Lê Quang Sinh là nhà thơ có hành trình sáng tạo dài từ sau ngày Đất nước thống nhất 1975 đến nay. Ở từng gai đoạn và từng bước ngoặt chuyển mình của đời sống xã hội, thơ anh đều đặn xuất hiện và được độc giả đón nhận với tư cách là người tiền trạm cho tâm hồn và nghệ thuật bằng giọng điệu và thi pháp riêng. Anh là người sáng tác năng động và đạt được thành tựu vững chắc trong nền thơ hiện đại và đương đại Việt Nam. Đến nay, anh đã có 15 tác phẩm được xuất bản, trong đó, có những thi tập tạo tiếng vang như: Thơ chọn lọc (1995), Người họa mặt thời gian (2000), Xin làng trồng lại cây đa (2000), Khất nắng một dòng sông (2002), Dâm bụt vườn hoang (2013), Lý do cho mỗi thiên thần (2016), Thời gian qua kẽ lá (2019), Lồng lộng xứ Thanh (2020), Phúc Tường ( 2020)…Và mới nhất là Sông Mã ngày tôi về (2025). Với thành tựu nổi bật như thế, anh đã nhận được những Giải thưởng danh giá: Giải nhất Cuộc thi thơ xuyên thế kỷ Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh 1998-1999 với tác phẩm: Nghĩa Kỳ và Tết quê; Giải B Cuộc thi thơ Chào mừng thiên niên kỷ báo Văn nghệ – Hội Nhà văn Việt Nam 1998-2000 với trường ca: Xin làng trồng lại cây đa;; Giải nhì Giải thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam về Biên giới Hải đảo đợt I năm 2020 với tác phẩm: Tiếng chuông chùa trên đảo; Giải B Giải thưởng Lê Thánh Tông (2016-2020) với tác phẩm: Lồng lộng xứ Thanh; Giải thưởng hàng năm của Hội đồng Lý luận phê bình VHNT Trung ương với tập tiểu luận – phê bình văn học: Trầm tích mùa thu… Đây là những Giải thưởng có ý nghĩa tinh thần và nghệ thuật, khẳng định thành quả sáng tác của anh qua từng thời khoảng.
Thơ anh ngày càng được nhiều nhà lý luận – phê bình văn học chuyên nghiệp tiếp nhận và nghiên cứu sâu ở nhiều bình diện với nhiều hướng tiếp cận và nhiều hệ hình lý thuyết hiện đại khác nhau. Trong bài viết này, tôi muốn tiếp nhận tác phẩm mới nhất của anh Sông Mã ngày tôi về từ cái nhìn địa – văn hoá, từ cảm quan sinh thái thiên nhiên, sinh thái văn hoá – tinh thần và từ cảm thức hiện sinh để phù hợp với hình tượng, diễn ngôn đặc trưng của tác phẩm nhằm chỉ ra chất thơ và tư tưởng thơ của anh. Trước khi đi sâu vào thế giới nghệ thuật tác phẩm này, tôi muốn tìm hiểu quan niệm và tư tưởng căn bản về thi ca và thi sĩ của Lê Quang Sinh để thấy hệ quả của chúng trong cả quá trình sáng tạo nói chung và qua Sông Mã ngày tôi về nói riêng.
Là nhà thơ có quá trình sáng tác bền bỉ và vững chắc, Lê Quang Sinh luôn thao thức và nghĩ suy để hình thành quan niệm văn chương nhằm định hướng tư tưởng và thi pháp thơ riêng. Trong tập Tiểu luận Hồn ở chân trời, thơ trên mặt đất Nxb Hội nhà văn – 2020, anh cho rằng thơ hay và đọng lại trong lòng người đọc là thơ bắt nguồn từ con người và cuộc sống kết hợp với tư duy luôn mới mẻ và độc sáng thông qua vốn sống, vốn văn hóa và vốn nghệ thuật vững chắc để xây dựng hình tượng thơ, ngôn từ thơ đủ sức chuyển tải thế giới xúc cảm bên trong của chính người thơ: “Thơ phải mang đến cho người đọc những ý tưởng, những vấn đề cấp thiết trong đời sống xã hội cần phải quan tâm” (tr.29). Thơ phải luôn mới từ ngôn từ đến hình ảnh/ hình tượng và tư tưởng để tạo nên sự ám ảnh về nhân sinh và triết mỹ. Đặc biệt, anh cho rằng thơ phải đẹp và có ích. Muốn vậy, nhà thơ phải nhân văn và nhân ái, lay thức lòng người bằng quy luật Chân – Thiện – Mỹ bất ngờ để dẫn người đọc lạc vào “vùng thức” của thơ. Anh cho rằng từ hiện thực đến liên tưởng, tưởng tượng thông qua tư duy hình, tư duy ý là kết quả của trí tuệ và tài năng lóe sáng của nhà thơ: “Hiện thực là một điều cần thiết để thơ có sức lan tỏa, nhưng nên nhớ một điều là liên tưởng mới làm nên diện mạo của thơ. Khả năng lan tỏa của thơ đến đâu phụ thuộc vào ‘trí tưởng tượng gợi mở’ của hiện thực. Những bí ẩn phía sau hiện thực là công việc phát lộ của các nhà thơ. Thơ, bản thân là logic của nhiều ‘ngôn ngữ’ hợp thành: Từ hình tượng thơ, ngôn từ thơ, sự tinh nhạy của suy tư, nghe, nhìn, đến khả năng ‘quang hợp’ để biến đổi” (tr.37). Những đúc kết như thế cho thấy anh rất quan tâm đến việc xây dựng 2 yếu tố hợp thành chỉnh thể tác phẩm: Hình thức và Nội dung. Vì vậy, thơ anh tạo được sự đa thanh về phương thức biểu hiện và tương hợp về nội dung, triết mỹ.
Nghĩ về tính triết lý, nghiệm sinh trong thơ, Lê Quang Sinh cũng thông qua quá trình sáng tạo của mình để đúc kết bằng quan niệm riêng: “Đi đến triết lý không phải bắt đầu bằng sự nghĩ, bản chất của mọi sự vật trong đời sống ta gặp chính nó đã gợi lên, nói lên một vấn đề nào đó rồi. Không có sự giống nhau trong cùng hiện tượng, mà chỉ có sự lười biếng trong suy tư. Hãy cảm nhận nó bằng tài năng của nhà thơ, làm cho mọi sự gợi mở trở nên sáng rõ, đó là con đường làm nên sự khác biệt, làm nên cốt cách của rung động thơ” (tr.49). Như vậy, không có nghĩa là thơ phải cầu kỳ, khoa trương, khó hiểu mà chính là sự giản đơn trong tính cụ thể và đa dạng của tư duy: “Tìm đến sự đơn giản trong đa dạng để giải quyết một cái gì rộng lớn hơn hay ngược lại đều là những nẻo đường lên núi. Trầm ẩn giấu đâu đây trong mỗi thân gỗ trên đỉnh mờ xa kia là tùy thuộc vào khả năng quang hợp và chắt lọc từ đất của mỗi cây rừng. Dừng lại ở một hướng đi đúng là hứa hẹn của một chân trời mở… Thơ chỉ cần thế, không chỉ cốt tả mà cốt gợi, không chỉ cốt nghĩ mà cốt cảm” (tr.54). Cảm và nghĩ càng sâu và tinh tế thì sẽ có thơ hay; tính triết lý, nghiệm sinh càng gần gũi và minh triết thì thơ mới sâu sắc và thâm thúy. Nhưng anh cho rằng cuối cùng của thơ là tình cảm và chân cảm để thơ mình có khả năng thông điệp và sẻ chia với người đọc về nỗi niềm nhân thế từ những hiện thực gẫn gũi đời thường đến những hiện thực tâm linh ám ảnh, day dứt: “Thơ như một dòng chảy tâm linh huyền ảo, óng ánh sắc màu” (tr.60) ; từ đó, anh khẳng định cái riêng làm nên thi pháp thơ của mình ở chỗ: “tôi là cái mà tôi là” – tức dấu chỉ phong cách riêng của tác giả. Chính phong cách riêng đó, thơ anh tạo được tiếng nói giao hòa, giao cảm với cuộc sống, con người, làng quê, đất nước và tình yêu bằng cái nhìn bao dung, nhân ái, đậm chất trữ tình đời tư, lãng mạn và chất trữ tình công dân, thế sự có khả năng ám ảnh và nội cảm hóa trong lòng người đọc lâu bền.
Từ quan niệm về thi ca và thi sĩ cũng như từ hồn thơ và chất thơ vừa đúc kết như trên, tôi muốn tiếp nhận và khám phá tập thơ mới nhất của Lê Quang Sinh: Sông Mã ngày tôi về do Nxb. Hội Nhà văn ấn hành năm 2025 để thấy sự tiếp nối và vận động thi pháp thơ và ý thức nghệ thuật của một nhà thơ có quá trình sáng tạo liên tục hơn 30 năm.
Trước hết là cảm thức về quê hương – nơi chôn nhau cắt rốn của anh mà trên từng dặm dài ly hương sầu xứ, anh luôn da diết nhớ về với bao nỗi niềm và ký ức: đẹp và buồn, dở dang và trống vắng, mộng mơ và hoang hoải. Ngày anh về, tất cả vẫn còn đây: “Sông Mã ngày tôi về/ Chiều buông/ Con gió lạnh!/ / Câu thơ thời mơ mộng/ Đâu đây bên mé sông mờ”. Có cả tâm tình hiến dâng dang dở mộng ngày xanh để giờ xôn xao, day dứt: “Ngày ấy./ Dở dang./ Một trang giấy trắng!/ Gió bay/ Bụi cuốn/ Sông trôi!…”. Còn đây, giọng em trong chiều sương lạnh: “Em bảo: – Nghe chi chim sáo,/ Cúc sông vàng quánh nắng bồi!” để lòng anh bời bời tiếc nuối: “Sông Mã ngày tôi về,/ Ai nỡ bỏ quên nửa vầng trăng muộn!/ Còn đâu cỏ gà cho câu hò thấp xuống/ Hoa cơm xôi mọng tím môi người”. Người thơ đành ngồi trong trầm ngâm, thấp thổm, tự mình hiện hữu những ưu tư, nhặt những câu thơ buồn trôi nổi có dòng sông và hoa bưởi chứng thực tấm chân tình:
Sông Mã ngày tôi về,
Tìm đâu vệt bã trầu sau bếp!
Cát cứ trắng cùng dòng trôi mải miết
Câu hò chiều lênh loáng mặt sông xưa.
(Sông Mã ngày tôi về)
Cảnh vật có đổi thay, nhưng lòng không thay đổi, quê xưa vẫn còn đây trong cột mốc lòng mình, không gian như ngắn lại và biên giới làng xưa đang xích đến gần hơn trong mắt nhìn và tầm với của tâm linh và tâm cảm: “Thử với tay ra trước/ Thấy đất trời bao la/ Càng đến gần biên giới/ Càng thiết tha quê nhà” (Về làng chiều cuối năm). Hành trình ra đi cũng chính là hành trình trở về giàu có hơn xưa, khiến lòng càng gắn bó với cội rễ quê nghèo thiêng liêng và xúc động: “Đây rồi, ánh trăng quê!/ Bình yên cùng rơm rạ/ Tiếng chân trâu gõ chuồng/ Va dầy trong trí nhớ/ / Đây rồi bụi tre xanh/ Vẫn tươi mùa măng mọc/ Mẹ đã xa nghìn trùng/ Nắng rối tròn trên tóc”. Bỗng hiện về sắc màu, hương thơm và hình ảnh thân thuộc ngày nào cho lòng dờn dợn xôn xao, dậy sóng:
Ôi quê hương, quê hương!…
Bưởi vào mùa rụng trắng
Bao nhiêu mùi hương xưa
Suốt đời theo dậy sóng.
(Thơ tặng bạn)
Về với quê xưa là về với thiên nhiên, cảnh vật và kỷ niệm không thể nào nhạt nhòa theo năm tháng: “Sáng mở ra cành phượng đã xanh rờn/ Có dòng sông ngọt ngào từ câu hát/ Ngẩn ngơ buồn cho trời đất mênh mông./ Em tất tưởi như đêm suông đầy mộng/ Em nồng nàn như hoa cúc chờ mong!…”. Thức dậy trong anh những bình minh nắng mới và hoàng hôn cỏ biếc trên từng con đường làng, ngõ xóm và trong từng hình ảnh đã thành cổ mẫu mang tính biểu trưng:
Có tiếng dế kêu sương từ ký ức
Chảy theo anh mê mải sắc cầu vồng.
Thu rồi đượm, lá rồi săn sắc lại
Anh vô tình – Làng xóm tuổi thơ ơi!
Thèm tiếng võng ru con từ sau chái
Cùng khói gianh lắt lẻo quấn ngang trời.
(Cúc ven sông)
Cảnh gọi cảnh, tình gọi tình hiện về trong thực và trong mơ để thỏa mãn những ước nguyền dang dở. Tất cả đã thành kinh nghiệm sống qua trong quá vãng và cảm thức hiện sinh trong hiện tại ngày trở về quê cũ. Bùa ngải nào cứ neo buộc lòng người trong phút giờ gặp lại, khiến người thơ úp mặt vào câu hát để thương nhau cho đã đời cả một thời thơ – vụng – dại: “Trời thì tròn mà đất thì méo/ Ta úp vào câu hát để thương nhau!/ Trốn qua hang Tình/ Gặp mây trắng lượn/ Sông Chu ngàn năm không chịu bạc đầu./ Gió đẩy, thuyền xô…/ Dùng dằng bùa ngải/ Anh bỏ quên cả một thời vụng dại/ Để bây giờ/ Mây nước thẳm vào nhau.” (Đi thuyền trên Cửa Đạt). Cứ thế, tình cảm nhà thơ lây lan và hòa quyện cùng đất trời để tình yêu lên tiếng gọi, để vĩnh cửu khát vọng đời rồi sẽ thẳm xanh, tan và sẫm vào nhau: “Đi từ lộc non đến một sắc vàng/ Lá đã chạm vào mùa xuân vĩnh cửu/ Khi dòng sông biết lắng mình trong trẻo/ Đất và trời khi ấy sẫm vào nhau”. Cũng như anh và em luôn non tơ, ngơ ngác trước chộn rộn tiếng gà và mong manh áo gụ của mẹ ngày xưa trên cánh đồng chiều cả gió:
Em ơi em,
Bao sâu sắc gửi vào vầng mây lặng
Mà trong anh vẫn chộn rộn tiếng gà!
Mẹ cặm cụi giữa mong manh áo gụ
Thày giục bò khắc khoải cánh đồng xa.
(Nhân sinh)

Cứ thế, bao ký ức gần và ký ức xa đồng hiện trong hiện tại ngày anh về lại cố hương. Thơ Lê Quang Sinh là thơ của hoài niệm nhức buốt mà thời gian trở thành thực chứng và nhân chứng với cái nhìn hiện tượng luận (perspective phénoménologique) qua từng tình cảnh và sự kiện theo sự hiểu biết và kinh nghiệm nếm trải của anh để rút ra những thức nhận triết mỹ sâu sắc. Trước hết là với thiên nhiên và con người thông qua cái nhìn địa – văn hóa cụ thể, luôn vận động và thay đổi. Nhìn vào dòng sông xưa và những vạt nương ngô, anh nhận ra cúc áo em trong chiều xưa cũ, khiến hồn anh ngơ ngác; nhìn lên vầng trăng và màn đêm buông chậm, anh nghĩ về câu hò dìu dặt và tiếng vạc liu xiu… Tất cả đã thành ám ảnh và quyến rũ trong hồi nhớ và mộng tưởng để diệp lục tâm hồn, tái sinh những hồng hào sinh nở ngày anh về lại cố hượng:
Đây dòng sông của một thời ngơ ngác
Phấn ngô bay cúc áo buộc ngang chiều
Trăng viên mãn tìm về câu hò cũ
Đêm tuột dần về tiếng vạc liu xiu.
Cứ thế, tâm hồn anh được bảng lảng rong chơi trước hoàng hôn màu cổ tích:
Ta vô thức mải mê lành như lá
Mà hanh hao diệp lục để xanh trời
Thêm một tuổi đầy một vòng thớ gỗ
Rừng bỗng thành cổ tích để rong chơi.
(Viết cho ngày sinh nhật)
Đó chính là cách níu giữ thời gian và tìm lại ký ức bóng mùa qua để biết mình tồn tại, tin yêu và hy vọng: “Ngậm một chút gió đông/ Hoa bừng lên sắc tím/ Nhòe một vạt nắng sáng/ Cho trời xanh tụ về”. Không có gì bị lãng quên và mất đi trong không gian và thời gian hoài vãng từ ngoại cảnh và tâm cảnh của chính chủ thể trữ tình: “Hoa mang hồn vía quê/ Đậm đà cùng đồng ruộng/ Chiều về bìm bịp kêu/ Dính chùm theo sương xuống”. Nhìn hoa súng hồng, anh mong cùng em ôm vào lòng yêu thương trong đêm trừ tịch:
Về quê anh đi em!
Tha hồ nghe cổ tích
Ngắt một đóa súng hồng
Cho một đêm trừ tịch.
(Hoa súng)
Là người luôn trân quý ký ức và ký vãng nên Lê Quang Sinh bao giờ cũng nhìn thời gian trong khắc khoải, tâm linh, Chúng hiện lên trên từng khách thể với ý hướng biến mọi khách thể – từ đối tượng của cái nhìn trực quan thành đối tượng nội tại của ý thức thẩm mỹ. Khi ấy, mọi hình tượng/ đối tượng thơ đều trở thành ý hướng cảm xúc nội tâm, thành cảm hứng sáng tạo thi ca: “Chiều chết đuối bỏ vầng trăng mọc ngược/ Chân tôi chìm cát ấm chảy từ em” (Chiều cửa biển). Anh lắng nghe sự diễn biến của mọi hiện tượng bên ngoài để hiểu lòng mình, để hưởng thụ cái đẹp khách quan thông qua sự hoài nhớ và nhận biết mọi biến đổi của con người, của sự vật và hiện tượng trong thiên nhiên và xã hội:
Một nửa nắng vàng treo đầu võng
Nửa kia cu giục giã bên đồi
Có tiếng chân người rơi trên lá
Ngoảnh ra thu rạn một góc trời
(Chớm thu)
Ngay trong tình yêu, dù diễn ra trong đêm tình nhân đắm đuối và ngọt ngào như trái nho tươi: “Đêm tình nhân chết đuối giữa mưa bay/ Góc phố nhỏ mùa xuân bung kín chỗ/ Những mầm non ướt át/ Đua lên màu son môi” giúp anh cảm nhận đến tận cùng những cung bậc run rẩy của hai trái tim yêu: “Úp mở vào nhau vô hạn vô hồi/ Tươi mới quá như trẻ còn cơm búng!/ Đêm giãn nở cả một trời lay động/ Cung bậc nào cho rung rẩy nhân đôi” thì anh vẫn nhận ra sự sự ngập ngừng, không nói hết đến tận cùng lời yêu của trái tim đa chiều cảm xúc, khiến thơ anh cũng hai nửa ngập ngừng theo: “Những câu thơ nửa đứng, nửa ngồi/ Xoay xở lắng giữa tứ bề ngóc ngách!/ Lá bồ đề mang trái tim đức phật/ Cứ óng vàng lấp lửng, chia phôi”. Bởi lụy tình quá ngưỡng nên nhà thơ như thấy mình bất lực, không đến được tận cùng cảm thức hiện sinh ngất ngây, mê đắm:
Đêm hiện sinh lộng lẫy bồi hồi…
Đàn ai gảy, dây chùng sao cứ gảy?
Làng xóm ơi, hồn tôi rung phía ấy
Biết bao giờ hết lụy được nhau đây.
(Đêm tình nhân)
Cứ thế, người thơ tự thú, tự thoại với chính mình để cho lòng có cớ để yêu thương và mơ mộng. Trước bến phù vân trong hiện thực, hồn thơ Lê Quang Sinh kịp lắng lại để bồi hồi rung cảm: “Tôi ghé bến phù vân tìm mây trắng/ Nghe câu ca trong đá đến nao lòng/ Thơ ngồi tựa bên bóng người lữ thứ/ Mặc lá vàng xếp chật cả mùa đông”. Dẫu thời gian có phôi phai theo quy luật của chính nó thì nhà thơ vẫn thấy được sự hồi sinh trên từng cảnh vật và chứng tích u trầm để níu giữ sự sống của muôn loài: “Tôi ghé bến phù vân tìm hương sắc/ Dòng thời gian rỏ giọt xuống hiên nhà/ Bướm lác đác vài nhành mai nở muộn/ Nắng thôi đùa lên má thắm thôi hoa”. Từ bến phù vân, gặp thiên nhiên và cảnh vật đắm đuối bên nhau, lòng anh cũng thắm lại trong khát khao, dâng hiến, mọi cảm giác phù vân dường như tan biến:
Tôi ghé bến phù vân tìm em
Gặp mây đắm trời, gặp hoa đuối bướm!
Viễn vông vẽ những vòng tròn mộng tưởng
Gương mặt nào cảm xúc với em đây.
(Bến phù vân)
Biết quy luật bất biến và vạn biến của thiên nhiên và cõi người, nên Lê Quang Sinh không ngừng phản biện và khẳng định quy luật tồn tại của mọi chủ thể và khách thể: “Có bao nhiêu cơn bão/ Đã qua một đời cây!…/ Có bao nhiêu câu hỏi/ Sông lúc vơi, lúc đầy”. Để cuối cùng, mọi niềm tin đều hiện hữu theo hữu thể và khả thể của từng đối tượng: “Tàn hết một cuộc chơi/ Cây cũng tròn trịa bóng,/ Thức trọn đêm trăng đọng/ Mênh mông bao kiếp người” (Ý nghĩ một đêm trăng). Những chiêm nghiệm và triết lý như thế xuất hiện đậm đặc trong Sông Mã ngày tôi về của Lê Quang Sinh, chứng tỏ anh là người luôn nhìn và thấu hiểu mọi hiện tượng, sự vật theo cái nhìn của triết học mà hiện tượng luận và chủ nghĩa hiện sinh là bệ đỡ lý luận để thơ anh có chiều sâu triết mỹ và văn hóa: “Có mùa xuân cỏ mật/ Làm tổ trên vành môi/ Tháng năm như mây vấn/ Vắt ngang qua nụ cười”. Để cuối cùng, thiên nhiên cần cho cảm nghiệm phục sinh của nhà thơ hơn là cần cho chính nó:
Ôi, bông hoa của thu
Bừng lên trong gió muộn
Neo một tiếng chim gù
Bỏ một trời lá cuốn.
(Hoa của thu)
Khi ấy, quan hệ giữa sinh thái thiên nhiên và sinh thái văn hóa – tinh thần càng được củng cố bền vững để điều bình và cân bằng, hòa hợp: “Dù còn đó những cầu vồng ngũ sắc/ Ta một mình vẫn ngóng chút mây thu/ Đợi chiếc lá từng làm ta xào xạc/ Mẩu trời xanh khuất lấp phía xa mù”. Không gian sẽ không còn ngăn cách và thời gian như dừng lại phía tin yêu và sum họp cả trong hiện tại và tương lai:
Ngày mai, ngày kia…Thì ta vẫn đó,
Tiếng chim ri mang hy vọng cuối ngày
Ngày mai, ngày kia… Thì ta vẫn đợi,
Cọng gió vàng năm tháng lại trong tay.
(Đợi thu)
Từ cảm thức hiện sinh như trên, ngày trở về sông Mã sau bao năm xa cách, Lê Quang Sinh đã chìm ngập trong cảm giác sống lại (sentiment de renaissance) trong cái nôi địa – văn hóa của quê hương mình để cảm nhận được sự đổi thay và hồi sinh tình người, tình đất trong hiện tại, có đối sánh với cuộc sống quá khứ. Ngày đến thăm quê cát mẹ Tơm, anh bồi hồi nhận ra sự tái sinh từ thiên nhiên đến cảnh vật: “Có bao nhiêu lối cỏ đã thành đường/ Bao túp lều rơm đã thành phố xá/ Có bao nhiêu vầng trăng thành đôi thành lứa/ Mây khói hư vô một bóng người!”. Nhà thơ không khỏi ngậm ngùi nhận về mình nghĩa ân để sống tốt hơn và nhân ái hơn: “Con khấu đầu trước mẹ, mẹ Tơm ơi,/ Sao cây phải cố hoa, sao hoa phải cố thắm!/ Sao biển ngoài kia phải cố dài, cố rộng!/ Trước mộ Người mình cố tốt đẹp hơn”. Trước mộ mẹ Tơm, anh chợt hiểu ra vì sao: “Nước mắt ứa tấm lưng còng thấp xuống/ Con hiểu vì sao lối cỏ thành đường!”. Và hiểu vì sao Mẹ đã hồi sinh thành tình yêu, sự sống hiện tại trong mắt nhìn ngơ ngác và ân nghĩa của con người hậu thế hôm nay:
Mẹ quây sóng để đất này sống sót
Giờ mẹ đã ngàn thu yên giấc
Dưới cát sâu là long mạch quê mình.
(Trước mộ mẹ Tơm)
Đến Sầm Sơm – Thanh Hóa, trước hòn Trống Mái, anh cảm nhận sự tích có tính biểu tượng văn hóa tâm linh này bằng cái nhìn đồng nhất hóa (uinfication) câu chuyện tình yêu thủy chung, son sắt ngày xưa với tình yêu mê đắm của mình hôm nay để càng gắn bó bền chặt: “Hình như đôi cánh trắng/ Chập chờn cùng gió xanh!/ Hình như câu chuyện cổ/ Có điều chi giống mình” (Hòn trống mái). Từ đó, anh liên tưởng đến nỗi buồn khi phải xa em trước Sầm Sơn ầm ào sóng vỗ: “Anh ngồi đây như đá mồ côi,/ Ồn ào quá, cát chẳng là cát nữa!/ Trời rôm rốp hắt buồn như chảo lửa/ Rang chín anh cùng kỷ niệm nháo nhào/ Hình như vừa có tiếng trẻ chạy quanh/ Quen thuộc lắm. Cả bàn chân em nữa!…/ Ôi, hạnh phúc bồn chồn như có lửa/ Anh bùi ngùi đón nhận để cô đơn”. Cô đơn ở đây đã thành thú yêu đương trong đợi chờ và ước khát – Một kiểu tâm lý tự vệ phủ định để được thấy có em bên đời như đôi Trống Mái trước biển xanh: “Ném sạch buồn. Muốn như lại buồn hơn!/ Anh sợ biển, lây sang màu tím biếc!/ Một mùa gọi, một mùa xa biền biệt/ Em kịp về với một nửa Sầm Sơn” (Một nửa Sầm Sơn). Sóng và gió, biển và bờ như quấn quýt vào nhau vỗ về ân ái. Một nửa đợi chờ ở Sầm Sơn đã thành tròn đầy, xanh biếc và lãng mạn trong tưởng tượng của anh:
Em ơi em, gió đã bắt đầu say
Trăng vì thế cũng bắt đầu chải tóc
Chiều chạm đến màu đêm cổ tích
Doi muống chồm trên cát thật thà xanh.
(Đợi em ở Sầm Sơn)
Đến miền biển trong mùa mưa gió, anh cảm nhận hết cái dữ dội, ầm ào của biển và nhận ra cái lênh lênh, trôi dạt của phận người cùng rong rêu cỏ rác: “Anh chìm đi sóng lại đẩy cao hơn/ Anh úp mặt mong nhận gì từ biển/ Mưa xối xả ào ào như lấp liếm/ Bủa quanh mình những rều rác cô đơn”. Anh nhận ra mối quan hệ tương khắc và đối lập giữa thiên nhiên và con người trong cảnh khắc nghiệt, dữ dội. Mưa xối xả và biển cồn sóng cả cùng những sấm chớp ngang trời đã làm hồn anh lạnh giá như đá cứa tâm hồn: “Biển nhỏ nhoi. Anh hóa nhỏ nhoi hơn!/ Chớp cứ rạch nát cả chiều hoang dã/ Hồn trôi dạt về đâu không biết nữa/ Chỉ những hạt mưa hóa đá lạnh ghê người.” (Mưa biển). Nhưng rồi anh cũng cảm nhận được sự tương hợp và tương sinh, tương hỗ giữa con người và cảnh vật trong cảnh bão giông tràn mặt đất. Uống rượu trong đêm có bão là một cảm nhận nguyên ủy khác của Lê Quang Sinh khi em và thơ cùng thức trong phút giờ yêu thương, nồng ấm: “Thuở đầu xanh trời đất cứ trong veo/ Em đẹp lạ như thị vàng trót ngọn!/ Nhón chân với câu thơ vùi trong cốm/ Bao lời yêu ngơ ngác mở tròn xoe!”. Bao lời yêu theo nhau xao động cả chiều biên cương ngút ngàn Tổ quốc: “Đường biên cương hoa bấn đỏ bờ khe/ Ai thấu được tiếng từ quy thao thiết/ Màu áo lính suốt chiều dài Tổ quốc/ Quá nửa đời vẫn bền bỉ thương nhau”. Chỉ có chén rượu nồng làm đất trời và sông nước hóa đầy nhau, để anh và bạn chuếnh choáng men say và để em kiêu sa, lộng lẫy:
Uống đi em. Uống đi tôi và bạn!
Tháng tám cườm như những hạt mưa bay
Uống đi để em kiêu sa lộng lẫy
Sông Mã sông Chu không thể không đầy.
(Uống rượu đêm có bão)
Từ mối quan hệ sinh thái thiên nhiên, Lê Quang Sinh tiến đến cảm nhận và thể hiện mối quan hệ sinh thái văn hóa – tinh thần khi gặp lại người xưa, cảnh cũ. Đứng trên bến dốc đò Điệp ngày xưa, lòng anh không thôi nhớ về thời trai trẻ, bỗng thấy vắng một vệt nhàu vệ cỏ và vết bùn nâu nơi ruộng rẫy cùng cơn gió heo may thơm mùi bắp ngô rang: “Năm tháng bào mòn tuổi trẻ xa xôi/ Tôi ngồi với cỏ mà không cỏ/ Lần vết bùn nâu tìm màu đất thó/ Túi ngô rang rủng rỉnh gió may về”. Bao ký ức ùa về gợi nhớ con sông xưa, và cánh chim chiều lượn chao bóng nước cùng dáng em yếm thắm sang sông:
Em giấu chi để sông rạn đôi bờ
Chim mùa thu lao đầu vào nước biếc
Anh trở lại nơi dốc đò làng Điệp
Ngóng củ từ thuở yếm trắng qua sông
(Dốc đò Điệp).
Phải nói là ưu tư và thao thức! Tình yêu và nhân sinh, thế sự trong thơ Lê Quang Sinh luôn hòa quyện và nâng đỡ cho nhau để thành giọng thơ ân tình – một cảm thức được vực dậy từ hiện thực và giấc vô thức, nhất là cảnh mùa xuân nơi đất Bắc: “Cầm một chút mưa phùn qua gạ nắng/ Chiền chiện bay. Chim sáo nổ vang trời/ Có ánh mắt chết chìm trong hoang lạc/ Xuân bật chồi ngơ ngác lục bình trôi”. Tất cả vẫn còn đây trong thao thức và buốt nhắc những bóng hình muôn năm cũ:
Lại thêm những tháng năm rạ rơm đem ủ ngấu
Dòng sông quê thấp thỏm bóng con đò
Ông đồ chữ dồn mật lên nét cọ
Vẩy tưng bừng nhật nguyệt lại đem cho.
(Xuân Nguyên tiêu)
Dẫu phản ánh về mình hay về thế sự, thơ Lê Quang Sinh vẫn ưu tiên cho chất trữ tình, triết mỹ bất ngờ và hấp dẫn bằng diễn ngôn giàu hàm ngôn và hình tượng vừa ẩn dụ vừa nhân hóa. Chính điều này đã làm cho thơ anh thẫm đẫm chất nhân văn, nhân bản, luôn lấy con người làm trung tâm và chuẩn mực để gắn cho thiên nhiên và tạo vật những thuộc tính người rất gần gũi, cả hai đều tương sinh, tương cảm: “Những con tàu khao khát các đại dương/ Bỗng cảm thấy như mình còn bé dại/ Chiều nép mình như có bùa có ngải/ Đưa mắt về màu gạo đỏ mênh mông.” (Chiều Nghi Sơn). Nhìn hoa, anh liên hệ đến em và những kỷ niệm thành bốn mùa mong nhớ: “Anh đã qua mùa xuân chim én/ Mùa đông mong áo rét, em về!/ Anh đã qua mùa hè tiếng ve như cuộn/ Lấp đầy vườn lá tre”. Đồng nhất và hóan dụ hoa thành/ là em để được vỗ về trong mơ ước và thỏa mãn tâm lý phục chế tình yêu:
Để sáng nay một sáng không hẹn trước
Em làm hoa trắng muốt bên thềm
Anh hỏi – Mà như không hỏi!
Hoa dành dành ơi, hoa dành dành ơi!
(Bạch thiên hương và em)
Tiếp nhận tập thơ Sông Mã ngày tôi về lần này, tôi xin mượn nhận xét của nhà thơ Hữu Thỉnh để đồng cảm và xác tín chất thơ và hồn thơ của Lê Quang Sinh: “Thơ Lê Quang Sinh đậm về cảm. Mà cảm thì cũng vô cùng hóa sinh. Hơn nữa thơ không chỉ có cảm. Cảm là giao hòa, nhưng từ giao hòa để đến đặc sắc, cần phải có cái gì riêng. Và ở đây, may mắn đã đến với Sinh. Thơ anh có quê hương. Lần nào trở lại với vùng quê này thơ anh cũng thắm thiết và cảm động. Anh không cần cố gắng lắm, mà vẫn sâu, vẫn gợi. Mà thơ thì quan trọng nhất là gợi. Sự đời nói bao giờ cho hết, thi nhân chỉ gợi thôi. Gợi để mà lan tỏa. Thơ Sinh có những bài vừa gợi vừa lan tỏa. Anh hái những lộc biếc ấy từ hồn. Rồi từ đó mà mở rộng ra với cái thiên hạ bề bộn dữ dằn, thơ anh vừa đa mang vừa cả tin chộn rộn cả lòng người. Lê Quang Sinh là người rất chịu đọc. Anh không phải không biết đến những thứ thơ đầy những khách quan, đầy những vô tình. Nhưng anh đã kiên cường làm chính mình trong một thời buổi thơ nhiều nghiêng ngửa. Anh đã làm cho người đọc bịn rịn trước những câu thơ hay. Đó là sự kết tinh bất ngờ của rất nhiều yếu tố. Lê Quang Sinh đã làm cái việc tưởng giản đơn mà rất khó là trồng bóng mát trên lộ trình thơ.” (Lời tựa Tuyển thơ Lê Quang Sinh, Nxb Hội nhà văn, 2009).
Tôi hoàn toàn thống nhất với Hữu Thỉnh về nhận xét trên. Thơ Lê Quang Sinh mạnh về cảm; từ đó, lan tỏa hồn quê, chân quê và tình quê ở chiều sâu của chiêm cảm và suy tưởng. Vì vậy, thơ anh thuộc mỹ học của cái đẹp nhân văn, thấm đẫm tình người, tình quê hương xứ sở:
Có những lúc thả hồn vào xóm vắng
Nghe võng chao tít tắp ngọn tre già
Bếp đỏ lửa ấm mãi lời mẹ hát
Hoa cải ngồng sương đọng dấu người xa.
Với tình yêu cũng thế, luôn thảng thốt, bất ngờ và tươi non như lá cỏ: “Ta thảng thốt trước mùa xuân chim én/ Trái tim thường rung lắc nhịp tình yêu/ Ta quấn quýt như chiếc khăn voan trắng/ Cùng em ca khúc hát về chiều” (Lang thang). Tất cả những bất ngờ và lan tỏa đó đều được anh ghi lại bằng thơ. Thơ là phương tiện để anh nói lên tin yêu và ân nghĩa quanh đời: “Như con lắc say một đời tròn trịa/ Những câu thơ đi về phía la đà/ Muốn dốc hết cô đơn làm mực thước/ Mỗi khi đầy còn lại chỉ riêng ta” (Bóng câu bên hồ). Còn lại riêng anh và thơ để anh càng yêu em, yêu cuộc đời, quê hương và Đất nước: “Em ơi em, giữa điệp điệp trùng trùng/ Nhìn lịch sử dòng dòng trên sắc lá/ Anh càng thấy yêu em sau bao nhiêu vất vả/ Giữa đời thường thiện, ác, tồn, vinh”. Tổ quốc lại hiện lên rạng rỡ mỗi bình minh:
Anh lắng nghe trong giông bão vô hình
Một buổi sáng với rất nhiều chộn rộn
Càng yêu em cùng núi sông, đồng ruộng
Không nơi đâu như Tổ quốc chúng mình .
(Bên núi Chí Linh cảm tác)
Vâng! Nói như nhà thơ Hữu Thỉnh là “Lê Quang Sinh đã làm cái việc tưởng giản đơn mà rất khó là trồng bóng mát trên lộ trình thơ”, trước hết là anh trồng bóng mát trong chính tâm hồn mình và sau đó là trồng bóng mát trên cánh đồng thi ca giàu sắc màu châu thổ với dòng sông Mã bốn mùa tắm tươi đồng bãi để làm nên dáng hình quê hương xứ sở mang khát vọng con người và khát vọng xứ Thanh bằng tiếng nói thi ca:
Khát vọng xứ Thanh!
Khát vọng xứ Thanh!
Sông núi dáng Rồng
Đất đai mình Hạc…
Tôi muốn câu thơ thành lời em hát
Bay lên mang khát vọng con người.
(Khát vọng xứ Thanh)
*
Vậy là tôi đã tiếp nhận nhanh tập thơ Sông Mã ngày tôi về của Lê Quang Sinh ở thế giới hình tượng và những tiêu điểm tư tưởng thẩm mỹ chính làm nên giá trị của thi phẩm. Rất tiếc là trong bài viết ngắn này, tôi chưa kịp chỉ ra thi pháp hình thức như; ngôn từ, vần nhịp, nhạc tính và các biện pháp tu từ đặc sắc mà anh đã thể hiện rất nghệ thuật. Chỉ xét riêng hành trình trở về sông Mã – xứ Thanh lần này thôi, ta đã nhận ra ở Lê Quang Sinh một hồn thơ rộng mở và giàu có, tin yêu hơn trên hành trình tâm linh sự sống và hành trình sáng tạo nghệ thuật. Thơ anh ngày càng đa dạng nhưng thống nhất về thi pháp và phong cách, có sự ổn định thể loại, nhưng vận động và phát triển về tư duy, về tìm tòi và phát hiện tứ thơ, ngôn từ thơ để chuyển tải thông điệp, ý nghĩa mới mẻ phù hợp cho từng đối tượng cụ thể. Tâm thức hiện sinh và cảm quan sinh thái luôn biến đổi thông qua từng không gian địa – văn hóa và thời gian hiện thực cụ thể nên tính khách quan, chân thật hiện lên, đánh thức những vui buồn ân nghĩa làm lay động lòng người. Tất cả thể hiện thành giọng điệu thơ tâm tình gần gũi nhưng giàu suy tư, triết mỹ. Thơ Lê Quang Sinh luôn ẩn giấu tinh chất bên trong thân trầm đã thành kỳ mục được quang hợp từ ánh sáng của bầu trời và chắt lọc từ mỡ mầu của mặt đất để tích tụ thành hương./.
Vỹ Dạ, tháng 4 – 2026
Hồ Thế Hà
(TC sông Hương tháng 6/2026)


Bài viết liên quan: