
Con người, trong hành trình sống, dường như luôn bị giằng kéo giữa hai trạng thái. Một bên là nỗi cô đơn – cảm giác bị bỏ rơi, trống rỗng, khao khát kết nối nhưng những cuộc kết nối thường không thực hiện được. Và bên kia là cô độc – trạng thái tự nguyện tách mình ra khỏi đám đông để trở về với chính mình. Nếu cô đơn là một bị động chấn thương, thì cô độc có thể là một chủ động lựa chọn. Nghĩa là, nếu đủ tỉnh táo bình tâm, con người có thể chuyển hóa nỗi đau cô đơn thành khoái cảm của cô độc.
Trong diễn ngôn văn chương hiện đại, “cô đơn” và “cô độc” trở thành những phạm trù mang tính hiện sinh. Tiểu luận này như một lược khảo, không nhằm phủ nhận nỗi cô đơn vì đó là một phần tất yếu của thân phận người, mà hướng tới mở ra đối thoại: Phải chăng, cô độc, khi được ý thức và lựa chọn, là một ân sủng?
Một sự thật khó chối cãi là con người sinh ra đã mang trong mình mầm mống của cô đơn. Không ai có thể bước trọn vẹn vào thế giới nội tâm của người khác. Mỗi ý nghĩ, mỗi kí ức, mỗi cảm xúc và trải nghiệm đều mang tính riêng tư riêng biệt.
Nhà văn người Áo – Hung gốc Do Thái Franz Kafka phát biểu: “Ta không thể làm cho người khác hiểu được. Ta không thể làm cho bất cứ ai hiểu những gì đang xảy ra bên trong ta.” Haruki Murakami để cho một nhân vật trong tiểu thuyết “Rừng Na Uy” khẳng quyết: “Bản ngã và tha nhân là cách biệt.” Trong tiểu thuyết “Biên niên kí chim vặn dây cót”, nhà văn người Nhật Bản này lại để một nhân vật trần tình về nỗi cô đơn bằng những hình ảnh ám ảnh: “Thỉnh thoảng tôi vẫn thấy cô đơn đến nhói lòng. Ngay cả nước tôi uống, không khí tôi thở dường như cũng tua tủa những chiếc kim dài, bén ngót. Những trang sách trên tay tôi lấp lánh ánh kim loại đầy đe dọa như những lưỡi dao lam. Lúc 4 giờ sáng, chung quanh lặng tờ đến độ tôi như nghe thấy tiếng nỗi cô đơn đâm rễ vào thân tôi mỗi lúc một sâu.” Còn nhà văn người Colombia Gabriel José García Márquez (Nobel văn chương 1982), tác giả của tiểu thuyết trứ danh “Trăm năm cô đơn”, thì đưa ra những kết luận lạnh: “Tất cả đều là thoáng chốc, chỉ cô đơn là vĩnh hằng.” “Sinh mệnh trước giờ chưa từng tách rời khỏi sự cô đơn… Cô đơn luôn tồn tại trong một góc của cuộc sống như một cái bóng.” Ở đây, cô đơn không còn là trạng thái tâm lí, mà trở thành một cấu trúc tồn tại.
Nhà văn người Mĩ John Ernst Steinbeck (Nobel văn chương 1962) ghi nhận: “Chúng ta là những sinh vật cô đơn. Chúng ta dành cả cuộc đời này để tìm cách trở nên bớt cô đơn.” Có nghĩa, cô đơn vừa là nền tảng của sự tồn tại, vừa ít nhiều có thể hoá giải. Và kết nối là một nhu cầu mang tính bản năng của con người. Nhu cầu ấy thường được lưỡng phân thành hai ngả, một là quay về nương náu nơi đại tự nhiên vô ngôn, hai là dấn thân tìm kiếm sự đồng điệu ở đồng loại.
Im lặng giữa thiên nhiên là trạng thái hoà hợp thanh bình giữa con người và thế giới. Ở đó, sự im lặng không phải là trống rỗng, mà là một dạng đầy. Đó là sự đầy của sự lắng nghe, của chiều sâu tâm linh. Chính trong những khoảnh khắc căng mở giác quan để kết nối với thiên nhiên ấy, con người nhận ra rằng cô đơn không hề đối lập với hạnh phúc. Nó có thể là một dạng của hạnh phúc.
Một cách tự nhiên khác giúp con người vơi bớt cô đơn là tìm đến tha nhân. “Trong những khoảnh khắc tối tăm nhất, ta không cần những giải pháp hay lời khuyên. Điều chúng ta khao khát chỉ đơn giản là sự kết nối con người, có thể là một sự hiện diện lặng lẽ, có thể là một cái chạm nhẹ nhàng. Những cử chỉ nhỏ bé này chính là những điểm tựa giúp chúng ta vững vàng.” Phát biểu khiêm cung được cho là của nhà văn người Mĩ Ernest Miller Hemingway (Nobel văn chương 1954) nhắc nhở chúng ta về sức mạnh của kết nối thân thể và trực giác, của sự lắng nghe và thấu hiểu, của thứ tình yêu không lời, của thiện tâm nâng dìu nhau vượt lên trên tình thế làm người.
Tình yêu có thể là hình thức kết nối con người sâu nhất, khi nó không còn là nhu cầu lấp đầy, mà là khả năng cho đi. Nhân vật trong tiểu thuyết “1Q84” của Murakami nhận biết: “Cô đơn một mình cũng chẳng sao, chỉ cần thật lòng yêu một người, cuộc đời sẽ được cứu rỗi. Dẫu rằng không được sống bên người ấy.” Một khi tình yêu đủ ý thức kháng cự lại bản năng chiếm đoạt đầy bất an, thì sẽ trở thành một trạng thái thuần khiết để thanh lọc thân tâm.
Tuy nhiên, “kết nối con người” cũng mang tính hai mặt. Cộng đồng, tha nhân có thể là nơi nâng đỡ, nhưng cũng có thể là nơi bóp nghẹt cá tính. Thực tế, con người cần sự soi chiếu của người khác để thấu suốt hơn về bản thân, nhưng nhiều khi họ cũng “tự mình cách biệt”, trở về đúng nghĩa là một cá thể độc lập, để bảo trì bản thể. Bởi trong quan hệ với người khác, con người luôn có nguy cơ bị nhìn như một đối tượng, bị đánh mất tự do. Vì vậy, có những lúc, việc rút lui khỏi thế giới không phải là trốn chạy, mà là một hành động tự vệ.
Triết gia hiện sinh người Pháp Jean-Paul Sartre, với mệnh đề nổi tiếng “Địa ngục là kẻ khác” (trong vở kịch “Kín cửa”), đã có phần cực đoan hóa vấn đề khi xem tha nhân có thể là nguồn gốc của sự tha hóa. Ở đây, “địa ngục” không phải là bản thân người khác, mà là sự phụ thuộc nô lệ của chúng ta vào cái nhìn và sự phán xét của họ.
Phải vậy chăng mà nhân vật trong tiểu thuyết “Người tình Sputnik” của Murakami tự vấn: “Vì sao mọi người cứ phải cô đơn như thế này? Hàng triệu con người trên thế giới này, tất cả đều đang mong mỏi khát khao, đang tìm kiếm những người khác để thỏa mãn mình nhưng lại tự họ cô lập họ. Vì sao? Có phải Trái Đất sinh ra chỉ để nuôi dưỡng sự cô đơn của con người?” Đây là một nghịch lí khi khao khát kết nối và xu hướng tách biệt cùng tồn tại.
Nếu cô đơn là số phận, thì cô độc là lựa chọn. Và lựa chọn này đòi hỏi một mức độ ý thức nhất định. Cô độc, trước hết, là điều kiện để con người đối diện với chính mình, phát huy tối đa tinh thần trách nhiệm với chính mình. Một nhân vật tiểu thuyết của Murakami bộc giãi: “Có đôi khi, tôi cảm thấy mình giống như người trông coi bảo tàng vậy, một cái bảo tàng mà chẳng ai buồn ghé thăm, và tôi trông nó không vì ai cả, chỉ vì chính bản thân tôi mà thôi.” Cô độc, trong nghĩa này, là một dạng tự trị của tự ngã.
Nhà văn, nhà phê bình người Mĩ John Updike cho rằng: “Con người cần có nhau, vì họ chỉ có thể tự xác định bản thân qua việc so sánh với nhau.” Tuy nhiên, như đã nói, chính việc “so sánh” này nhiều khi là một thứ áp lực, một thứ mất tự do. Con người có thể tự biết mình, mà không cần thông qua việc so sánh với bất kì ai.
Nhà văn người Trung Quốc Mạc Ngôn (Nobel văn chương 2012) từng chia sẻ một chiêm nghiệm giàu tính triết lí: “Thứ người khác nhìn thấy là giày, thứ ta cảm nhận được là bàn chân. Đừng vì ham muốn sự sang trọng của đôi giày mà làm tổn thương bàn chân của mình.” Tức, khi không còn bị chi phối bởi ánh nhìn của người khác, con người bắt đầu lắng nghe tiếng nói bên trong. “Thời gian hữu hạn. Đừng sống cuộc đời của người khác… Đừng để tiếng ồn từ suy nghĩ của người khác đánh chìm giọng nói bên trong bạn.” Nhà sáng tạo công nghệ người Mĩ Steve Jobs, trong bài phát biểu kinh điển tại Đại học Stanford năm 2005, đã đưa ra lời khuyên đầy thức tỉnh như thế. Trở về với chính mình, chú thính vào nội tâm là cách để con người kháng cự lại sự nhiễu âm ngoại thân. Triết gia người Đức Friedrich Nietzsche cũng từng cảnh báo trong các tiểu luận triết học của ông về việc con người dễ đánh mất bản sắc trong đám đông, chỉ khi rũ bỏ được những “tiếng ồn” từ định kiến của kẻ khác, tiếng nói chân thật nhất bên trong ta mới thực sự cất lời.
Sống một mình, tránh xa những ràng buộc phức tạp, những quy tắc cứng nhắc – đó không phải là một đời sống thiếu thốn, nhạt tẻ, mà là một lựa chọn sống có ý thức, một hình thức tự do, tức một sự bình lặng đạt được không phải bằng cách có thêm, mà bằng cách buông bớt, tối giản. Nhà văn, nhà thơ người Ý Cesare Pavese, trong cuốn nhật kí văn học “Nghề sống”, viết: “Cuộc sống không phải là tìm kiếm kinh nghiệm, mà là tìm kiếm bản thân. Khi khám phá ra tầng vỉa nền tảng của chính mình, người ta nhận ra rằng nó phù hợp với số phận của mình và tìm thấy sự bình yên.”
Lúc này, cô độc không còn là điều phải chịu đựng, mà trở thành một khoái cảm được tận hưởng. Khoái cảm ấy thuộc về bất kì ai dám bóc tách mình ra khỏi những áp lực đồng hóa, định kiến hay kì vọng, để thưởng thức sự tròn đầy của bản ngã. Đó là khoái cảm của việc không cần phải là ai khác ngoài chính mình; không cần giải thích, không cần chứng minh, không cần gồng mình tỏ ra.
“Hoặc là cô độc, hoặc là tầm thường.” Câu nói này của triết gia người Đức Arthur Schopenhauer trong tập tiểu luận “Luận về dũng khí sống” có phần cực đoan, nhưng nó chạm đến một sự thật rằng, sự khác biệt thường đòi hỏi một mức độ tách biệt. Cô độc, nếu biến thành lợi thế sống, sẽ giúp con người tạo nên sức mạnh, di dưỡng tâm trí, quán chiếu chính mình và vượt lên chính mình.
Nhà văn người Mĩ Philip Milton Roth cho rằng: “Gặp gỡ bạn bè là điều thú vị nhất trong cuộc sống. Đương nhiên là sau việc viết lách.” Phát biểu giản dị này cho thấy, viết là khoái cảm tột bậc, và viết là hình thức cô độc có ý thức cao nhất. Lúc này, khoái cảm bình phương. Khoái cảm của viết. Khoái cảm của cô độc.
Như đã đề cập, khoái cảm của cô độc không phải là đặc quyền của riêng ai, nhưng khoái cảm đó đặc biệt tương thích với bản đồ tâm hồn của văn nghệ sĩ nói chung, chủ thể sáng tạo nghệ thuật ngôn từ nói riêng. Sáng tạo văn chương thực ra là cách khả dĩ, lí tưởng nhất để chủ thể kết nối với thế giới, với tha nhân, và với bản thân. Sự kết nối này là không giới hạn. Có điều, nó diễn ra trong thinh lặng, trong một không gian phi xã hội hóa. Viết, như vậy, vừa là cách để hóa giải cô độc, vừa là cách tận hưởng khoái cảm của cô độc.
Cô độc là điều kiện để cơ chế sáng tạo vận hành. Nó dẫn chủ thể đi vào chiều sâu. Ở đó, họ chạm đến những tầng vô thức hoang dã, nói như nhà tâm phân học người Thụy Sĩ Carl Gustav Jung là những “nguyên tượng” có khả năng bù đắp cho sự thiếu hụt của đời sống hiện đại.
Trong thời khắc đắm chìm vào cái viết, chủ thể không chỉ sống, mà chính họ là cả thế giới. Cô độc ở đây không phải là cái giá phải trả, mà là điều kiện để toàn quyền sáng tạo. Nếu đủ cô độc cho sáng tạo, sẽ dẫn chủ thể viết đến một cách hiện diện kiêu hãnh, đó là hiện diện bằng chữ nghĩa, bằng văn bản – giá trị do tự mình kiến tạo. Lúc này, nói như nhà kí hiệu học người Pháp Roland Barthes là, tác giả chấp nhận “cái chết” để thế giới ngôn từ của mình bắt đầu sống đời độc lập, tự do tạo nghĩa trong tâm trí người đọc. “Tác giả đã chết” chỉ là một cách nói. Thực ra là chuyển hóa thành một kiểu tồn tại khác – không còn kiểm soát, nhưng lan tỏa.
Tuy nhiên, không phải lúc nào giá trị cũng được đón đợi, được công nhận và được thụ hưởng. Trong tập tiểu luận “Một cuộc gặp gỡ”, nhà văn, nhà tiểu luận người Pháp gốc Séc Milan Kundera chua chát cảm thán: “Ông cô đơn, Ernest ạ. Cô đơn như Martinique giữa biển khơi… Cô đơn như một bức tranh của Van Gogh trước ánh mắt ngu độn của du khách. Cô đơn như mặt trăng chẳng ai nhìn.” Cách diễn đạt này cho thấy rằng, cô đơn gắn liền với sự bất khả thông đạt.
Vậy nên, một khi không còn phụ thuộc vào sự công nhận của người khác, chủ thể sáng tạo khởi dựng một hình ảnh nội tại, không phải để phô bày, mà để sống cùng. Và chính hình ảnh đó trở thành bệ đỡ cho sự tự do. Nghĩa là con người luôn bị đặt vào thế lưỡng nan, vừa cần người khác để xác nhận, công nhận bản thân, vừa cần tách khỏi tha nhân để được là chính mình nguyên vẹn.
Tất nhiên, cô độc không phải lúc nào cũng là một tình thế tích cực. “Cô đơn làm nảy sinh nét độc đáo, vẻ đẹp táo bạo và khác đời, đó là chất thơ. Nhưng cô đơn cũng sản sinh ra sai trái, lệch lạc, phi lí và bất chính.” Nhà văn người Đức Thomas Mann (Nobel văn chương 1929), trong tiểu thuyết “Chết ở Venice”, đã đúc kết như thế. Nghĩa là, cô độc có giá trị của nó, nhưng không nên cường điệu hoá, tuyệt đối hoá nó. Vì vậy, vấn đề không phải là lựa chọn giữa cô đơn và cô độc, mà là khả năng chuyển hóa giữa chúng. Biết khi nào cần một mình, và khi nào cần đến nhân quần. Biết khi nào cần im lặng, và khi nào cần cất tiếng.
Con người không thể thoát khỏi cô đơn, nhưng họ có thể học cách sống cùng nó. Cô độc, trong ý nghĩa tích cực nhất, không phải là sự từ chối thế giới, mà là một cách con người trở về với chính mình, để rồi từ đó có thể kết nối với thế giới sâu bền hơn.
Khoái cảm của cô độc không nằm ở việc không cần ai, mà ở nghệ thuật chung sống, ở việc biết cách tu thân khi sống giữa tha nhân. Và có lẽ, đó là một trong những hình thức tự do tự chủ tự tại hiếm hoi mà con người có thể đạt được.
Theo Sông Lam 6/2026


Bài viết liên quan: