đường cụt, không có đầu thông bên kia nên bụi đá không có chỗ thoát. Mày có bao giờ nhìn bụi qua tia nắng rọi lúc đang quét nhà không? Đấy, bụi đá trong đường hầm nó cũng bay lởn vởn y vậy.
Nhưng khoan đá vẫn còn nhàn, gặp đá xít mới khốn nạn. Đá xít không cứng bằng đá nhưng nó dai. Trước đây khoan bằng mũi khoan cũ của mấy nước Đông Âu, cầm nặng tay, một người khoan là được. Nhưng mũi khoan bây giờ như đám con gái ẻo lả, cầm nhẹ hều, phải ba thằng xúm nhau tì vào đá ấn đến nóng bỏng cả tay hết cả cơm mới đi được. Muốn đỡ tốn sức chỉ có cách bỏ tiền túi mua mũi khoan tốt ở ngoài.
-Ở ngoài có bán à bác?
-Có hết, có cung là có cầu. Không biết họ nhập đường nào nhưng hỏi vật tư loại nào cũng có.
Lò Đá bụi nhưng lại ướt. Đầu chiến với bụi chân chiến với nước, song kiếm hợp bích. Nước này là nước đặc sản Lò Đá, nó rỉ từ trong vỉa ra, rỏ từ nóc lò xuống. Nó chua lè, vàng khè. Cột sắt chống lò gặp nó cũng thành vàng khè. Nước rỏ mà đứt được cả đường ray là biết, đừng nói chân mình xương đồng da sắt. Thợ Lò Đá ông nào cũng thối chân.
-Vậy làm thế nào bác?
-Đường ray thì có cách phủ vật liệu lên che, nhưng thợ đứng làm phải chịu cho nước rỏ xuống người. Lúc nào nước đầy ủng nặng quá không bước được thì tháo ra dốc ngược, xà cạp cũng tháo ra vắt cho thật kiệt xong lại quấn vào chân.
Bác Thích ngửa lòng bàn chân “khoe” những vết lỗ chỗ như ổ gà trên xa lộ. Lại nói đến nước đái, ừm, nó là cứu tinh của chúng tao đấy. Cứ nướng một viên gạch, hay xin viên than tổ ong sắp tàn người ta bỏ ra cũng được, rải lá lốt lên, rồi tưới nước tiểu, hơ chân lên. Úi giời, nó bốc khói bốc mùi, mày mà đứng gần chắc cong đít bò cạp mà chạy tám cây số. Nhưng đỡ lắm. Mỗi lần hơ chân như vậy cũng đỡ được một thời gian.
Nhớ chưa, dấu hiệu nhận biết thợ Lò Đá là thối chân. Dấu hiệu nhận biết thợ Lò Chợ là đeo dây chuyền bắp chân, nhưng không phải ông nào cũng có. Lò Chợ phần nhiều khô ráo, nhưng có nhiều ông thích phủ trùm ống quần ra bên ngoài ủng. Vì nhét ống quần vào trong ủng theo cách truyền thống khác nào cổng thành bỏ ngỏ, vụn than mặc sức rơi vào trú ngụ, chưa kể nóng vã mồ hôi, nên lâu lâu cũng phải dốc ủng đổ ra. Thế mới có sáng kiến đi ủng bên trong ống quần tạo điều kiện cho mép ủng cọ vào bắp chân. Lâu ngày vết sứt sát chai lại thành sẹo, nhưng không ăn thua gì.
-Dạ thế còn Lò Cái…
– Lò Cái của bên khai thác. Lũ kiến thợ Lò Đá mở đường đến khi chạm vỉa thì dừng, bàn giao cho tổ Lò Cái. Lũ kiến ở tổ Lò Cái tiếp tục đào vào vỉa, tạo ra những đường lò con đi trong than. Đào xong bàn giao cho Lò Chợ, là lũ kiến cuối cùng cho ra than. Tiền công cho kiến Lò Cái tính theo mét lò, Lò Chợ tính theo tấn than. Bây giờ thì không biết nhưng thời tao làm, công thợ cũng tính điểm như hợp tác xã. Một điểm bằng một nghìn đồng. Tháng nào suôn sẻ đẹp giời có điện đều thì cũng được nghìn hai, nghìn rưỡi điểm. Làm vụng làm trộm thêm nữa thì thêm được vài ba nghìn nữa.
-Làm vụng làm trộm ạ?
-Là thế này. Thợ Lò Chợ mỗi ông được giao quản một giang sơn cao hai mét ba dài bốn mét rộng ba mét sáu chia làm bốn luồng, mỗi luồng rộng chín mươi phân, gọi là một thìu. Đứng trong giang sơn ấy cào than xuống gọi là khấu than. Đứng trên than cám lầy dễ đứng hơn than don. Than don là than củ đấy, thời Pháp gọi than kíp-lê, nó cứng mà trơn bóng như mặt kính, lò lại dốc…Hiểu chưa?
-Dạ bác cứ kể đi.
Có hai kiểu ra than, báo chí chúng mày gọi là phương pháp. Một là khấu giật, tức bắt đầu cuốc từ cuối đường lò đi giật lùi ra. Hai là khấu đuổi, cuốc từ đầu đường đến cuối, cào than xuống băng tải đưa ra cửa lò. Độ dốc trung bình từ mười tám đến ba lăm độ. Riêng khấu buồng chỉ áp dụng cho những vỉa có độ dốc từ bốn lăm độ trở lên đến sáu mươi. Ở độ dốc này ông đứng trên có khi bằng đầu ông đứng dưới, tương tự như cái cầu thang cuốn trong siêu thị ấy.
Buồng khấu phải dụng cách đi dây diều. Cứ hình dung thế này, người cầm dây diều đứng ở một chỗ, diều bay trên cao ở một chỗ khác đúng không? Diều đây là nóc vỉa ở trên cao. Dây diều là cây gỗ dài khoảng ba mét, buộc mìn điện vào đầu cây gỗ đứng dưới ngửa cổ đưa lên nhét vào lỗ khoan. Sau lưng đeo một cái ba lô đựng sẵn mìn với những phoi đất sét để lấp lỗ khoan khi đã nhét được mìn vào. Trong mìn có bột gỗ nên khi mìn nổ khói nhiều. Khói không thoát ra được, không có chỗ thoát, nó cứ đọng trong buồng âm u. Đèn lò lúc đó chỉ như đèn trong sương mù, không chiếu xa được mấy. Lò Chợ vừa nóng vừa tối. Buồng khấu lại nóng nhất, tối nhất, tối như tiền đồ chị Dậu ấy, cực kì tối. Còn nóng nhất là lúc cuốc phải xuất lỗ khí.
–Xuất lỗ khí hay bục túi khí ạ?
-Cũng là nó cả. Tức là khi mình cuốc hay bắn mìn trúng ổ nó, làm khí nóng trong vỉa bung thoát ra như lão thần già thoát ra khỏi cái chai nhốt lão đã hàng nghìn hàng triệu năm, bọn kiến lập tức cảm thấy gió nóng bao trùm cả giang sơn dài bốn mét rộng ba mét sáu, vã mồ hôi. Có khi bắn mìn xong mới thấy lộ ra chỗ than đang cháy đỏ bốc khói nóng trong vỉa.
-Lúc ấy làm thế nào bác?
-Thì phải gọi thợ kĩ thuật đến xử lý. Thường thì người ta xây tường bít cửa lò, bơm khí nitơ vào dập, khi nào nó tắt lại vào cuốc. Nhưng nó cũng thích đùa dai như đá xít, có khi đang cuốc nó lại bùng cháy lại, vì lại có quạt, có oxy cho nó.
Nhưng gặp than cháy hay túi khí không sợ bằng bục túi nước. Mình xuống sâu cả hơn trăm mét, có khi có cả hồ nước treo trên đầu. Thường khi thăm dò địa chất người ta đã biết trước, có cách xử lý hoặc chỉ khai thác vào mùa khô. Nhưng lòng đất mà. Đừng có nói trời của ta đất của ta.
Nãy tao đang nói gì? À. Buồng khấu. Buồng khấu không bao giờ được phép lên hết, ít nhất phải để lại một ông đứng gác cổng thành. Thứ nhất để canh cán bộ phòng an toàn. Thứ hai, để phòng nếu than sụp xuống lấp cửa buồng còn ứng cứu.
Sao phải canh cán bộ an toàn? Vì quy phạm chỉ được bắn mìn một lần rồi cược lại rút xuống không lấy nữa. Nhưng tuân thủ đúng thì cuối tháng không đạt định mức sản lượng, không đủ điểm thì tiền đâu. Vì bắn một lần không hiệu quả bao nhiêu. Nhất là với than củ nó cứng lắm. Có khi bắn các kiểu cũng chỉ làm nó bị rạn nứt, không vỡ. Còn than các loại khác nói chung bắn lần hai mới xuống được nhiều hơn. Bắn lần ba lần bốn càng nhiều hơn nữa. Nổ nhiều lần đến lúc hố thủng lớn như tầng ô zôn không cần bắn than cũng tự sụp xuống. Có khi than sụp một lần lấy cả tuần mới hết. Lũ kiến thợ vừa tham vừa tiếc. Tiếc vì bắn một lần rồi bỏ thì phí tài nguyên. Tham vì than sập xuống càng nhiều càng có tiền. Cứ một tấn thêm được ba mươi điểm, được thêm ba mươi ngàn, cũng được vài ba ký gạo cho con. Thợ già thì muốn có thêm tiền mang về nịnh vợ. Thợ trẻ thì hăng bọ xít, thích thể hiện. Cho nên mới đồng lòng làm vụng làm trộm.
Nói thêm chỗ này cho mày nghe, viết thì viết không viết thì thôi. Thợ chạy gỗ làm theo thiết kế kĩ thuật, nhưng kĩ thuật khó tính toán được hết lòng đất, bởi vậy bọn kiến khai thác ngoài việc cho ra than còn chịu trách nhiệm tự quản đường lò phần giang sơn mình. Phải kịp thời chống dặm lò nếu có cây bị gãy rơi. Lúc nào cũng phải giữ cho cột thẳng. Nếu vỉa bị thắt, tức có đá dưới chân nhô cao hơn thì phải lấy búa chém chặt bớt cây chống cho vừa. Hay gặp chỗ than quýt mềm nó lở, cây bị hụt phải tự áp má một cây khác vào cho đủ cao để chống. Lúc ấy thợ gỗ về rồi mình phải tự xử lý. Làm cái này không công điểm. Có khi suốt ca không làm được gì chỉ loay hoay chống dặm, cho nên phải làm trộm để bù vào.
-Sao bác không sợ à?
-Cũng sợ chứ. Bọn ong mũ vàng nó cứ hay nói bọn kiến mũ đen chúng tao, các anh làm gì làm phải nghĩ, không thương thân thì cũng phải nghĩ đến gia đình vợ con. Tao cũng hay nhắc lại với đám kiến thợ trong ca lúc chuẩn bị bắn mìn. Nhưng nói thì nói vậy…Dây mìn quy định hai trăm mét cho nơi không có điểm trú tránh, trăm rưỡi mét cho góc khuất có cua tay áo, nhưng thợ thường chỉ cắt năm chục mét. Tại sao? Vì thiếu. Bên vật tư phát cho một cuộn nhưng nổ nhiều lần quá thiếu dây. Chưa kể một lần rụng được ba, bốn tấn than nó cũng vùi lấp hết ba, bốn chục mét dây.
-Ôi trời!
-Nói thì nói vậy. Mạo hiểm sao bằng thợ xén gai với phá hỏa. Hồi nãy mày hỏi xén gai là làm gì.
-Dạ vâng
-Gọi là xén gai…Thời tao làm, vật liệu chống lò chủ yếu là cây gỗ keo, gỗ bạch đàn. Gác xà bằng bạch đàn nó dẻo. Đường lò dài hàng trăm mét, áp lực nóc mỗi đoạn khác nhau. Những chỗ áp lực nóc nặng hơn chỗ khác làm cây gác xà bị sa bụng võng. Đại để như khi mày kê một cành cây tươi vào đầu gối để bẻ, cành cây dẻo nó không gãy ngay mà gãy từ từ, nó bật ra những thớ gỗ tua tủa, gọi là gai. Chỗ bụng lò bị sa thấp, bị võng xuống ấy làm khuôn lò xộc xệch khi đi qua phải cúi người hay bò thấp để tránh gai, thì phải chống lên xén lại. Gọi là xén, thật ra là tháo dỡ ra vứt hết những cây gỗ gai đi, thay bằng gỗ mới. Cho nên tao nói xén gai là việc mạo hiểm. Khi tháo cây chống ra nóc lò sẽ sụp lở xuống, phải biết cách đóng những mảnh nhói, là gỗ vạt nhọn một đầu như đòn xóc lên giữ nóc.
-Vâng. Thế còn phá hỏa …
-Phá hỏa là thợ đi tháo dỡ cũi lợn. Nghe nói nó giống cái cũi lợn của đồng bào miền núi, không biết có đúng không. Cũi lợn xếp vào chỗ luồng than vừa khấu xong để lấp chỗ trống, giữ an toàn cho luồng sẽ khấu kế bên. Cứ ca một khấu xong về, ca hai sẽ dựng cũi lợn vào chỗ trống ấy để khấu luổng tiếp theo. Ca ba xuống sẽ tháo cũi chỗ ca một lấy gỗ ấy xếp cũi khác vào luồng ca hai vừa khấu. Sáng hôm sau ca một xuống lại phá cũi chỗ ca hai để dựng vào luồng ca ba hồi đêm đã khấu, như cuốn chiếu ấy. Người chuyên đi tháo dỡ cũi gọi là thợ phá hỏa.
Bác Thích nhìn quanh tìm kiếm đạo cụ, cuối cùng bác lấy trong xô ra mấy chai nhựa đựng hóa chất gì đó giả làm cây gỗ xếp cũi lợn minh họa. Các chai nhựa cứ lăn ra đất làm bác phải xếp đi xếp lại vừa lấy tay giữ.
– Đây là bốn cây cột làm khung để gác cây gỗ lên. Gác một lượt ngang một lượt dọc chồng lên nhau như gỗ dán ấy, nhưng thưa thôi, cứ gác như vầy từ nền lên tới nóc lò, trên cùng phải có mảnh chèn, chèn chêm cho thật chặt thật cứng tận nóc than, không được lỏng sục sịch.
Vỉa càng dốc cũi càng khó đứng thẳng. Nếu cũi bị “ngồi” quá hay “sa đít nhện” quá, tức là nóc ngửa ra sau hay chúi về trước quá đều không đạt. Phải thật vuông mới là cũi đẹp mới vững.
Khi bắn mìn khai thác luồng kế tiếp thường sẽ sinh chấn động. Cứ đang cuốc than mà nghe có tiếng rắc rắc hay thấy cũi lợn biến dạng bị bóp bao diêm, tức nó bị méo mó xô lệch không vuông nữa là lập tức xô nhau chạy.
-Chạy đi đâu ạ?
Chạy trong đường lò chứ chạy đâu. Đang ở lò đầu thì chạy về lò chân, hay đang ở lò chân chạy về lò đầu.
Thợ phá hỏa cũng như thợ xén gai, phải tay nghề cứng, trẻ khỏe, phản ứng nhanh, phán đoán chuẩn. Thời tao phải thợ bậc năm trở lên mới được phép phá hỏa. Mỗi ca có hai ông, gọi là một cặp phá hỏa, người này chặt người kia đứng ngoài phụ kiêm cảnh giới báo động.
Khi phá cũi rút cây chống ra, than với đất đá sụp lở dần xuống lấp đường trong vỉa, bít luôn đường thông gió nên nóng mà bụi lắm. Có cây gỗ lúc tháo dỡ xuống thấy nó bị thắt cổ chày mới biết nó bị siết đến thế nào. Có cây bị uốn cong như cây cung. Những cây này vứt vùi luôn cho nó ở lại lòng đất. Cây nào còn tận dụng được mới mang đi dựng tiếp cũi tiếp theo. Thường thì chỉ cần chặt hai phần ba đường kính cột gỗ rồi lui ra đợi nó tự khuỵu xuống. Nhưng có cây nó khuỵu nhanh quá, người đứng ngoài cảnh giới thấy nghi ngờ phải hét to báo động để người kia chạy. Cũng có lần chạy không kịp.
-Chạy không kịp… thì sao ạ?
-Bài học được phổ biến là, khi bị vùi lấp sập đổ, nếu còn khả năng phát tín hiệu, hãy đập vào hông lò ba tiếng một bằng bất cứ vật cứng nào, đá, gỗ, búa chém, cuốc xẻng. Bên ngoài nghe thấy sẽ đập lại ba tiếng trả lời. Cứ đập đi đáp lại như vậy để bên ngoài lắng nghe xác định vị trí. Nhưng hôm ấy, lúc tao đang đến phiên đứng ngoài cảnh giới, ông kia còn đang chặt, bất thình lình nghe sập “uỵch” một tiếng lớn, bụi mù mịt như bịt mắt không nhìn thấy gì. Ôi giời. Lúc ấy tinh thần hoảng loạn, dừng hết mọi hoạt động khai thác. Mọi người ra sức gào gọi cào bới. Tất cả kiến thợ tinh nhuệ nhất ở tất cả các phân xưởng khác được huy động tập trung đến cứu. Cứu thì cứ cứu, nhưng lúc ấy chúng tao đều nghĩ trăm phần trăm là xong rồi. Từng ấy khối than với đất đá nó ụp xuống thì vùi luôn chứ còn sống thế nào được. Thú thật với mày, lúc ấy tay tao cào bới chứ mắt nhòe có nhìn thấy gì đâu, đầu thì mải nghĩ đến những lúc tao với ông ấy cãi chửi nhau văng nọ văng kia.
Lúc ấy là hai giờ đêm. Gần sáng hết ca chúng tao được lôi lên song loan cho về. Mãi đến đầu ca hai, lúc hơn hai giờ chiều thì nghe đã cứu được. Ông ấy còn sống! Thế mới kinh. Là nhờ lúc ấy lão đang đứng sát bên cái cũi chưa tháo bên cạnh. Chỗ này có những đầu gỗ phía trên gác thò ra bên ngoài hàng cột khoảng hơn gang tay, nó che đỡ cho nên chỉ đá nhỏ than vụn lọt xuống được. Mũ đèn bị cụp xuống mặt che mắt, hở phía sau đầu nhưng tay chân bị vùi không rút lên được. Đấy là tao nghe những người cứu hộ nói lại chứ lúc chúng tao đến bệnh viện thăm, nhìn mắt ông ấy thấy vẫn còn thất thần, chả dám hỏi gì. Chỗ ấy vỉa dày quá than lấy chưa hết còn nhiều, nó sụp xuống một khối lớn.
-Vậy là bác có những hai mươi bốn năm “ăn trên dương gian làm dưới âm phủ”, anh hùng thật.
-Uầy, câu ấy không đúng lắm. Phải nói là “chơi âm phủ ngủ trần gian”. Tan ca về nhà thì ngày hay đêm cũng ngủ. Còn xuống hầm lò thì lúc nào cũng là đêm hết, tối đen như nhau, không nghe bất cứ tiếng gì trên mặt đất. Chỉ khi nào thò mặt lên khỏi cửa lò mới biết trời đang nắng to hay mưa rào sấm chớp.
Nói hai bốn năm nhưng thật ra là hai bảy năm. Ba năm cuối tao với ông Vịnh, ông thợ phá hỏa hút chết hôm ấy, được chuyển lên mặt đất làm những việc phục vụ. Xuống lò là nghề của người trẻ, lớn tuổi không còn tinh nhanh, phản ứng chậm, lưng đau, thì thôi lên mặt đất. Tao được giao việc bơm nước tắm cho thợ, ông Vịnh thì làm bảo vệ.
-Ông Vịnh vẫn làm bảo vệ được à bác?
-Thằng này hỏi câu này hay. Đúng, bảo vệ mỏ phải đối đầu với bọn than tặc không đơn giản, phải khỏe phải gấu. Nhưng ông ấy làm bảo vệ nội bộ thôi. Tức là hàng ngày đứng ở cửa lò khám túi bọn kiến thợ lúc vào ca, nắn túi quần túi áo xem có ông nào mang diêm thuốc bật lửa vào lò không. Thời tao làm, không biết thế quái nào cứ mười ông thợ thì đến tám ông nghiện thuốc lào. Khổ. Mày nghe câu “nhớ ai như nhớ thuốc lào” chưa. Khám túi áo túi quần thì giấu lên mũ, nhét trong ủng. Cứ gói vào miếng giấy bạc hay giấy báo, quấn bên ngoài một mảnh vải buộc chặt vào cổ chân là đi lọt. Không có điếu thì có ống hút sữa đấy. Véo một tí đất sét ướt nặn nõ điếu, cắm ống hút nhựa vào. Không có diêm thì có bình ắc quy, ngắt khúc dây đồng nhỏ như sợi tóc, đấu hai đầu dây vào hai cực âm dương cho cháy đỏ lên, dí mảnh giấy báo vào là lên lửa.
-Trời đất. Không sợ cháy nổ à bác?
-Khồng. Cháy nổ thế nào được. Phân xưởng nào chả có máy đo khí để đo trước khi nổ mìn. Cái máy này chỉ cần chỉ số mê tan vượt quá hai phần trăm là nó kêu như ai bóp cổ ngay. Hút thuốc cũng phải đo khí chứ.
-Không ai bị phát hiện à bác?
-Không bị phát hiện nhưng người ta vẫn biết, ở đâu chả có điệp viên. Về sau nghe đâu bình ắc quy bị gắn thứ gì đó tựa như cầu chì. Cứ lấy lửa là cầu chì đứt, tắt đèn. Nếu đèn hỏng tự nhiên nó sẽ cháy một sợi tóc trước, vẫn còn một sợi mờ mờ đủ để đi ra ngoài đổi đèn. Nhưng đứt cầu chì sẽ tắt hết luôn. Không có đèn làm, bị lộ, thế là bị phạt.
-Bị phạt vào túi tiền chắc mới biết sợ.
-Sợ là sợ thế nào. Kiến thợ nhiều chiêu lắm. Mà mày hỏi làm gì. Viết ra để lộ hết à. Tốt nhất đừng để nghiện cái gì kể cả tiền.
Ông bác lại bắt đầu dạy dỗ.
Phong hỏi sang chuyện khác, được biết bác Thích về hưu sớm, từ khi chưa tới năm mươi. Trước khi nghỉ bác đã được cho đi bệnh viện rửa phổi hai lần.
Thôi tao ra đồi đã, chiều nay đáng lẽ…
Bác xách xô đứng lên. Nghĩ sao bác dừng lại nói thêm. “Mấy chục năm làm dưới hầm lò, tao tưởng lên đồi trồng cây thì được thở gió tươi gió sạch … “
-Bác tìm bố mẹ cháu có gì không ạ?
-Nói mày cũng chả quan tâm. Lúc nào mẹ mày về cứ nói bác lên tìm.
Buổi tối Phong đang suy nghĩ có nên sửa lại hay viết lại bài viết trong máy. Hắn đã hiểu vì sao đoạn phim phóng sự kia lại làm bác Thích tức giận. Nhưng viết lại, hắn cầm chắc 90% bài sẽ bị loại.
Chợt hắn nghe tiếng mẹ nói to. “Bác không làm, sao hồi sáng không nói để em bảo người khác. Đã nói hôm nay phun để mai cắt mà giờ chưa phun. Bác làm lỡ hết việc.”
Bác Thích. “Rau quả nó cũng có ngày có lứa. Cứ hóa chất tương mãi xuống thì đất cũng chết, nói gì….
-Em làm ăn phải tính lời lãi, không phải trồng chơi. Đã báo với người ta mai cắt rồi.
– Mày nghĩ đi. Mày đã quá giàu rồi, mày còn muốn gì nữa. Chúng mày định để lại gì cho thằng cháu Phong đây, một quả đồi đất chết à? Mày nghĩ đi.
Phong đến bên cửa phòng nhìn ra. Hắn thấy bác Thích đang quay lưng đi ra cổng.


Bài viết liên quan: