
Thơ Trung Quốc đương đại là nói đến THƠ MỚI, được khởi sinh từ phong trào Ngũ Tứ cho đến nay, trở thành chủ lực trên thi đàn nước này. Xin mở đầu tham luận này bằng một bài thơ mới của nhà thơ Dư Quang Trung, một trong năm nhà thơ đại diện cho nền thơ mới Trung quốc, bài NHỚ QUÊ do Hà Phạm Phú dịch.
Thuở nhỏ
Nỗi nhớ làng là chiếc tem bé xíu
Con ở đầu này
Mẹ ở đầu kia
Lớn lên rồi
Nỗi nhớ làng là tấm vé đò
Chồng ở bên này
Nàng dâu mới bên kia
Lâu lâu sau
Nỗi nhớ làng là ngôi mộ phẳng thấp tè
Con ở phía ngoài này
Mẹ nằm phía trong kia
Còn hiện giờ
Nỗi nhớ làng là vịnh hẹp nông sờ
Tôi ở bờ bên này
Đại lục ở phía bờ kia.
(Rút từ tập Thơ dịch 2024 so CLB Thơ dịch tuyển chọn và in ấn)
“Nhớ quê” là một bài thơ kinh điển thể hiện nỗi nhớ theo phong cách hoài cổ của Dư Quang Trung. Bài thơ tân hình thức này đã “làm rung động hàng trăm triệu người Trung Quốc. “Nỗi nhớ” là chủ đề khó quên trong nhiều bài thơ của ông. Bài thơ đưa ra một cách giải thích mới về một chủ đề trừu tượng khó miêu tả nhưng được bao phủ bởi một số lượng lớn các mô tả. Về mặt hình ảnh, bốn sự vật thông thường trong cuộc sống được lựa chọn là “tem”, “vé tàu”, “mồ mả” và “eo biển”, mang lại cho chúng những hàm ý phong phú, để bốn sự vật ban đầu không liên quan đến nhau được kết nối bằng cảm xúc hoài niệm cụ thể. Bản thân Dư Quang Trung từng nói rằng bài thơ này “khá hiện thực”: khi còn nhỏ, ông học trường nội trú và phải trao đổi thư từ với mẹ. Sau khi kết hôn, ông sang Mỹ du học và trở về Đài Loan bằng tàu thủy; sau này mẹ ông qua đời và ông mãi mãi mất đi tình mẫu tử. Ba dòng đầu bài thơ đều nói về phụ nữ. Ở dòng cuối, tác giả nghĩ đến “bà mẹ” như quê hương mình, quan niệm và tư tưởng nghệ thuật của chợt trở nên rõ ràng, đưa đến câu kết “Nỗi nhớ là một vịnh biển nông sờ.”
Về hình thức thơ, bốn đoạn văn về cơ bản thống nhất về số từ và cấu trúc câu: tựa như một bài hát và ba tiếng thở dài đầy cảm xúc, với những âm thanh vương vấn kéo dài mãi mãi.
Ngôn ngữ thơ trong sáng, nhẹ nhàng, thẳng thắn và đầy ý nghĩa. Nhà thơ dụng ý dùng sự đơn giản để thay thế sự phức tạp, dùng sự đơn giản để giành chiến thắng.
Về phong cách nghệ thuật, bài thơ này khá tiêu biểu cho thơ mới Trung Quốc hiện đại.
Quan niệm về thơ của người Trung Quốc hiện nay:
Theo giới nghiên cứu Trung Quốc, thơ Trung Quốc hiện đại khởi nguồn từ CUỘC VẬN ĐỘNG NGŨ TỪ bắt đầu từ ngày 4 tháng 5 năm 1919, kéo dài đến 1939. Phất ngọn cờ hiện đại hóa thơ là Hồ Thích. “Tuyển tập Tân hình thức” của Hồ Thích là tuyển tập thơ dùng Hán ngữ văn bạch thoại đầu tiên trong Phong trào văn hóa mới “4 tháng 5”.
Hồ Thích cho rằng các phong trào cách mạng văn học cổ đại và hiện đại luôn bắt đầu từ việc giải phóng văn phong, nên ông đề xuất: “Muốn có nội dung mới, tinh thần mới, trước tiên phải phá bỏ xiềng xích trói buộc tinh thần” (Bàn về thơ mới). Là người đầu tiên chủ trương làm thơ bằng Hán ngữ BẠCH THOẠI, ông chủ trương rằng thơ mới phải tự do, gần gụi với đời sống, phá bỏ các ràng buộc niêm luật thơ cũ, điều này có ý nghĩa tích cực đối với việc sáng tạo thơ mới và trực tiếp dẫn tới việc hình thành trường phái thơ tự do nguyên thủy của thơ mới. Thơ mới ra đời trong cuộc cách tân văn hóa ấy, gắn liền với các chí xung kích như Tân thanh niên, Làn sóng mới, Trung quốc thiếu niên, Tuần bình luận cùng với các chiến sĩ tiên phongnhư 胡适、刘半农、沈尹默、周作人、俞平伯、刘大白…
Bắt mạch thơ Trung Quốc hiện nay:
Mặc dù thơ mới có nhiều cái mạnh: Hình thức tự do, nội hàm khai phóng, chú trọng quản lí hình ảnh hơn là chăm chút từ ngữ, có tính khát quát cao, hình tượng mới mẻ, giầu chất trữ tình, giầu nhạc điệu… nhưng theo một số nghiên cứu, một trong những đặc điểm của thơ hiện đại Trung Quốc kể từ những năm 1930 trở lại đây nhìn chung được lấy cảm hứng và ảnh hưởng từ thơ tượng trưng của Pháp. Đồng thời, nó cũng kế thừa một số hoạt động theo đuổi nghệ thuật của Trường phái Thơ tượng trưng Trung Quốc. Thơ hiện đại Trung Quốc sau những năm 1930 đến nay đặc biệt theo đuổi vẻ đẹp mơ hồ do sáng tác thơ nói chung tạo ra, đồng thời theo đuổi việc giải cấu trúc nội hàm của thơ thông qua việc kết nối các khái niệm độc đáo và hình ảnh phức tạp.
Chú ý đến sự phát triển của thơ mới, có thể thấy thơ mới Trung Quốc rõ ràng chịu ảnh hưởng của thơ phương Tây. Nhưng do hầu hết các tác giả viết thơ mới không hiểu tiếng nước ngoài, nên họ chủ yếu bắt chước thơ Tây dịch. Có thể nói, vì thế thơ Trung Quốc thiếu sự sâu sắc, cô đọng. Nó hời hợt, câu văn lỏng lẻo, thiếu những ý tưởng mới trong hình tượng, thiếu ý nghĩa triết học sâu sắc và thiếu tính độc đáo. Thơ Trung Quốc hiện nay thiếu nhịp điệu và vần điệu chặt chẽ, không chú trọng vào nhịp điệu và những yêu cầu trau chuốt về ngôn ngữ. Nếu đọc kỹ thơ sáng tác của các nhà thơ nước ngoài, người ta sẽ thấy thơ nước ngoài cũng rất chú trọng đến tính ngắn gọn của ngôn ngữ.
Việc thiếu ý tưởng mới về hình ảnh cũng là vấn đề khiến thơ mới Trung Quốc bị ảnh hưởng bởi thơ dịch phương Tây. Một số bài thơ mới của Trung Quốc khi thể hiện hình ảnh quá dựa vào hình tượng cổ điển của thơ phương Tây, thiếu cá tính, thiếu tính đổi mới. Điều này dẫn đến một số tác phẩm có hình ảnh giống nhau, thiếu sự mới mẻ. Đồng thời, thơ mới chứa đầy những hình ảnh lỗi thời, thiếu cách diễn đạt mới.
Thơ mới Trung Quốc cũng thiếu ý nghĩa triết học sâu sắc. Khi một số bài thơ mới của Trung Quốc học hỏi thơ phương Tây, họ tập trung nhiều hơn vào những cách thể hiện cảm xúc hời hợt và bỏ qua những bàn luận sâu sắc về triết lý sống và tư duy. Ngược lại, những suy ngẫm và khám phá triết học trong thơ dịch phương Tây đã bị bỏ qua. Như vậy, tác phẩm thực sự không có linh hồn, thiếu nội dung kích thích người đọc suy ngẫm. Rất ít tác giả thơ mới có thể viết được những câu cách ngôn phản ánh sâu sắc về sự sống, cái chết và đức tin…
Tóm lại, thơ mới Trung Quốc chịu ảnh hưởng của thơ dịch phương Tây và có đặc điểm là câu văn lỏng lẻo, hình ảnh thiếu mới lạ, thiếu ý nghĩa triết học sâu sắc và thiếu tính độc đáo.
Nói vậy, nhưng hiện nay thơ viết bằng Hán ngữ bạch thoại đã cơ bản thay thế các loại thơ truyền thống. Mới đây trên mạng xã hội Hoa ngữ, người ta đã tiến hành bầu chọn các nhà thơ mới tiêu biểu. Dước dây là danh sách 05 nhà thơ tiêu biểu, xếp theo số phiếu từ cao tới thấp:
TỪ CHÍ MA(*), một nhà thơ xuất sắc ở Trung Quốc hiện đại, là đại diện của Trường phái Lưỡi liềm. Ông cảm thông sâu sắc với nỗi đau khổ của người dân và đã ra sức “cứu họ khỏi lửa và nước”. Thơ ông có lối hành văn đẹp, giàu cảm xúc, sáng tác những bài thơ tình đa cảm nổi tiếng. Từ Chí Ma đặc biệt được giới trẻ yêu thích, những bài thơ tình của ông rất cảm động và có sức ảnh hưởng sâu rộng. Tiếc thay, ông mất khi còn rất trẻ. Từ Chí Ma (徐志摩) (1897-1931) là nhà thơ, nhà văn hiện đại thuộc Phái Tân Nguyệt, là anh họ của tiểu thuyết gia võ hiệp Kim Dung.
NGẢI THANH(**)
Ngải Thanh là một nhân vật quan trọng trong thơ ca hiện đại Trung Quốc. Ông có vai trò thúc đẩy việc nghiên cứu nội dung và tiêu chuẩn thẩm mỹ hình thức của thơ hiện đại, tạo cho thơ mới một hướng đi chuẩn mực và hiện đại hơn. Ông được trao tặng huân chương cao quý nhất về văn học nghệ thuật của Pháp năm 1985.
VĂN NHẤT ĐA(***). Là người sáng lập thơ mới Trung Quốc. Ông là người đầu tiên đề xuất lý thuyết “thơ vần điệu mới sáng tạo” và nhấn mạnh vẻ đẹp của âm nhạc, hội họa và kiến trúc. Những lý luận này đã tạo cơ sở lý luận cho việc hình thành “Trường phái thơ lưỡi liềm” và làm rõ hướng đi của thơ mới. Nhiều tác phẩm của ông như “Nước tù”, “Bài hát của bảy đứa con” đã chứng tỏ được giá trị nghệ thuật cao.
BIỆN CHÍ LÂM (****), sinh năm 1910 tại Nam Thông, tỉnh Giang Tô, là một trong “Ba nhà thơ vườn Hán” và là đại diện của chủ nghĩa hiện đại. Anh ấy là bạn cùng lớp của Từ Chí Ma và Hồ Thích. Các tác phẩm tiêu biểu của anh ấy bao gồm “Fragment of Chapter” và “Bàn trang điểm (Ý nghĩa cổ xưa và thiết kế mới)”, và anh ấy được biết đến là đại diện của “Trường phái Lưỡi liềm” và “Trường phái hiện đại”. “. Phê bình văn học và dịch thuật của ông cũng rất xuất sắc.
DƯ QUANG TRUNG(*****). Sinh ra ở Nam Kinh, năm 1928. Quê gốc Phúc Kiến. Ông là nhà văn, nhà thơ, học giả và dịch giả đương đại xuất sắc. Ông tốt nghiệp nhiều trường đại học danh tiếng, tác phẩm của ông bao gồm thơ, văn xuôi, phê bình, v.v. trong đó nổi tiếng nhất là “Nhớ quê” và “Tứ vần nỗi nhớ”. Ông được mệnh danh là “cây bút đầy màu sắc tươi sáng” và “người đa thê nghệ thuật” trong giới văn học. Ông mất ở Đài Loan năm 2017.
Phân loại thơ hiện đại Trung Quốc:
Thơ hiện đại có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Căn cứ theo tiết tấu của ngữ âm, tầng nấc của sự hòa hợp ngữ điệu mà phân loại, có thể chia thành hai loại: thơ theo phong cách hiện đại, nói gọn là thơ hiện đại và thơ theo phong cách thơ hiện đại có vần, nói gọn là thơ hiện đại có vần.
1/ Thơ (phong cách) hiện đại: Thơ hiện đại là một nghệ thuật ngôn ngữ lấy văn bạch thoại Hán ngữ làm phương tiện chuyển tải biểu đạt trữ tình về cuộc sống.
2/ Thơ có vần hiện đại: Thơ có vần hiện đại là một nghệ thuật ngôn ngữ lấy văn bạch thoại Hán ngữ làm phương tiện chuyển tải và tái hiện sự biểu đạt trữ tình của cuộc sống với đòi hỏi vần điệu cao nhất của nhịp điệu ngôn ngữ. Những yêu cầu về vận luật của thơ có vần hiện đại cũng giống như yêu cầu của thơ vận luật cổ điển, như số từ xác định, số câu xác định, khổ thơ xác định, cấp độ và vần xác định, v.v..
3/ Theo hình thức, có thể chia thành thơ âm vị, thơ âm tiết và thơ tự do, thơ tự sự và thơ trữ tình.
Những phân loại này giúp hiểu rõ hơn và đánh giá được sự đa dạng, phong phú của thơ hiện đại.
Những điều cần lưu ý khi dịch thơ mới Trung Quốc:
1/ Ngôn ngữ là chất liệu cơ bản của mọi tác phẩm văn học. Thơ đặc biệt chú trọng đến việc sử dụng ngôn ngữ, bởi việc hình thành hình tượng nghệ thuật, sáng tạo quan niệm nghệ thuật và giao tiếp cảm xúc đều dựa vào ngôn ngữ.
Ngôn ngữ thơ đòi hỏi ngôn từ, câu văn cô đọng nhất để truyền tải được nội dung phong phú nhất, điều này làm cho ngôn ngữ thơ mang đặc điểm cô đọng, hàm ẩn, nhảy vọt mạnh mẽ. Nói một cách tương đối, thơ hiện đại được viết bằng Hán ngữ bạch thoại và ít dùng biện pháp ám chỉ, dễ nắm bắt nghĩa đen hơn thơ cổ. Tuy nhiên, để đánh giá đúng một bài thơ, người ta vẫn phải đọc đi đọc lại nhiều lần, cố gắng tìm hiểu, nắm bắt được tứ thơ, ý tưởng và thông điệp tác giả muốn chuyển tải.
Thơ phản ánh cuộc sống và thể hiện cảm xúc thông qua hình ảnh nghệ thuật. Cảm thụ thơ phải nắm bắt chính xác hình tượng nghệ thuật trong bài thơ: một số bài thơ thể hiện cảm xúc bằng cách miêu tả xuyên suốt HỆ THỐNG hình ảnh cụ thể, sống động; suy nghĩ và cảm xúc.
Để nắm bắt được hình ảnh thơ, người dịch phải nắm được đặc điểm của hình ảnh.
Một số bài thơ miêu tả nhiều hình ảnh. Khi dịch, bạn nên kết hợp, liên kết nhiều hình ảnh riêng lẻ để tạo nên một hình ảnh tổng thể. Hình ảnh miêu tả trong một số bài thơ không phải theo nghĩa đen mà mang ý nghĩa ẩn dụ hoặc biểu tượng. Để nắm bắt được hình ảnh của những tác phẩm đó, chúng ta không thể hiểu chúng theo nghĩa đen mà thay vào đó, chúng ta nên kết hợp bối cảnh thời đại, kinh nghiệm của tác giả, v.v. khám phá ý nghĩa của hình ảnh thông qua trí tưởng tượng và liên tưởng.
Tóm lại, việc hiểu hình ảnh thơ phải dựa trên sự hiểu biết sâu sắc và nắm bắt tổng thể chứ không nên hiểu theo nghĩa đen, hời hợt.
Kỹ thuật viết thơ hiện đại bao gồm nhiều cách diễn đạt, kỹ thuật tu từ và kỹ thuật cấu trúc. Các phương pháp biểu đạt bao gồm các phương pháp hỗ trợ sự vật để thể hiện tham vọng, phóng đại trước khi dồn nén, phóng đại, rồi phóng đại, châm biếm v.v… các thủ pháp tu từ như ẩn dụ, song hành, nhân cách hóa, đặt câu hỏi tu từ, đặt câu hỏi như liên kết cái trước với cái trước v.v… đều được vận dụng trong sáng tạo văn học để tạo hình tượng, phản ánh cuộc sống, nâng cao hiệu quả biểu đạt ngôn ngữ, làm cho tác phẩm trở nên sinh động và mạnh mẽ hơn.
Bàn thêm về dịch thơ, ngoài tín đạt nhã:
Nguyên tắc cơ bản không cần phải tranh luận của dịch thơ là phải dịch thơ sang dạng thơ chứ không dịch sang văn xuôi.
Thứ nữa, dịch thơ nên lấy dòng làm đơn vị cơ bản và cần được giữ nguyên càng nhiều càng tốt, giữ nguyên dấu câu ban đầu. Không thể ghép hay tách các dòng thơ tùy tiện theo ý muốn. Điều quan trọng là phải giữ được phong cách và sức hấp dẫn của bài thơ gốc khi dịch.
Mặc dù vậy, trong thực tiễn dịch thuật, việc thêm bớt dòng thơ không phải là hiếm. Bản dịch không chỉ thêm nhiều dòng thơ, đồng thời còn phá vỡ hình thức gọn gàng của bài thơ gốc trong cách sắp xếp ngôn từ, sử dụng hình thức gọn gàng của bài thơ .
Thứ ba, dịch thơ nên cố gắng giữ lại ý nghĩa quan trọng trong bài thơ gốc (tín) vì nhà thơ thường dùng hình ảnh để thể hiện những hình ảnh sâu sắc của mình.
Tóm lại, thơ dịch phải làm sao giữ được hình thức và nhịp điệu của bài thơ gốc, trên cơ sở trung thành với ý nghĩa của nó, phản ánh đầy đủ ý nghĩa tư tưởng và thẩm mỹ của bài thơ gốc. Hơn thế, bài thơ dịch phải hấp dẫn, rõ ràng phản ánh rõ nét mục đích thẩm mỹ của bài thơ gốc; nếu không sẽ làm hỏng bài thơ.
Về hình thức, dịch thơ có hai phương pháp thường gặp: dịch hình thức, dịch diễn giải, dịch mở rộng (hoặc dịch tự do) và dịch bắt chước.
- Dịch thuật hình thức. Dịch hình thức theo đuổi giá trị học thuật của thơ dịch hơn là giá trị văn học. Người dịch theo đuổi sự trung thực tuyệt đối với hình thức (bao gồm cả âm vị học) của bài thơ gốc và tin rằng bài thơ dịch phải giống như một tấm gương, “phản ánh” chính xác bài thơ gốc. Có thể thấy rằng những bài thơ dịch theo phương pháp này thường không phù hợp với ngữ pháp của ngôn ngữ đích và thói quen thẩm mỹ của người đọc ngôn ngữ đích. Điều này nhìn chung không nên được ủng hộ, nhưng đôi khi phương pháp dịch này có thể xảy ra, cho ra đời những bài thơ nổi tiếng.
- Hình thức tự do, không bị giới hạn bởi các quy tắc truyền thống
Thơ mới thoát khỏi xiềng xích của nhịp thơ cũ và trở nên tự do, linh hoạt hơn về hình thức. Nhà thơ có thể tự do lựa chọn hình thức, kiểu dòng, số chữ, vần… của bài thơ theo ý đồ sáng tạo của mình mà không bị giới hạn bởi vần điệu truyền thống. Ví dụ bài thơ Nhớ quê của Dư Quang Trung. Bài thơ phá vỡ nhịp thơ cổ điển và áp dụng hình thức thơ tự do.
Thơ mới là sản phẩm của một giai đoạn lịch sử cụ thể, mang tính đặc thù của thời đại. Chẳng hạn, thơ mới thời Ngũ Tứ có nội dung tư tưởng phản đế, phản phong kiến mạnh mẽ; thơ mới thời kỳ kháng Nhật có chủ đề mạnh mẽ về kháng chiến, cứu nước.
Nhìn chung, thơ mới là một thể thơ có những đặc điểm riêng biệt, phá bỏ những ràng buộc về mặt vận luật của thơ cổ, có sự đổi mới về hình thức, ngôn ngữ, nội dung, kỹ thuật diễn đạt…, phản ánh yêu cầu phát triển của thời đại. và quan điểm tâm linh của con người, trở thành một bộ phận quan trọng của văn học Trung Quốc hiện đại.
Một quan niệm khác về dịch thơ
Lý thuyết ‘Tam mỹ’ của Lỗ Tấn.
Họ Lỗ quan niệm ” Thơ phải lấy “cái đẹp” làm điểm khởi đầu, thống nhất quan niệm nghệ thuật, vần điệu và hình thức của bài thơ gốc, đồng thời cố gắng truyền tải sức hấp dẫn độc đáo của bài thơ đến người đọc.” Có thể nói gọn về ba vẻ đẹp như sau: vẻ đẹp về ý nghĩa, vẻ đẹp về âm thanh, vẻ đẹp về hình thức
Cái gọi là vẻ đẹp của ý nghĩa là sự trải nghiệm của trái tim về nội dung, cảm xúc và quan niệm nghệ thuật của bài thơ; cái gọi là vẻ đẹp của âm thanh là sự trải nghiệm của tai về nhịp điệu, mức độ và vần điệu của bài thơ; về hình thức ám chỉ sự gọn gàng, ngăn nắp của các câu thơ.
“Thuyết tam mỹ- ba vẻ đẹp” là bản thể học của thơ dịch. Trong ba vẻ đẹp, vẻ đẹp về ý nghĩa đứng đầu, vẻ đẹp về âm thanh đứng thứ hai, sau đó là vẻ đẹp về tinh thần hơn là sự giống nhau về hình thức, vẻ đẹp của văn bản gốc. Một bản dịch hay phải là sự thống nhất hài hòa giữa ba nét đẹp.
Lý Thuyết Thẩm Mỹ của Lâm Ngữ Đường
Ông Lâm tin rằng “dịch thuật là một nghệ thuật” và dịch giả là chủ thể thẩm mỹ của dịch thuật và đóng vai trò quyết định trong toàn bộ hoạt động dịch thuật. Ông tin rằng nghệ thuật dịch thuật dựa trên ba điều: thứ nhất là sự hiểu biết thấu đáo của dịch giả về văn bản gốc; thứ hai là trình độ tiếng Trung của người dịch và thứ ba là kỹ năng dịch của người dịch. Từ đó, ông đề xuất ba tiêu chuẩn cho bản dịch: thứ nhất là tiêu chuẩn của sự trung thực, thứ hai là dấu hiệu của sự trôi chảy, và thứ ba là tiêu chuẩn của cái đẹp. Ông tin rằng dịch thuật cần có “năm cái đẹp”: vẻ đẹp của âm thanh, vẻ đẹp của ý nghĩa, vẻ đẹp của tinh thần và vẻ đẹp của hình thức.
Lý luận dịch thuật nghệ thuật của Mao Thuẫn
Về mặt lý thuyết dịch, Mao Thuẫn đề xuất ý tưởng nổi tiếng về “dịch sáng tạo nghệ thuật” và đưa những phạm trù quan trọng từ hệ thống thẩm mỹ cổ điển của Trung Quốc vào dịch thuật văn học. Ông tin rằng “truyền tải quan niệm nghệ thuật của tác phẩm gốc” là nhiệm vụ cơ bản. của dịch văn học.
Lý luận tương đồng tâm linh của Phó Lôi (傅雷)
Tư tưởng “tương đồng tâm linh” đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của lý thuyết dịch thuật. Phó Lôi đề xuất nguyên tắc dịch thuật từ nghiên cứu phương pháp hội họa, đồng thời sử dụng phương pháp truyền tải tinh thần để hình thành lý thuyết. Lí thuyết tương đồng tâm linh đã trở thành một khái niệm cốt lõi trong lĩnh vực dịch thuật văn học Trung Quốc.
Lí thuyết chuyển hóa của Tiền Trọng Thư
Quan niệm về dịch thuật văn học của ông: “Tiêu chuẩn cao nhất của dịch văn học là ‘hóa’. Việc chuyển tác phẩm từ ngôn ngữ của nước này sang ngôn ngữ của nước khác có thể tránh được sự độc đoán và xa vời, do sự khác biệt trong thói quen ngôn ngữ.”
Từ góc độ lý thuyết ngữ cảnh, bản dịch lý tưởng phải dựa trên các khía cạnh sau: thứ nhất, nội dung chính xác và trung thành với ý định ban đầu nhất có thể; thứ hai, dễ hiểu và tập trung hướng tới người đọc; hình thức phù hợp và bám sát văn bản gốc, đồng thời xem xét đầy đủ các tiêu chuẩn đầu vào.
Lý thuyết cạnh tranh lợi thế của Hứa Uyên Xung.
Hứa Uyên Xung đề xuất, trên cơ sở sự bình đẳng giữa văn hóa phương Đông và phương Tây và sự bình đẳng giữa người dịch và tác giả nguyên tác, ông cho rằng: “Dịch văn học là sự cạnh tranh giữa hai ngôn ngữ và hai nền văn hóa, là một nghệ thuật; là con đường để giành chiến thắng trong cạnh tranh là phát huy hết ưu điểm của bản dịch hoặc là sáng tạo lại”.
Theo quan điểm của ông, ngôn ngữ đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Dịch thuật là sự cạnh tranh giữa hai ngôn ngữ, thậm chí là hai nền văn hóa. Cần phải phát huy hết ưu điểm của ngôn ngữ đích và nỗ lực làm cho bản dịch có thể so sánh được với nhau. hoặc thậm chí tốt hơn văn bản gốc, để cả hai nền văn hóa có thể phát triển. Ông cho rằng: “Tiêu chuẩn cao nhất của dịch văn học gọi là văn học dịch, nghĩa là bản thân tác phẩm dịch phải là tác phẩm văn học. Mục đích của cuộc đua là giới thiệu tinh hoa của văn học bản địa vào văn học thế giới”.
Phụ chú:
(*)Từ Chí Ma có tên hiệu là Trương Tự, tên tự Dửu Sâm, ấu danh Hữu Thân, sau đổi thành Chí Ma, là nhà thơ, sinh trưởng trong gia đình khá giả và có thời gian du học tại Anh.
Từ Chí Ma chủ trương thơ mới và có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của thơ mới Trung Quốc. Ông cùng những người bạn Hồ Thích, Văn Nhất Đa, Lương Thực Thu, Trần Nguyên Đẳng cùng thành lập một hội quán văn học Tân Nguyệt Thi Phái hay Phái Tân Nguyệt- Từ điển Wikipedia)
(**)Ngải Thanh tên thật tên gốc là Tưởng Chính Hàm, hiệu là Hải Trừng (海澄). Ông sinh ra ở Kim Hoa, tỉnh Chiết Giang. Là một nhà văn, nhà thơ và họa sĩ hiện đại. Sự nghiệp sáng tác của Ngải Thanh trải qua nhiều thời kỳ quan trọng, từ những hoạt động văn học nghệ thuật cách mạng đầu tiên đến đỉnh cao sáng tác thơ thời kháng Nhật, đến các tác phẩm thời kỳ Trung Hoa mới, phong cách thơ giản dị, tự nhiên, gần gũi với văn hóa Trung Quốc. Vào ngày 5 tháng 5 năm 1996, Ngải Thanh qua đời vì bệnh tật ở tuổi 86.
(***)Văn Nhất Đa (24 tháng 11 năm 1899 —15 tháng 7 năm 1946), tên thật là Văn Gia Hoa, tên tự là Hữu Tam, sinh ra ở thị trấn Ba Hòa, huyện Tây Thủy, tỉnh Hồ Bắc. Nhà thơ, học giả Trung Quốc hiện đại, thành viên của Liên đoàn Dân chủ Trung Quốc, và nhà đấu tranh dân chủ.
Năm 1919, ông trở thành biên tập viên của “Tạp chí Đại học Thanh Hoa. Ngày 16/3/1923, sáng tác bài thơ dài “Trong vườn”; tháng 9, tập thơ mới đầu tiên “Nến đỏ” được xuất bản. Tháng 6 năm 1924, ông tốt nghiệp Đại học Colorado. Đầu tháng 1 năm 1925, ông tham gia ra mắt “Hiệp hội cải tiến kịch nghệ Trung Quốc”; tháng 7, bài thơ “Bài hát của bảy người con trai” được xuất bản, tháng 9 ông được thuê làm chuyên gia cho Trường Cao đẳng Mỹ thuật Bắc Kinh; . Tháng 2 năm 1927, ông giữ chức Trưởng phòng Nghệ thuật, Cục Chính trị Quân đội Cách mạng Quốc gia Vũ Hán. Tháng 1 năm 1928, tập thơ “Nước chết” được xuất bản. Tháng 8 năm 1932, ông được bổ nhiệm làm giáo sư Khoa Ngôn ngữ Trung Quốc của Đại học Thanh Hoa. Tháng 1 năm 1936, bài báo “Chú giải Lý Sao” được xuất bản. Năm 1943, Hiệp hội thứ mười một được thành lập. Tháng 3 năm 1945, giới văn hóa Côn Minh cùng xuất bản “Đề xuất giải quyết cuộc khủng hoảng hiện tại”. Ngày 15 tháng 7 năm 1946, trong một buổi mít tinh tưởng nhớ Lý Công Phố, ông đã tố cáo tội ác Quốc dân đảng ám sát Lý Công Phố. Ông bị đặc vụ Quốc dân đảng giết chết vào buổi chiều và qua đời ở tuổi 47.
(****)Biện Chí Lâm (8- 12- 1910 — 2- 12- 2000) là người Giang Tô. Nhà thơ, nhà phê bình văn học, dịch giả và thành viên Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tốt nghiệp khoa tiếng Anh, Đại học Bắc Kinh năm 1933. Năm 1949, ông làm giáo sư tại Khoa tiếng Tây Ban Nha của Đại học Bắc Kinh, nhà nghiên cứu tại Viện Văn học thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, phó chủ tịch Hiệp hội Nghiên cứu Shakespeare Trung Quốc, đồng thời là giám đốc và cố vấn của Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc. Gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc vào tháng 6 năm 1956. Năm 1958, ông chuyển sang làm công việc dịch thuật và nghiên cứu và bị ảnh hưởng nặng nề trong Cách mạng Văn hóa. Ông quay trở lại con đường học vấn và tiếp tục thực hiện công việc nghiên cứu, dịch thuật. Biện Chí Lâm là một trong những nhân vật quan trọng đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi thơ mới Trung Quốc thông qua thi phái Lưỡi liềm, chủ trương thơ hiện đại. Thơ của ông không chỉ chú ý đến cách sắp xếp âm tiết, sự cô đọng của ngôn từ mà còn chú ý hơn đến sự mới mẻ của cảm giác, sự độc đáo của trí tưởng tượng và giàu ý nghĩa biểu tượng. Ông được công nhận là nhà thơ tiêu biểu của Trường phái Lưỡi liềm và Trường phái Hiện đại, những trường phái thơ quan trọng trong Phong trào Văn hóa Mới.
(*****)Dư Quang Trung (21 tháng 10 năm 1928 – 14 tháng 12 năm 2017), một nhà văn, nhà thơ, học giả và dịch giả nổi tiếng đương đại, sinh ra ở Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, quê gốc Phúc Kiến.
Dư Quang Trung tốt nghiệp trường trung học YMCA Nam Kinh năm 1947, tốt nghiệp Khoa Ngoại ngữ và Văn học của Đại học Quốc gia Đài Loan năm 1952. Năm 1959, ông nhận bằng Thạc sĩ Nghệ thuật của Đại học Iowa, Hoa Kỳ. Ông đã giảng dạy tại nhiều Đại học ở Đài Loan. Trong thời gian này, ông đã hai lần được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ mời làm giáo sư thỉnh giảng tại nhiều trường đại học ở Hoa Kỳ. Từ năm 1974 đến năm 1985, ông là giáo sư khoa tiếng Trung của Đại học Trung văn Hồng Kông và đồng thời là giám đốc khoa tiếng Trung của Đại học Liên hiệp thuộc Đại học Trung Hoa Hồng Kông. Năm 1985, ông giữ chức giáo sư và giáo sư chủ nhiệm tại Đại học Tôn Trung Sơn ở Đài Loan, đồng thời giữ chức hiệu trưởng Trường Nghệ thuật Tự do và giám đốc Viện Ngoại ngữ và Văn học trong sáu năm.
Dư Quang Trung đã tham gia vào thơ ca, văn xuôi, bình luận và dịch thuật trong suốt cuộc đời của mình. Ông đã hoạt động trong thế giới văn học hơn nửa thế kỷ, đề cập đến nhiều chủ đề khác nhau và được biết đến như một “người theo chủ nghĩa đa nguyên trong nghệ thuật”. Ông là bậc thầy về thơ đương đại, một nhà văn văn xuôi quan trọng, một nhà phê bình nổi tiếng và một dịch giả xuất sắc.
Ông qua đời tại Đài Loan vào ngày 14 tháng 12 năm 2017, thọ 89 tuổi. [6]


Bài viết liên quan: