Lá thư chưa gửi – Truyện ngắn dự thi của Văn Minh Huy

Lá thư chưa gửi - Truyện ngắn dự thi của Văn Minh Huy

Tháng tư năm 1917, thời tiết ở miền Bắc nước Pháp khắc nghiệt đến lạ, từng cơn gió lạnh thấu xương cứ thế bay thoảng qua thân thể những người lính An Nam ngồi co ro trong các chiến hào ẩm mốc.
Cuộc tấn công trên cao nguyên Chemin des Dames đã bước sang tuần thứ hai.
Lam ngồi tựa lưng vào thành hào. Trước mặt anh là một tờ giấy đã nhàu góc và một cây bút máy cũ. Ánh đèn dầu leo lét hắt xuống đôi bàn tay chai sần của người nông dân Nam Kỳ năm nào.
Anh nhìn trang giấy thật lâu rồi mới cẩn thận đặt bút xuống:
“Hai em thương nhớ…”
Vừa viết được bốn chữ, Lam lại dừng. Một giọt mực đen rơi xuống giấy, loang thành một vệt nhỏ.
Ngày còn ở quê nhà, anh đâu có ngờ rằng sẽ có một ngày anh phải ngồi viết thư ở một nơi xa lạ thế này. Chữ nghĩa khi ấy đối với anh cũng xa lạ chẳng kém gì nước Pháp. Nếu không nhờ thằng Khánh kiên nhẫn chỉ từng nét chữ trong những buổi tối ở doanh trại, có lẽ đến bây giờ anh vẫn không biết bắt đầu một bức thư như thế nào.
Lam đưa tay khẽ vuốt mép giấy.
Bên ngoài trời đã sập tối từ bao giờ, tiếng pháo từ xa xa vẫn đều đặn vang lên như thể có một gã khổng lồ vô hình đang nện cây búa xuống mặt đất liên hồi.
Anh lại nhớ về Khánh.
Mới ngày nào cả hai còn đang say sưa kể về những dự định của mình sau khi chiến tranh kết thúc. Vậy mà giờ đây, mỗi người một nơi.
Lam ngồi trong chiến hào, còn Khánh thì đã nằm lại trên cao nguyên Chemin des Dames.
Anh cúi đầu nhìn những dòng chữ còn dang dở.
Anh định viết rằng mình vẫn khỏe. Nhưng ngoài kia những cây thập tự vẫn cứ được cắm xuống ngày một dày đặc trên sườn đồi.
Anh định viết rằng chiến tranh sắp kết thúc. Nhưng chính anh cũng không tin điều đó.
Anh định kể cho hai em nghe về nước Pháp. Về những cánh đồng trải dài tít tắp đến tận chân trời. Về mùa đông lạnh buốt mà một người nông dân sống quanh năm với ruộng lúa như anh cũng chưa từng tưởng tượng nổi.
Nhưng rồi tất cả điều ấy bỗng trở nên vô nghĩa, bởi điều anh muốn nói nhất lại là điều anh không biết phải viết thế nào.
Anh nhớ nhà.
Nhớ căn chòi nhỏ mé bên sông.
Nhớ đứa em gái thường để dành phần cơm ngon nhất cho anh.
Nhớ cậu em trai hay ngồi dưới ngọn đèn dầu đọc những cuốn sách cũ mượn từ trường làng.
Lam nhắm mắt lại.
Trong khoảnh khắc ấy, tiếng pháo ngoài xa dường như biến mất.
Anh thấy mình đang đứng ở đầu làng. Hai đứa em đứng nép bên nhau lặng lẽ nhìn anh bước lên chiếc xe chở lính, khóc không thành tiếng.
Ánh mắt tụi nó khiến anh day dứt suốt quãng đường vượt biển sang đất Âu châu.
Đáng lẽ ra Lam đã không phải đến nơi này. Vì vốn dĩ suất đi lính của anh ngay từ đầu thuộc về thằng Tường, con ông Ba Thạnh, nhà khá giả trong làng. Nhờ có gia đình chạy chọt nên nó mới thoát. Thế là ông lý trưởng quyết định bắt Lam đi thay để đủ chỉ tiêu.
Một tiếng nổ lớn bất ngờ vang lên đâu đó phía trước chiến tuyến. Mặt đất khẽ rung chuyển.
Lam mở mắt.
Trước mặt anh vẫn là chiến hào, là bóng tối mờ mịt, là trang giấy còn bỏ ngỏ.
Anh hít một hơi thật sâu rồi tiếp tục viết:
“Hai đứa đừng lo cho anh…”
Lam dừng bút một lát rồi ngẩng đầu nhìn lên khoảng trời đen đặc phía trên miệng chiến hào.
Một cơn gió lạnh lại tràn qua, mang theo mùi đất ẩm và khói thuốc súng.
Anh khẽ cười, nụ cười nhạt đến mức chính anh còn không nhận ra.
Ngày anh rời xứ, đứa em gái mới mười ba tuổi, còn cậu em trai thì vẫn chưa thôi cái tính ngang bướng. Cả hai đứa đều gầy gò như những cây lúa non sau mùa hạn. Trước khi bước lên xe, Lam đã dúi vào tay bác Tư hàng xóm khoản tiền dành dụm được bấy lâu nay, nhờ bác thay mình chăm sóc các em.
Đó là lần đầu tiên trong đời anh thấy bất lực đến thế.
Lam cúi xuống trang giấy. Ngòi bút run run viết tiếp:
“Anh vẫn mạnh khỏe, công việc bên này cũng không đến nỗi vất vả. Hai đứa nhớ nghe lời bác Tư, đừng cãi nhau như hồi trước.”
Viết đến đây, anh bất giác dừng lại.
Những dòng chữ trước mặt khiến anh nghèn nghẹn nơi cổ họng.
Anh biết rõ hơn ai hết mình đang nói dối.
Một tuần trước, Khánh còn đang ngồi ngay bên cạnh anh trong chiến hào này. Khánh vừa cười vừa khoe rằng sau chiến tranh sẽ về mở một hiệu buôn nhỏ ở Mỹ Tho. Thiên thì bảo sẽ trở lại quê nhà ở Hải Ninh để tiếp tục công việc học còn dang dở.
Thế mà chỉ vài ngày sau, cả hai đã nằm lại trên sườn đồi đầy bùn đất của Chemin des Dames. Họ tử trận dưới hỏa lực dày đặc của súng máy Đức.
Anh khép mắt lại.
Bỗng nhiên anh lại nhớ tới những buổi tối trong doanh trại. Khánh ngồi cạnh ngọn đèn dầu, kiên nhẫn nắn từng nét chữ.
“Viết lại đi, xấu quá”
“Chữ này sai rồi”
Lúc ấy Lam chỉ cười trừ. Anh nào ngờ rằng, giữa đất trời xa lạ này, thứ duy nhất giúp anh giữ được chút hơi ấm của quê nhà lại chính là những con chữ mà Khánh đã dạy.
Lam lại cúi xuống nhìn bức thư còn dang dở.
Anh nhìn dòng chữ vừa viết hồi lâu rồi thở dài.
Ngoài chiến hào, gió vẫn rít qua những hàng rào dây thép gai đen sẫm vươn màu máu. Từ phía xa, tiếng pháo lẻ tẻ vọng lại, nhưng không còn dữ dội như những ngày đầu của trận đánh.
Bỗng có tiến chân lội bùn từ cuối chiến hào tiến lại.
Lam ngẩng đầu lên nhìn.
Là Long.
Long ôm chiếc áo khoác quân đội đã sờn cũ, lặng lẽ ngồi xuống bên cạnh anh. Trên khuôn mặt thiếu sức sống của người thanh niên xứ Hải Dương vẫn còn nguyên vẻ mệt mỏi sau những ngày giao tranh.
“Viết thư à?” – Long hỏi
“Ừ. Viết hoài mà không biết viết gì.”
Long khẽ cười
“Nếu là Khánh thì giờ nó lại càm ràm rồi.”
Lam không đáp.
Một khoảng lặng kéo dài giữa hai người, chỉ còn tiếng gió luồn qua miệng chiến hào.
Long cúi xuống nhặt một hòn đất nhỏ, vê trong tay.
“Hôm trước tao lục đồ của nó.”
Giọng anh trầm xuống.
“Trong ba lô vẫn còn quyển sổ tập viết của mày.”
Lam bất giác siết chặt cây bút.
Trước mắt anh, ánh đèn dầu leo lét bỗng nhòe đi.
Anh lại nhớ đến những ngày trên con tàu vượt biển trước kia.
Con tàu chở hàng trăm người An Nam rời bến cảng Sài Gòn trong tiếng còi dài não nuột. Trên boong tàu chật hẹp, những khuôn mặt xa lạ ngồi chen vai thích cánh, mang theo cùng một vẻ hoang mang về miền đất mà chẳng ai biết rõ đang chờ đợi mình phía trước. Họ bị ép phải rời bỏ quê nhà, băng qua một nửa địa cầu rồi cầm súng bảo vệ “mẫu quốc”, chĩa lưỡi lê vào những con người đến từ một đất nước mà họ còn chẳng biết đến.
Hôm đó, Lam đứng nhìn tờ giấy được dán trên vách tàu, anh nhìn đám chữ ngoằn ngoèo trên đó mà vẫn không hiểu nổi.
“Không biết đọc hả?”
Lam quay lại.
Một thanh niên trạc tuổi anh đang đứng đó.
Nước da ngăm, vóc người gầy nhưng nhanh nhẹn. Trên môi lúc nào cũng như thấp thoáng một nụ cười.
Lam hơi ngượng.
“Ừm…Tôi chỉ biết có vài chữ thôi.”
Người thanh niên bước tới gần tờ giấy, đọc lướt rồi cất giọng:
“Tập trung ở boong trước vào sáu giờ sáng ngày mai để điểm danh và nhận quân trang.”
Lam gật gù như vừa nghe một thứ gì đó rất quan trọng.
Người thanh niên bật cười, chìa tay ra về phía Lam.
“Tôi là Khánh. Người Mỹ Tho.”
Lam do dự một chút rồi đưa tay ra bắt lấy.
“Tôi tên Lam. Quê ở Gia Định.”
Khánh gật đầu, mỉm cười.
“Mấy chữ này dễ lắm. Học mấy bữa là biết đọc liền.”
Lam nhìn tờ giấy rồi cười ngượng.
“Tuổi này rồi học hành gì nữa.”
Khánh bật cười.
“Học đi để mốt còn viết thư gửi về nhà.”
Nghe đến hai chữ “về nhà”, ánh mắt Lam chợt chùng xuống.
Khánh không nói gì nữa, chỉ lặng lẽ đứng bên cạnh Lam ngắm nhìn mặt biển xám ngắt trải dài bất tận.
Hơn một tháng sau, con tàu cập cảng Marseille.
Đó là lần đầu tiên Lam được đặt chân lên đất Pháp.
Cái lạnh nơi đây khác hẳn những cơn gió mùa hiếm hoi ở quê nhà. Nó ngấm vào da thịt như nước lạnh thấm qua tấm chiếu cũ. Trên đường từ cảng về doanh trại, Lam ngồi trên thùng xe, nhìn những dãy nhà bằng đá xám chạy lùi về phía sau mà ngỡ như mình đang ở một thế giới khác.
Cuộc sống ở doanh trại nhanh chóng trở thành một vòng lặp đơn điệu.
Sáng tập bắn. Chiều tập đội hình. Tối lau súng, vá lại quân phục và đánh bóng giày.
Ngày nào cũng như ngày nào.
Một hôm, sau một buổi huấn luyện kéo dài đến tận chiều muộn, Lam và Khánh ngồi tựa lưng vào bức tường gạch phía sau doanh trại.
Lam thốt lên với giọng điệu đầy mệt mỏi:
“Tập mấy cái này chi, ra chiến trường không lẽ lúc tháo chạy cũng theo hàng ngũ?”
Lam vừa dứt lời, gần đó bỗng vang lên giọng nói:
“Quân không có kỷ luật thì sao đánh trận?”
Lam và Khánh ngoái đầu nhìn về phía phát ra giọng nói. Đó là một thanh niên chừng ngoài hai mươi tuổi đang ngồi bên cửa sổ.
Anh ta nói tiếp.
“Ngày xưa quân nhà Trần đánh thắng quân Nguyên ba lần cũng là vì giữ được quân lệnh nghiêm minh.”
Nghe đến đây, trong lòng Lam bỗng trào dâng một cảm giác hoài niệm. Đúng vậy, anh cảm thấy hoài niệm về một thời đại mà anh còn chẳng sống ở đó. Hoài niệm về một thời kỳ mà người Việt từng làm chủ đất nước…
Khánh chống tay lên đầu gối, cất giọng:
“Anh biết cũng nhiều ghê.”
“Tôi đọc được trong sách thôi.” – Người thanh niên khiêm tốn.
“Vậy anh tên gì, quê ở đâu?”
“Giang, quê Quảng Nam.”
Khánh gật gù, rồi hỏi tiếp:
“Anh nói quân mình ngày xưa giỏi vậy…sao giờ lại để mất nước?”
Nụ cười trên môi Giang nhạt đi đôi chút.
Anh im lặng một lúc rồi nhìn ra khoảng trời xám bên ngoài khung cửa.
“Chuyện đó…” anh nói chậm rãi, “không thể giải thích chỉ trong một câu được.”
Giang vừa dứt lời thì từ phía cuối phòng bỗng vang lên tiếng cười.
“Vậy thì anh phải giải thích cho bọn tôi.”
Ba người quay đầu nhìn lại
Hai thanh niên đang bước vào doanh trại sau buổi huấn luyện chiều. Người đi trước cao gầy, khuôn mặt sáng và đeo cặp kính gọng tròn đã cũ. Người đi phía sau thấp hơn một chút, vai rộng, nước da sạm nắng và dáng điềm đạm.
Người đeo kính kéo một chiếc ghế gỗ lại gần.
“Nếu chuyện mất nước mà giải thích được trong một câu thì chắc người mình chẳng khổ đến thế.”
Giang bật cười.
Sau vài câu làm quen, cả năm người ngồi vây thành một vòng tròn nhỏ bên bức tường gạch lạnh ngắt.
Người đeo kính tên Thiên. Còn người kia là Long.
Họ nói đủ thứ chuyện trên đời.\
Từ quê quán, mùa màng ngoài Bắc, những con nước ở miền Tây Nam Kỳ cho đến cái lạnh thấu xương của nước Pháp.
Khánh kể về lúc còn ở Mỹ Tho, hồi mà gia đình vẫn còn khá giả, chưa tán gia bại sản vì làm ăn thua lỗ.
Thiên và Long thì kể về hồi cả hai mới gặp nhau trên tàu từ cảng Hải Phòng sang Pháp. Khi tàu đến Địa Trung Hải, họ trằn trọc không ngủ suốt mấy đêm liền vì nghe tin có tàu ngầm Đức, sợ rằng chưa kịp cầm súng đã bỏ mạng ngay ngoài biển.
Giang thì kể về những món khoái khẩu của mình hồi còn ở quê nhà Quảng Nam.
Lam thì trầm hơn nhiều, chỉ ngồi lắng nghe câu chuyện của mọi người. Thỉnh thoảng mới mở lời nói vài câu.
Ngoài cửa sổ, bầu trời nước Pháp đã dần chuyển sang màu xám chì.
Thiên đưa mắt nhìn ra khoảng sân doanh trại rồi hỏi:
“Các anh có còn nhớ quê không?”
Câu hỏi khiến mọi người im lặng.
Khánh là người lên tiếng trước.
“Nhớ. Tôi nhớ tía má.”
Long cười nhạt.
“Tôi thèm tô bún cá rô ở quê”
Lam cúi đầu nhìn đôi bàn tay chai sần của mình.
Anh nhớ ruộng lúa.
Nhớ căn chòi nhỏ bên mé sông.
Nhớ hai đứa em đang ở cách mình nửa vòng trái đất.
Một lúc sau, Giang chậm rãi nói:
“Rồi cũng có ngày mình về thôi.”
Không ai đáp lại.
Nhưng trong khoảnh khắc ấy, giữa doanh trại lạnh lẽo nơi đất khách, cả năm người đều muốn tin vào điều đó…
Những ngày sau đó trôi qua nhanh đến lạ.
Ban ngày, cả nhóm cùng nhau tập bắn, tập hành quân, tập đào chiến hào dưới cái lạnh cắt da của miền Bắc nước Pháp.
Ban đêm, họ ngồi chen chúc trong doanh trại, chuyền tay nhau những lá thư hiếm hoi từ quê nhà vượt nửa vòng trái đất để tới nơi này.
Khánh kiên nhẫn dạy Lam viết từng con chữ.
Giang thì đều đặn kể những câu chuyện lịch sử đầy bi tráng của dân tộc.
Thiên thường ngồi bên cửa sổ với một cuốn sách cũ trên tay, thỉnh thoảng lại đọc thành tiếng những đoạn mà anh thấy tâm đắc.
Còn Long ít nói nhất. Nhưng mỗi khi ai đó gặp khó khăn, anh luôn là người đầu tiên bước tới giúp đỡ.
Mùa đông qua đi.
Rồi mùa xuân đến.
Những cánh đồng nước Pháp dần phủ một màu xanh non.
Chiến tranh dường như vẫn ở rất xa. Có những lúc, cả năm người đã tưởng rằng mình có thể sống sót để trở về quê nhà.
Nhưng chiến tranh chưa bao giờ thật sự ở xa. Nó chỉ đang chờ đợi.
Đầu tháng tư năm 1917, đơn vị của họ nhận lệnh rời doanh trại. Điểm đến là một mặt trận mang cái tên mà không ai trong số họ từng nghe qua trước đó.
Chemin des Dames.
Sau khi nhận lệnh hành quân, không khí trong doanh trại thay đổi hẳn.
Những câu chuyện về quê nhà thưa dần. Tiếng cười cũng ít đi. Ai cũng hiểu rằng lần này họ không còn ở phía sau chiến tuyến nữa.
Trên chuyến tàu đưa đơn vị ra mặt trận, cả năm người ngồi sát bên nhau trong một toa hàng chật hẹp.
Khánh vẫn cố pha trò.
Thiên vẫn mang theo cuốn sách cũ đã sờn mép.
Giang lặng lẽ nhìn ra cửa sổ.
Long ngồi dựa vào vách toa, hai tay khoanh trước ngực.
Còn Lam thì nhìn những cánh đồng nước Pháp đang lùi dần phía sau.
Không ai biết chuyến đi ấy sẽ đưa mình tới đâu.
Mãi đến khi đoàn tàu dừng lại giữa một vùng đồi trọc phủ đầy bùn đất và dây thép gai, họ mới hiểu chiến tranh thực sự trông như thế nào.
Trước mặt họ là những chiến hào ngoằn ngoèo kéo dài đến tận đường chân trời. Những thân cây gãy đổ. Những hố pháo ngập nước. Và mùi thuốc súng không bao giờ tan hết trong không khí.
Những ngày đầu ở mặt trận trôi qua trong bùn đất, giá rét và những đêm mất ngủ.
Chiến hào không giống bất cứ điều gì họ từng tưởng tượng.
Nó không có những cuộc xung phong hào hùng như trong lời kể của các sĩ quan. Chỉ có những đoạn hào ngập nước, những bức tường đất sụt lở và tiếng pháo vọng về gần như không ngừng nghỉ.
Thời gian ở đó dường như trôi theo nhịp của những loạt pháo kích.
Ngày nối ngày.
Tuần nối tuần.
Đầu tháng tư năm 1917, tin về một cuộc tấn công lớn bắt đầu lan khắp các đơn vị.
Mặt đất rung chuyển liên tục dưới bánh của những chiếc xe nối đuôi nhau chở đạn pháo ra tiền tuyến.
Tối hôm trước ngày xuất kích, cả năm người ngồi sát bên nhau trong một góc chiến hào.
Khánh lấy từ trong túi áo ra một mẩu giấy đã nhàu.
“Về tới Mỹ Tho, tao mở hiệu buôn.”
Anh cười.
“Lời rồi tao hứa đãi tụi bây một bữa.”
Thiên lắc đầu.
“Chưa về tới nơi đã tính chuyện làm giàu.”
“Còn hơn suốt ngày ôm sách.”
Mọi người bật cười.
Ngay cả Long cũng khẽ nhếch môi.
Rồi những tiếng cười ấy cũng nhanh chóng tan vào màn đêm.
Sáng hôm sau, pháo binh bắt đầu nổ. Mặt đất rung chuyển. Khói và đất đá phủ kín những sườn đồi.
Lam chỉ còn nhớ những tiếng hô lẫn trong tiếng pháo, tiếng đạn từ súng máy bên kia chiến tuyến.
Nhớ những bóng người lao về phía trước.
Nhớ bùn đất bắn tung lên từ các hố đạn.
Rồi mọi thứ trở nên hỗn loạn.
Khi Lam gặp lại Thiên, người bạn đã nằm bất động bên sườn dốc.
Cuốn sách cũ mà anh vẫn luôn mang theo không còn ở đó nữa.
Lam gọi tên Thiên.
Nhưng không có ai trả lời.
Sau đó không lâu, Khánh cũng biến mất giữa màn khói dày đặc của chiến trường.
Đến khi trận đánh lắng xuống, người ta mới tìm thấy anh.
Trong ba lô vẫn còn cuốn sổ tập viết cũ kỹ mà anh từng dùng để dạy Lam từng con chữ.
Chỉ trong vài ngày ngắn ngủi, nhóm bạn năm người đã mất đi hai người.
Từ đó, những câu chuyện về ngày trở về cũng thưa dần.
Không ai còn nhắc đến hiệu buôn ở Mỹ Tho.
Không ai còn hỏi về những cuốn sách Thiên chưa đọc xong.
Chiến tranh cứ lặng lẽ lấy đi từng điều một.

Một tiếng pháo vọng lên từ phía trước chiến tuyến.
Âm thanh trầm đục quen thuộc ấy như một viên đá ném xuống mặt hồ tĩnh lặng của ký ức.
Doanh trại, những buổi chiều mùa đông, tiếng cười của Khánh, giọng nói của Giang…tất cả bỗng nhạt dần rồi tan vào bóng tối.
Lam chớp mắt.
Ánh đèn dầu leo lét lại hiện ra trước mặt anh.
Trang giấy vẫn nằm trên đầu gối.
Mực trên ngòi bút đã gần khô từ khi nào.
Bên cạnh, Long vẫn đang ngồi lặng lẽ vê một cục đất nhỏ trong lòng bàn tay. Dường như anh cũng đang theo đuổi những ký ức của riêng mình.
Một lúc sau, Long cuối cùng cũng lên tiếng:
“Hôm qua tao nghe thằng Giang tỉnh lại rồi. May mà mảnh pháo không đâm quá sâu.”
Lam không trả lời.
“Nhưng mà người ta bảo thần kinh nó chưa ổn định.” – Long nói tiếp, giọng nghẹn lại.
Gió lạnh lại thổi qua miệng chiến hào.
Một tiếng ho khan vang lên từ đoạn chiến hào phía trước.
Xa hơn nữa, ánh đèn dầu leo lét hắt lên những khuôn mặt mệt mỏi đang co ro trong chăn.
Không ai ngủ được.
Long đứng dậy, phủi lớp bùn bám trên ống quần.
“Tao đi xem thằng Giang thế nào.”
Lam gật đầu.
Long bước đi được vài bước rồi chợt dừng lại.
“Mày viết thư cho xong đi.”
Lam ngẩng lên.
Long khẽ cười, nụ cười hiếm hoi kể từ sau trận đánh.
“Không thôi uổng công thằng Khánh dạy chữ lắm.”
Nói rồi anh quay người bước vào bóng tối.
Lam ngồi lại một mình.
Trước mặt anh, ngọn đèn dầu khẽ rung lên theo từng cơn gió lạnh. Anh nhìn trang giấy hồi lâu rồi chậm rãi đặt ngòi bút xuống. Mực đen từ từ thấm vào mặt giấy vàng úa.
“Bên này trời lạnh lắm. Nhưng anh vẫn ổn…”
Lam dừng lại.
Bàn tay anh khẽ run.
Ở phía xa, đâu đó trong màn đêm, một quả pháo sáng bất ngờ bắn lên bầu trời.
Ánh sáng trắng nhợt quét qua những hàng dây thép gai, những hố đạn và những bóng người im lìm giữa chiến trường.
Rồi tất cả lại chìm vào bóng tối.

***

Ba ngày sau.
Mưa xuân lại trút xuống Chemin des Dames.
Nước mưa hòa với bùn đất, chảy thành những dòng đục ngầu dọc theo chiến hào.
Chiều hôm ấy, Lam cùng hai người lính khác nhận lệnh ra khỏi chiến hào để kiểm tra một đoạn hàng rào dây thép gai bị phá hỏng sau đợt pháo kích đêm trước.
Mưa phùn lất phất rơi.
Bùn đất dính đặc dưới đế giày.
Trước mặt họ là vùng đất không người. Một khoảng trống chết chóc nằm giữa hai phòng tuyến. Nơi ấy chi chít hố pháo, dây thép gai và những thân cây bị xé nát.
Không ai nói chuyện.
Cả ba chỉ lặng lẽ bước đi, thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn về những mô đất phía xa, nơi quân Đức đang đóng giữ trận địa.
Bất chợt, một tiếng rít ghê người xé toạc bầu không khí.
“Pháo!”
Không biết ai hét lên.
Ngay sau đó, mặt đất bùng nổ. Một cột đất khổng lồ dựng đứng lên trời. Sức ép quật Lam ngã nhào xuống bùn. Tai anh ù đặc.
Mọi âm thanh biến thành một tiếng vo ve kéo dài.
Thêm một quả pháo nữa rơi xuống.
Rồi quả thứ ba.
Mặt đất rung chuyển dữ dội. Lam bò về phía trước theo bản năng.
Khói.
Bùn.
Tiếng người la hét.
Mọi thứ hòa vào nhau thành một cơn ác mộng hỗn loạn.
Một mảnh đất đá văng trúng vai khiến anh đau điếng. Anh mất thăng bằng, lăn xuống một hố pháo đầy nước.
Khi ngẩng đầu lên, xung quanh đã hoàn toàn yên tĩnh.
Không còn thấy hai người lính đi cùng. Không còn nhìn thấy chiến hào Pháp. Chỉ có màn sương xám và những hố bom nối tiếp nhau đến tận chân trời.
Lam cắn răng đứng dậy. Vai trái đau buốt. Máu đang thấm qua lớp quân phục. Anh cố xác định phương hướng. Nhưng tất cả mọi thứ đều giống hệt nhau.
Một cơn gió lạnh thổi qua.
Ngay lúc ấy. Có tiếng động phía sau.
Rắc.
Một cành cây gãy.
Lam giật mình quay phắt lại. Tim như ngừng đập. Cách anh chưa đầy mười mét, một người lính đang đứng giữa màn sương.
Quân phục xám.
Mũ sắt Đức.
Khẩu súng trường đã giương lên.
Lam lập tức nâng súng.
Hai họng súng cùng hướng vào nhau.
Không ai cử động.
Không ai nói một lời.
Chỉ có tiếng gió rít qua những đoạn dây thép gai đổ nát.
Ngón tay Lam đặt lên cò súng. Mồ hôi lạnh chảy dọc sống lưng. Anh biết mình phải bắn trước. Chỉ cần chậm một nhịp. Người nằm xuống sẽ là anh.
Người lính Đức cũng đứng bất động. Gương mặt anh ta lấm lem bùn đất. Trẻ hơn Lam tưởng. Có lẽ chỉ hơn hai mươi tuổi.
Một giây.
Hai giây.
Ba giây.
Khoảng thời gian ấy dài như cả một đời người.
Rồi bất ngờ, người lính Đức loạng choạng bước lùi nửa bước.
Lam lúc ấy mới nhận ra. Người kia cũng bị thương.
Cả hai đều mệt mỏi. Cả hai đều kiệt sức. Cả hai đều đang đứng giữa một vùng đất xa lạ.
Ngón tay Lam vẫn đặt trên cò súng. Nhưng anh không thể bóp xuống.
Người lính Đức nhìn anh.
Ánh mắt ấy không giống ánh mắt của một kẻ thù. Nó giống ánh mắt của những người lính đã quá mệt mỏi vì chiến tranh.
Sau vài giây im lặng, người lính Đức chậm rãi hạ nòng súng.
Lam vẫn đứng bất động. Tim đập dữ dội trong lồng ngực.
Người lính kia chầm chậm tiến tới, chỉ vào vai trái của anh, như thể đang hỏi: “Anh bị thương à?”
Lam không biết tiếng Đức. Người lính kia cũng không hiểu tiếng Việt. Nhưng câu hỏi ấy lại quá dễ hiểu.
Người lính ấy tháo cái bi đông bên hông rồi đặt xuống đất ngay cạnh Lam.
Lam ngần ngại.
Người lính Đức không nói gì.
Anh ta ngồi xuống bên cạnh Lam. Cẩn thận lấy ra trong túi áo một tấm ảnh đã nhàu. Trong tấm ảnh là một người phụ nữ cùng hai bé gái xinh xắn. Anh ta vừa nhìn bức ảnh, vừa nói cái gì đó bằng tiếng Đức.
Lam cũng vô thức mò tay vào túi áo như thể tìm một vật gì đó liên quan đến hai đứa em yêu quý ở nhà. Nhưng rồi nhận ra anh chẳng có gì cả. Thế là anh lấy ra bức thư đã viết từ mấy hôm trước.
Anh ngắm nhìn bức thư một cách chăm chú, cứ như thể đó là tấm chân dung của hai đứa em.
Người lính Đức khẽ nhìn sang. Anh ta không khỏi tò mò về người thanh niên da vàng ngồi bên cạnh mình. Nếu biết tiếng Việt, có lẽ anh ta đã sớm hỏi tất tần tật về gia đình, quê hương của Lam từ nãy tới giờ rồi.
Người lính Đức nhìn anh hồi lâu, sau đó đứng dậy rồi lại nói gì đó bằng tiếng Đức. Có lẽ là lời từ biệt.
Anh ta quay người bước về phía chiến hào bên kia.
Lam nhìn theo bóng hình của người lính trẻ tuổi ấy, rồi chợt nhận ra cái bi đông vẫn còn nằm ngay bên cạnh mình.
Anh định chạy theo để trả lại, nhưng người lính kia đã tan biến vào màn sương dày đặc từ khi nào.
Lam đứng lặng giữa màn mưa. Trong tay anh là chiếc bi đông còn vương hơi ấm.
Phía trước, màn sương xám vẫn cuộn trôi qua những hố pháo và những đoạn dây thép gai đổ nát.
Người lính Đức đã biến mất. Như thể cuộc gặp gỡ vừa rồi chưa từng xảy ra.
Lam cúi xuống nhìn chiếc bi đông. Rồi nhìn bức thư trên tay mình.
Một lúc lâu sau, anh mới chậm rãi cất cả hai vào túi áo.
Cơn đau ở vai lại nhói lên. Anh nhăn mặt, bắt đầu dò dẫm tìm đường quay về phòng tuyến.
Mưa vẫn rơi.
Từng giọt nước lạnh buốt chảy xuống cổ áo.
Trên đường đi, Lam bắt gặp một chiếc mũ sắt nằm chỏng chơ bên miệng hố pháo.
Xa hơn một chút là một khẩu súng gãy đôi.
Chủ nhân của chúng có lẽ đã rời khỏi nơi này từ lâu, hoặc cũng có thể đã bị chôn vùi đâu đó dưới lớp bùn đất.
Lam bước tiếp.
Bất giác, anh lại nhớ tới tấm ảnh của người lính Đức. Hai đứa bé gái trong ảnh chắc cũng đang đợi cha trở về. Giống như hai đứa em của anh vẫn đang đợi anh ở quê nhà.
Ý nghĩ ấy khiến bước chân Lam chậm lại.
Từ ngày đặt chân tới châu Âu, anh đã chứng kiến quá nhiều cái chết.
Người Pháp chết. Người Đức chết. Người An Nam chết.
Đến cuối cùng, những người nằm lại dưới lớp bùn này đều giống nhau cả. Họ đều có một mái nhà để nhớ. Đều có người thân để mong ngóng. Đều từng tin rằng mình sẽ trở về.
Một tiếng pháo vọng lên từ phía xa.
Lam giật mình ngẩng đầu.
Chiến tranh vẫn chưa kết thúc. Nó vẫn đang âm thầm đòi thêm những mạng người mới.
Anh siết chặt khẩu súng trong tay rồi tiếp tục bước đi.
Phía trước, giữa màn mưa xám đục, những ánh đèn mờ nhạt của chiến hào Pháp cuối cùng cũng hiện ra.
Lam thở phào.
Anh đã tìm được đường về.
Nhưng lần đầu tiên kể từ khi khoác lên mình bộ quân phục này, anh không còn chắc rằng mình biết vì điều gì mà tất cả những con người ở đây phải tiếp tục chiến đấu.

***

Vài ngày sau, mưa đã ngớt.
Bầu trời Chemin des Dames vẫn phủ một màu xám đục quen thuộc.
Từ sáng sớm, các đơn vị đã nhận được lệnh chuẩn bị tấn công.
Không ai nói nhiều.
Những người lính lặng lẽ kiểm tra lại quân trang, đạn dược rồi ngồi chờ trong chiến hào.
Lam cũng vậy.
Anh ngồi ở góc hào quen thuộc, lấy bức thư đã gấp nhiều lần ra nhìn.
Những nếp gấp đã sờn đi. Mực ở vài chỗ cũng nhòe vì nước mưa.
Anh đọc lại từng dòng một lần cuối.
“Bên này trời lạnh lắm. Nhưng anh vẫn ổn…”
Khóe môi Lam khẽ cong lên.
Anh tưởng tượng ra cảnh đứa em trai sẽ cố đọc thật chậm từng chữ. Còn cô em gái sẽ ngồi bên cạnh lắng nghe.
Ý nghĩ ấy khiến lòng anh ấm lên đôi chút.
Tiếng còi tập hợp bất ngờ vang lên.
Lam gấp lá thư lại. Anh định cất vào túi áo như mọi khi. Nhưng rồi do dự một lát.
Cuối cùng, anh đặt nó vào trong ba lô. Vì nơi ấy có vẻ an toàn hơn.
Anh đứng dậy.
Bên cạnh, Long đã sẵn sàng từ lúc nào.
Không ai nói gì. Họ chỉ khẽ gật đầu.
Ở chiến trường này, đôi khi một cái gật đầu đã thay cho mọi lời từ biệt.

Tiếng pháo mở màn vang lên. Mặt đất rung chuyển. Những cột khói đen liên tiếp bốc lên phía trước.
Rồi mệnh lệnh xung phong được truyền xuống. Từng tốp lính trèo khỏi chiến hào.
Lam chạy theo dòng người đang lao lên sườn đồi.
Bùn đất bắn tung dưới chân. Tiếng hò hét hòa lẫn tiếng đạn xé gió.
Anh không còn nghe rõ điều gì nữa. Chỉ biết phải tiếp tục tiến về phía trước.
Tiếp tục chạy.
Tiếp tục chạy.
Như tất cả những người xung quanh.
Bất chợt.
Một loạt súng máy vang lên từ phía trước. Âm thanh khô khốc và dồn dập.
Dòng người đang lao lên chợt chững lại.
Lam nhìn thấy những bóng người ngã xuống. Những người khác vẫn tiếp tục tiến lên.
Mọi thứ diễn ra chỉ trong vài giây ngắn ngủi.
Anh chạy thêm được vài bước nữa. Rồi cảm thấy sức lực trong người bỗng rời khỏi mình.
Thế giới trước mắt chao đảo.
Bầu trời xám nhạt dần.
Tiếng súng xa dần.
Xa dần.
Lam bị hai viên đạn găm vào người, một viên vào đùi, viên còn lại cắm sâu vào bụng.
Anh đổ gục xuống một hố pháo nằm ngay cạnh. Đồng đội anh vẫn tiếp tục tiến lên.
Anh gắng gượng chút sức lực cuối cùng, mò tay vào chiếc ba lô để tìm bức thư. Mò mẫm một hồi cũng với lấy được.
Lam cầm bức thư. Đôi tay anh run rẩy, rướm máu và bùn đất.
Anh nhìn bức thư lần cuối cùng, nước mắt anh cứ thế tuôn trào, tạo nên hai dòng suối nhỏ chảy từ khóe mắt xuống hai bên gò má.
Anh nhìn bức thư ấy như thể nhìn hai đứa em lần cuối.
Khoảnh khắc ấy, anh chỉ nhớ tới căn chòi nhỏ bên mé sông.
Nhớ những cánh đồng lúa dưới nắng.
Nhớ những bữa cơm trưa đạm bạc nhưng đầy ắp tiếng cười của ba anh em.
Rồi mọi thứ chìm vào im lặng.

Cuộc tấn công kết thúc.
Những người sống sót trở về chiến hào.
Long không rõ tung tích.
Lam tử trận.
Anh chết vì mất máu quá nhiều.
Khi chết, tay anh vẫn nắm chặt bức thư, đôi mắt chưa khép lại. Xác anh cứ thế bị bùn đất san lấp và chôn vùi.
Bức thư cũng vậy.
Mãi mãi nằm lại ở Chemin des Dames, không bao giờ trở về quê nhà.

***

Sài Gòn, ngày 2 tháng 9 năm 1945
Giữa biển người đông nghịt, một người cán bộ cách mạng đứng nghiêm trang trên lễ đài dựng tạm bằng những tấm ván gỗ, tay cầm bản Tuyên ngôn Độc lập vừa được gửi từ Hà Nội vào.
Anh đọc từng dòng chữ cho đám đông đang chăm chú lắng nghe.
Giọng đọc vang lên giữa quảng trường.
Mạnh mẽ.
Rõ ràng.
Đó chính là cậu em trai năm nào của Lam.
Ở một nơi không xa, cô em gái của anh cũng đang đứng giữa đám đông.
Cô giờ đây đã là một giáo viên, khoác lên mình bộ áo dài thướt tha.
Không ai trong số họ biết rằng người anh cả của mình đã nằm lại trên một sườn đồi xa xôi bên kia nửa vòng trái đất.
Không ai biết rằng có một lá thư từng được viết cho họ trong một đêm lạnh giá ở Chemin des Dames.
Một lá thư chưa bao giờ được gửi đi.
Nhưng có lẽ, theo một cách nào đó, điều Lam mong mỏi nhất vẫn đã trở thành sự thật.
Hai đứa em của anh giờ đã trưởng thành. Ai nấy cũng đều đang cống hiến hết mình để giúp ích cho đời.
Đất nước, quê nhà mà anh nhớ thương đến tận phút cuối cuối cùng cũng được tự quyết định vận mệnh của mình.
Và ở đâu đó, giữa những cánh đồng lúa quê nhà, ký ức về anh vẫn còn ở lại cùng gió.