Mắt Khờ soi thấu nhân gian – Truyện ngắn dự thi của Mai Thị Như Ý

Có những đôi mắt trong veo ẩn sau những số phận bị cuộc đời hắt hủi. Nội nói vì họ không còn vướng bận những hư ảo nhọc nhằn nên đôi mắt ấy cứ thế mà lặng lẽ xanh trong. Họ nhìn thế giới bằng thứ ánh sáng chỉ có những người đã đi qua tận cùng của nỗi đau mới thấu được.

Thứ bảy, trời đứng gió. Bên bến sông đục ngầu phù sa, thằng Khờ ngồi vắt vẻo trên một thân dừa mục. Người ta gọi nó là Khờ vì nó chẳng bao giờ biết giận. Ai cho miếng bánh, nó cười. Ai ném hòn đất, nó cũng cười. Trong cái thế giới của Khờ, dường như không có ai là người lạ. Ông bán chiếu đi ngang thì nó gọi là “Chú Hai”. Bà đi buôn chuyến trên ghe bầu thì nó gọi là “Dì Út”. Thậm chí cái cột điện đầu xóm, nó cũng đặt tên rồi chiều chiều ra vỗ vai hỏi: “Đứng cả ngày có mỏi chân không mày?”

Có lần, một ông cán bộ trên huyện về khảo sát đất đai. Ông mặc bộ đồ tây, thắt cà-vạt đỏ chói, tay xách cặp da, mặt mày nghiêm nghị. Cả xóm ai nấy đều e dè, đứng xa xa ngó chừng. Khờ thì không. Nó vừa thấy ông từ trên xe bước xuống, đã ba chân bốn cẳng chạy lại, mặt hớn hở như bắt được vàng:

“Trời ơi, anh Ba! Anh Ba đi đâu mà lâu dữ vậy? Sao nay anh ăn mặc giống… con công vậy anh Ba?”

Ông cán bộ sững sờ, mặt đỏ lên rồi tái đi vì chưa kịp hiểu “thằng em” này ở đâu ra. Chưa kịp định thần, nó nắm lấy cái tay trắng trẻo của ông kéo xềnh xệch về phía quán nước bà Tư:

“Đi anh Ba! Vô đây uống trà đá cho mát. Mẹ Sáu dặn hễ gặp anh là phải bắt về ăn cơm cá lòng tong. Ngon lắm!”

Mọi người nín thở, tưởng phen này Khờ gặp chuyện. Ai dè, cái sự ngây ngô một cách chân thành đến độ “mặt dày” của Khờ làm ông cán bộ không cách nào giận nổi. Nhìn đôi mắt trong veo và nụ cười rạng rỡ của nó, cái vẻ nghiêm nghị trên mặt ông bỗng tan chảy. Ông cười khà khà, vỗ vai Khờ:

“Ừ thì… uống trà đá! Mà tôi không phải anh Ba của cậu đâu nha.”

Khờ gật đầu lia lịa:

“Dạ, anh Ba không phải anh Ba, vậy anh Ba là… anh Tư! Chứ người nhà mình không hà, lạ gì đâu mà khách sáo!”

Thế là hôm đó, ông cán bộ ngồi bệt trên ghế gỗ nghe Khờ kể chuyện con cá trê lai và những linh hồn màu xanh lá. Lúc về, ông còn biếu Khờ cái bút bi đỏ, Khờ mừng húm, chạy khắp xóm khoe: “Anh Tư tặng em cây gậy phép!”

Có lần xóm có đám cưới. Nhà trai từ xa tới, mặt mày chú rể mồ hôi nhễ nhại, lo lắng vì trễ giờ lành. Khờ đang đứng tắm dưới sông, thấy đoàn người lếch thếch đi ngang, nó nhảy phắt lên bờ, mình mẩy còn ướt nhẹp vẫn chạy ra đón:

“Chú rể! Anh rể của em! Sao đi chậm vậy, chị Hai đợi ở nhà muốn héo queo như cọng rau muống rồi kìa! Để em dẫn đường cho.”

Khờ vừa chạy trước, vừa múa may quay cuồng như thầy pháp. Nó dẫn đoàn rước dâu đi tắt qua lối mòn băng qua vườn nhãn đang trổ bông. Đoàn người rước dâu, dù mệt rã rời nhưng nhìn cái điệu bộ hăng hái “lo chuyện bao đồng” của thằng bé khờ khạo, ai nấy đều bật cười, quên sạch cả bực dọc. Đám cưới năm đó, Khờ được mời ngồi mâm đầu, được chú rể gắp cho cái đùi gà to nhất. Khờ cười híp mắt:

“Ăn đi anh rể, người nhà không hà, đừng có ngại!”

Mười năm, với người khác là mười mùa lúa trổ, mười mùa nước nổi lên xuống trên bậc thềm. Nhưng với Khờ, mười năm chỉ là một cái chớp mắt dài dằng dặc. Trí não nó giống như chiếc đồng hồ bị ngấm nước, kim giây cứ giật lùi rồi đứng khựng lại ở đúng khoảnh khắc bàn tay thô ráp của ba đẩy mạnh nó vào triền sạt lở.

Mỗi khi trời đổ mưa dông, Khờ lại ra bến sông đứng đợi. Nó làm gì sợ mưa đâu, nó chỉ sợ ba dưới đó bị ướt thì lạnh lắm.

“Ba ơi, ba bơi lâu vậy, ba không thấy mỏi tay sao ba?”

Người trong xóm đi ngang thấy tội, bảo: “Khờ ơi, về đi con, ba mày hóa khói lâu rồi”. Khờ không tin. Trong đôi mắt trong veo của nó, ba chỉ đang “chơi trốn tìm” dưới những lớp phù sa kia thôi.

Có lần, bà Sáu mua cho nó một chiếc áo mới để đi đám cưới đầu xóm. Khờ nâng niu chiếc áo như báu vật nhưng vừa mặc vào được một lát, nó đã cởi ra, đem treo lên cành ổi trước sân.

“Sao không mặc hả con?” – Bà Sáu hỏi.

“Để dành cho ba mẹ ơi. Ba dưới đó lạnh lắm, áo ba rách hết rồi…”

Bà Sáu nghe con nói, tim thắt lại như ai bóp nghẹt. Bà nhận ra dù Khờ có quên cách tính tiền hay quên đường về nhà, thì cái ký ức về “sự hy sinh” của người cha vẫn sống động và tươi rói như vừa mới xảy ra tức thì. Nỗi đau ấy quá lớn, lớn đến mức nó chiếm hết mọi chỗ trống của sự trưởng thành, khiến Khờ mãi mãi là đứa trẻ mười tuổi đứng bên bờ vực thẳm của tình thương.

“Khờ ơi, vô ăn cơm con!” Tiếng bà Sáu khàn đặc, lẫn vào tiếng sóng vỗ rì rầm dưới chân sàn. Khờ nhảy xuống đất, bước chân nó nhẹ tênh. Bữa cơm của hai mẹ con chỉ có tô canh rau tập tàng với mấy con cá lòng tong kho mặn. Khờ bỗng khựng lại ở muỗng cơm đầu tiên. Nó nhìn vào bát cơm trắng, rồi nhìn mẹ.

“Mẹ ơi, sao cơm hôm nay canh đắng vậy?”

Bà Sáu cúi đầu, vạt áo sờn cũ chậm lên khóe mắt:

“Tại nắng to quá, gạo nó khô, chắc vậy con ạ.”

Khờ không nói gì. Nó biết mẹ nói dối. Nó thấy những hạt nước mắt của mẹ rơi vào nồi cơm khi bà đang vo gạo. Với Khờ, nước mắt người già đắng ngắt như mật cá trê. Nhưng nó vẫn nhai, vẫn nuốt ngon lành. Nó nuốt cái đắng cay của mẹ vào bụng mình, hy vọng sự đắng cay đời bà sẽ loãng bớt đi một chút.

Ở đầu xóm có ông Giáo già. Ông Giáo bị người đời nói là “khùng” vì ông suốt ngày đi nói chuyện với mấy cây cột điện. Nhưng Khờ rất thích ông Giáo. Trong mắt Khờ, ông Giáo đang dỗ dành những tiếng chim bị mắc kẹt trong dây điện chằng chịt.

Một buổi trưa nắng đổ lửa, Khờ thấy ông Giáo ngồi khóc bên vệ đường. Ông đánh rơi chiếc kính lão xuống rãnh nước, đôi mắt mờ đục nhìn quanh đầy tuyệt vọng. Khờ tiến lại gần, nhặt chiếc kính lên, dùng vạt áo đầy bùn đất của mình lau thật kỹ. Khờ không trả kính ngay mà đưa lên mắt mình nhìn thử. Thế giới qua đôi mắt kính của ông Giáo thật méo mó. Cây đa đầu đình bỗng cao lớn lạ thường, những đám mây trên trời bỗng gần đến mức có thể chạm tay vào.

“Ông ơi, sao kính của ông thấy toàn là nỗi buồn vậy?” – Khờ hỏi, giọng nó ngọng nghịu nhưng thanh thoát.

Ông Giáo ngước lên, sững sờ nhìn thằng bé khờ khạo.

“Đời người khi về già, nhìn đâu cũng thấy nỗi buồn con ạ. Vì cái gì mình thương cũng đã đi xa hết rồi.”

Khờ lắc đầu. Nó đặt chiếc kính vào tay ông Giáo, rồi chỉ tay lên tán cây xanh ngắt:

“Không phải đâu. Ông nhìn kìa, bà nhà đang ngồi trên đó, bà mặc áo màu hoa mướp, đang ngồi quạt cho ông đó. Bà bảo ông đừng khóc, kính ướt bà không thấy đường về thăm ông đâu.”

Ông Giáo bỗng run lên. Vợ ông mất vì bạo bệnh, lúc đi bà vẫn tiếc chiếc áo bà ba màu vàng hoa mướp chưa kịp mặc. Một đứa trẻ khờ chưa bao giờ bước chân vào nhà ông sao lại biết điều đó? Khờ cười hì hì, rồi chạy biến đi. Nó không biết lời nói ngây dại của nó vừa dán lại một mảnh vỡ trong tâm hồn già nua của người giáo viên cũ.

Nhưng thế gian này đâu chỉ có những người hiền lành như ông Giáo. Có những người mang tâm hồn đen đặc như hũ mắm để lâu ngày. Đó là gã lái buôn tên Lợi. Gã ghét Khờ vì Khờ hay đứng nhìn gã. Gã sợ đôi mắt trong veo của nó, đôi mắt mà gã cảm thấy như đang lột trần những gian trá, lọc lừa trong từng cân hàng, thớ thịt của gã.

“Đồ thằng điên! Nhìn gì mà nhìn!” – Lợi vung chiếc roi da thường dùng để lùa trâu, quất một đường vào vai Khờ. Vết thương rướm máu, đỏ tươi trên làn da rám nắng. Khờ nhìn gã Lợi bằng một nỗi thương cảm sâu sắc.

“Ông Lợi ơi, sau lưng ông… sợ quá.”

“Mày nói cái gì?” – Gã Lợi trừng mắt.

“Có mấy đứa nhỏ không có đầu, chúng nó đang bám vào cổ ông. Chúng nó nói ông lấy mất phần sữa của chúng nó. Ông đau lắm phải không?”

Gã Lợi tái mặt, chiếc roi da rơi khỏi tay. Gã nhớ đến những chuyến hàng gian, những lần gã pha tạp chất vào sữa cho trẻ em nghèo để kiếm lời. Gã lảo đảo lùi lại, nhìn thằng Khờ như nhìn một con ma. Khờ không nói nữa. Nó không cố ý làm người ta sợ, nó chỉ nói ra những gì nó thấy. Mà khổ thay, sự thật thường là thứ đáng sợ nhất đối với những người ưa giả dối.

Đêm đó, Khờ nằm trên chõng tre, vết thương trên vai đau nhức. Bà Sáu ngồi bên cạnh, vừa xức dầu vừa khóc.

“Sao con không tránh? Sao con cứ để người ta đánh?”

Khờ quay sang nhìn mẹ, đôi mắt nó lấp lánh dưới ánh trăng:

“Mẹ ơi, con không đau bằng ông ấy đâu. Ông ấy mang theo những tiếng khóc nặng lắm. Con chỉ đau có một lằn roi thôi.”

Bà Sáu ôm con vào lòng, hơi ấm từ lồng ngực gầy guộc của bà lan tỏa. Đứa con bà hằng lo lắng bấy lâu lại chính là người đang gồng gánh nỗi đau của cả cái xóm này trên đôi vai nhỏ bé ấy.

Mùa hạ năm đó, trời khô khốc như một miếng quế chi bị bỏ quên trên gác bếp. Cánh đồng nứt nẻ, những kẽ đất há mồm chờ nước đến nỗi cỏ gà cũng cháy sạm. Nhưng cái nóng của trời không đáng sợ bằng cái nóng trong lòng người.

Gã Lợi đồ tể có lần đi ngang, thấy Khờ ngồi lẩm bẩm bên vũng nước, gã dừng lại, định buông lời mỉa mai như mọi khi. Nhưng nhìn thấy bàn tay gầy gò của Khờ đang cố hứng lấy một cái bong bóng sắp vỡ, gã bỗng thấy khựng lại. Gã nhớ đến cha mình, người mà gã đã lâu không về thăm, người mà gã chỉ nhớ đến khi cần tiền.

Gã Lợi bước lại ngồi xuống cạnh Khờ, giọng bỗng mềm đi:

“Ba mày… có khỏe không Khờ?”

Khờ ngước lên, đôi mắt lấp lánh niềm vui:

“Khỏe lắm ông Lợi! Ba nói ông cũng có một người ba đang đứng đợi sau lưng kìa. Ba ông nói ông hay ăn mặn quá, bớt ăn mặn lại cho lòng nó trong.”

Gã Lợi sững sờ. Cha gã hồi còn sống vẫn hay mắng gã cái tính tham lam, ăn mặn nói dữ. Gã nhìn vào vũng nước đục ngầu phù sa dưới chân Khờ, lần đầu tiên gã thấy bóng mình trong đó không còn méo mó nữa.

Thứ Bảy, trời vẫn đứng gió. Khờ vẫn ngồi trên thân dừa mục, nhìn dòng sông đỏ quánh như một bát canh mẹ nấu quá tay. Dù người đời có gọi nó là Khờ, là điên, thì nó vẫn là đứa trẻ hạnh phúc nhất xóm này. Nó đưa tay ra không trung, như thể đang nắm lấy một bàn tay vô hình nào đó:

“Ba ơi, dắt con đi chơi. Người nhà mình không hà, đừng có trốn con nữa nha ba!”

Gió bỗng thổi nhẹ, lay động những tàu lá dừa xào xạc. Có lẽ, ba nó đã nghe thấy. Và có lẽ, trong cái thế giới ấy, Khờ mới là người đi xa nhất trên con đường của sự tha thứ và thương yêu.

Nhưng xóm nhỏ ven sông cũng giống như cái khạp nước mưa, có lớp nước trong veo phía trên thì cũng có lớp cặn đọng lại dưới đáy. Người ta khinh Khờ vì nó không biết tạo ra của cải. Trong một thế giới mà người ta đo giá trị của nhau bằng số bao lúa gặt được, bằng số vàng khoen đeo trên cổ, thì đứa trẻ như Khờ chỉ là một gánh nặng mà thôi.

Có lần, bà Sáu đi chợ về, thấy Khờ bị đám trẻ con bôi bùn lên mặt nó, bắt nó quỳ xuống lạy. Bà Sáu lao vào như một con hổ già bảo vệ con, bà gào lên trong nước mắt:

“Tụi bây có tim không? Nó có làm gì tụi bây đâu mà ác đức vậy?”

Đám trẻ tản ra, miệng còn ném lại những câu nói sắc lẹm:

“Điên thì cho vào nhà thương điên mà ở, để ở đây làm bẩn mắt thiên hạ!”

Khờ đưa bàn tay đầy bùn vuốt nước mắt cho mẹ. Nó không hiểu tại sao mẹ khóc.

“Mẹ ơi, đừng buồn. Các bạn đang chơi đồ hàng với con mà. Bùn này mát lắm mẹ, giống như hơi ấm của ba vậy.”

Bà Sáu ôm con vào lòng, bà khóc cho con. Bà biết, Khờ không phải không biết đau, mà là nó đã biến nỗi đau thành một thứ lòng thấu cảm. Người ta ném bùn vào nó, nó thấy đó là quà của đất. Người ta chửi rủa nó, nó nghe như tiếng gió rít qua rặng tre. Những mũi tên khinh miệt của cuộc đời đều bị bẻ gãy trước nụ cười ngây dại của cậu.

Và rồi ngày ấy đến. Đêm mười bốn tháng Bảy, khi cả xóm đang chìm vào giấc ngủ chập chờ chờ, một tiếng nổ xé toạc màn đêm từ phía kho chứa điều của gã Hải đầu xóm. Chỉ trong chớp mắt, con quái vật màu cam rực ấy đã bành trướng lãnh địa sang những mái lá khô lợp san sát nhau. Gió từ sông thổi vào như tiếp thêm sức mạnh cho tử thần. Cả xóm nhỏ hỗn loạn trong tiếng la hét, tiếng xô chậu, tiếng trẻ con khóc thét lạc giọng. Họ hoảng loạn vơ vét vàng bạc, giấy tờ, rồi giẫm đạp lên nhau mà chạy. Trong cơn mê sảng của khói và lửa, không ai nhớ đến căn chòi của bà Sáu nằm sâu trong hẻm cụt đang bị lửa bủa vây như một chiếc lồng sắt nung đỏ

Khờ không sợ. Nó thấy mẹ Sáu đang lịm đi vì sặc khói. Trong khoảnh khắc ấy, cuộn phim kẹt mười năm trước bỗng dưng chuyển động. Hình ảnh ba đẩy nó lên bờ trong tiếng sóng gào thét bỗng chồng khít lên hình ảnh ngọn lửa đang gầm rống trước mặt. Một sức mạnh vô hình nào đó bỗng trỗi dậy trong lồng ngực gầy guộc của chàng trai mang trí não mười tuổi

Khờ dùng đôi vai trần húc đổ vách nứa đã mục, cõng mẹ trên lưng. Đôi chân trần của nó đạp lên than hồng mà nó cứ ngỡ là những cánh hoa phượng vĩ đỏ rực ngày xưa ba hay nhặt cho nó chơi. Nó không thấy đau, hay đúng hơn, cái đau của da thịt lúc này chẳng thấm tháp gì so với nỗi sợ hãi người nhà của nó sẽ tan vào khói bụi. Nhưng khi vừa đặt bà Sáu xuống, Khờ bỗng khựng lại. Đôi mắt trong veo của nó nhìn về phía căn hầm của nhà ông Giáo già.

“Ông Giáo… ông Giáo chưa ra!” – Khờ thét lên, giọng nó không còn ngọng nghịu mà vang vọng như tiếng chuông đại hồng chung.

Mọi người trên bờ đê đều đứng khựng lại. Không ai dám quay lại. Lửa đã nuốt chửng lối đi vào hẻm. Khói đen kịt như một bức tường thành không thể xuyên phá.

“Mày khùng quá Khờ ơi! Vào đó là chết!” – Ai đó hét lên.

Nó lại quay vào cứu ông, mặc kệ mái tóc mình bắt đầu khét lẹt, mặc kệ làn da đang phồng rộp lên vì hơi nóng. Với Khờ, lúc này lửa chỉ là một trò chơi trốn tìm gay cấn nhất mà nó từng chơi với ba. Và nó phải thắng, vì nó không muốn ai phải tan vào sương khói như ba nó mười năm trước nữa.

Lúc này, giữa biển lửa mênh mông, người ta thấy một cảnh tượng mà suốt đời họ không bao giờ quên được. Thằng Khờ bẻ những cành cây đang cháy, nó dạt khói bằng đôi tay không. Nó tìm thấy ông Giáo đang kẹt dưới một khúc xà nhà đổ sập. Một mình nó với đôi vai gầy guộc ấy, đã nhấc bổng khúc gỗ nặng nghìn cân mà hai người đàn ông tỉnh táo chưa chắc đã làm nổi.

Khờ cõng ông Giáo ra ngoài. Khi nó bước ra khỏi bức tường lửa, toàn thân cháy xém, đôi mắt kính của ông Giáo vỡ tan trong tay nó, mọi người im bặt. Lần đầu tiên, người ta nhìn “thằng điên” bằng một sự kính sợ tôn thờ.

Khờ không chết sau vụ hỏa hoạn, nhưng đôi mắt nó vĩnh viễn chẳng còn thấy màu sắc trần gian. Bác sĩ nói tại khói độc, hơi nóng nung nấu đôi nhãn cầu quá lâu trong cái đêm định mệnh ấy. Nhưng Nội nói có lẽ ông trời thấy Khờ đã nhìn thấu hết những nỗi đau của nhân gian rồi, nên cho đôi mắt nó nghỉ ngơi. Từ nay, Khờ sẽ nhìn đời bằng một thứ ánh sáng khác mà cả tử thần cũng phải nể sợ.

Ngày Khờ từ trạm xá về, cả xóm đứng đợi ở đầu đê. Không ai bảo ai, họ tự giác dẹp dọn những mảnh xà gồ cháy sém, họ dọn lối đi cho sạch dấu tro tàn để bước chân người mù không bị vấp. Khờ bước đi loạng choạng, bàn tay gầy gò quờ quạng trong không trung. Nhưng kỳ lạ thay, nó không hề sợ hãi. Mỗi khi nó sắp chạm vào một hòn đá hay một gốc cây, lại có một bàn tay khác nhẹ nhàng đỡ lấy, dắt nó đi.

“Ai đó? Anh Ba phải không? Hay là chị Hai?” – Khờ cười, nụ cười vẫn hơ hớ như mùa xuân năm cũ.

Người dắt tay nó là gã Lợi. Gã không còn đeo vàng khè cổ, đôi bàn tay từng quen cầm roi da giờ đây run run nắm lấy tay Khờ, dẫn nó về phía căn chòi mới mà gã cùng đám thanh niên trong xóm vừa dựng lại bằng những cây gỗ tốt nhất.

“Ừ, anh Ba đây Khờ. Để anh dắt em về nhà. Nhà mình xây xong rồi, đẹp lắm.”

Khờ gật đầu lia lịa. Dù đôi mắt chỉ còn một màu đen đặc nhưng Khờ nói nó thấy “sáng” lắm. Nó thấy mùi thơm của gỗ mới, mùi nồng của phù sa, và đặc biệt là mùi của sự tử tế đang lan tỏa khắp không gian mà trước đây nó chưa từng cảm nhận được.

Thứ Bảy, trời vẫn đứng gió trên bến sông phù sa. Khờ vẫn ngồi vắt vẻo trên thân dừa mục, dù giờ đây nó không còn nhìn thấy dòng nước đỏ ngầu. Nó lắng tai nghe tiếng nước vỗ vào mạn ghe, nghe tiếng bìm bịp kêu nước lớn. Bà Sáu ngồi bên cạnh, chải lại mái tóc cháy sém của con giờ đã lốm đốm mọc lại xanh rì.

“Mẹ ơi, ba vẫn ở dưới đó hả mẹ?” – Khờ hỏi, giọng thì thầm.

Bà Sáu nhìn xuống dòng sông soi những bóng nắng đang nhảy múa trên mặt nước, rồi bà nhìn sang những người hàng xóm đang tất bật giúp nhau dựng lại nhà cửa. Bà mỉm cười, cầm lấy tay con:

“Ba không còn ở dưới sông nữa đâu Khờ. Ba về rồi. Ba ở trong này nè, ở trong tất cả mọi người ở đây.”

Khờ lại hỏi mẹ:

“Mẹ ơi, thế giới bây giờ màu gì?”

Bà Sáu nắm lấy bàn tay sẹo lồi lõm của con, khóc không thành tiếng:

“Màu của tình thương con ạ. Nó đẹp lắm.”

Khờ mỉm cười, trong bóng tối của đôi mắt, tâm hồn nó đã trở thành một ngọn hải đăng rạng rỡ nhất. Nó bảo từ lúc bóng tối phủ xuống, nó không còn thấy những gương mặt nhăn nhó vì lo toan, không còn thấy những lườm nguýt của thói đời. Trong đầu nó giờ đây chỉ còn lưu giữ những gì đẹp nhất.

Bà Sáu bước ra, tay bưng tô cơm bốc khói nghi ngút. Bà không còn phải vo gạo trong nước mắt nữa. Tô cơm hôm nay trắng tinh khôi, từng hạt dẻo thơm, không một chút bụi than. Bà xúc từng muỗng nhỏ, thổi cho nguội rồi đưa lên miệng con.

“Ăn đi con, cơm trắng mẹ nấu thơm lắm.”

Khờ nhai chậm rãi để cảm nhận hết vị ngọt của lúa mới và hơn hết là vị mặn mòi của tình thương đã được gạn lọc qua bao nhiêu dâu bể.

Gió từ sông thổi lên. Khờ ngước gương mặt mù lòa về phía trời cao, nơi nó tin rằng ba nó vẫn đang đứng đó nhìn xuống xóm nhỏ này.

“Ba ơi, cơm trắng ngon quá ba ạ. Người nhà mình ai cũng được ăn cơm trắng hết rồi, ba đừng lo cho con nữa nha ba!”

Dòng sông vẫn trôi, đỏ ngầu phù sa như muôn đời vẫn thế. Nhưng ở cái xóm ven sông này, từ nay về sau, người ta sẽ kể cho nhau nghe về một ngọn hải đăng nằm trong lồng ngực gầy gò của một đứa trẻ bị người đời gọi là Khờ. Để mỗi khi lòng người trở nên tăm tối, họ chỉ cần nhìn về phía bến sông là sẽ thấy đường để quay về với sự tử tế của chính mình.

M.T.N.Y