Hàng tre xanh ngát – Truyện ngắn dự thi của Bùi Tuấn Minh

1.

Tin bác Hùng trở về khiến cả nhà xôn xao. Người sốt sắng nhất là bố tôi -em trai ruột của bác. Bố bảo máu mủ thì sao bỏ được nhau. Còn mẹ tôi, người từng là vị hôn thê của bác năm xưa, lại lặng im suốt cả ngày. Sự bình thản ấy khiến tôi có cảm giác mẹ đã chuẩn bị từ lâu cho ngày bác trở về.

Mùa đông năm ấy rét căm căm. Giữa những ngày lạnh buốt ấy, hàng tre trước cổng nhà tôi bỗng vàng đi trông thấy, tre trụi lá, trông như những chiếc xương cá cắm ngược lên nền trời xám ngoét, ngày nào mẹ cũng quét hai lần sáng tối chất thành đống, vừa quét vừa xót. Bụi tre ấy ông nội trồng hồi tôi chưa đẻ, mẹ kể ông trồng tre như trồng sắn, cắm kín hàng rào, đất tốt, tre lớn nhanh, thừa chỗ nào măng trồi chỗ ấy, mới vài năm đã như bức tường tre kín mít. Từ nhỏ tôi đã giỏi nghịch, hay dẫm vào gai tre mỗi lần chân trần chạy nhảy. Ông xót cháu nội, nhưng nhất định không chịu chặt hàng tre, bố nói thế nào cũng không nghe. “Vinh trồng mộc, nhục trồng tre”, tôi loáng thoáng nghe ông hằn học thế, bố kể ông trồng trong cơn giận bác Hùng. Đó là tất cả những gì tôi được nghe về người bác ruột đã đi xa hai mươi năm.

Bố tôi làm nghề thầu xây dựng, cứ ở đâu trong vùng có công trình là bố nhận, rồi gọi thợ khoán về thi công. Nói như vậy nhưng bố là người có trách nhiệm, lúc nào cũng bám sát công trình bất kể lớn bé, bố không được đào tạo bài bản gì mà bản vẽ đọc vanh vách. Tiếng lành đồn xa, những năm ấy công trình nhận không xuể, lúc nào trông bố cũng đầu tắt mặt tối, sáng chỗ công trình này, chiều chỗ công trình khác, thương chồng, mẹ tôi cũng đi theo phụ giúp việc giám sát. Tôi học trường cấp một trong làng, cách nhà chỉ vài bước chân, luôn tự đi về không cần ai đưa đón. Chỉ có ông nội tỏ ra không hài lòng vì bố mải mê kiếm tiền mà sao nhãng việc nuôi dạy tôi.

“Rồi có khi lại hỏng thằng con”.

Ông nói, bố răm rắp nghe. Bố xin với ông làm đến cuối năm, nốt công trình dở dang để trả lương cho mọi người rồi nghỉ. Chưa đến cuối năm thì ông mất, năm đó tôi học hết lớp 6, đã có tiếng nghịch ngợm trong làng. Bố tôi hiền nhưng cục tính, có lần tôi mải chơi, tan học không về thẳng nhà mà rủ rê đám trẻ ra bờ sông Đáy tập bơi, chiều muộn mới mò về. Bọn trẻ khai ra tôi đầu têu, bố mẹ chúng nó đến nhà tôi phàn nàn, trách bố không biết dạy con. Bố chẳng nói chẳng rằng, mặt đỏ như gấc, bế sốc tôi lên, cầm hai chân dốc ngược xuống giếng sâu hun hút, máu dồn xuống đầu, hơi lạnh từ đáy giếng hắt lên khiến tôi hoảng loạn, la hét van xin. Mẹ khóc lóc xin mãi bố mới tha. Vậy mà tôi vẫn chẳng chừa.

Bố không làm cai thầu nữa mà ở nhà cho thuê cốt pha, nghề này thì chả cần phải đi đâu, ai muốn thuê cứ đến bãi nhà tôi mà chọn. Tôi lớn lên, ăn cơm mẹ nấu nhưng tính ông giời, thấy tôi chẳng lo học hành, suốt ngày quần cạp trễ, áo màu sặc sỡ với những hình thù dị hợm, lại thêm mái tóc sư tử, nhìn thằng con chán hẳn. Mỗi lần thấy thế, bố gắt:

“Người chẳng ra người, ngợm chẳng ra ngợm.”

“Cha mẹ sinh con, trời sinh tính, không nghiện là được.” Mẹ nói

Bố tôi mấy lần được mời đến trường nghe thầy cô phàn nàn về tình hình học tập kém cỏi của thằng con, nhiều lúc tôi thấy những nếp nhăn xô nhau trên trán cùng ánh mắt bất lực của bố tự trách mình chẳng còn sức mà dốc ngược tôi xuống giếng như năm xưa. Mà thực ra tôi thấy mình chỉ mải chơi chứ không đến nỗi mất dạy, ngỗ ngược hay dính dáng đến nghiện ngập như nỗi lo sợ của bố mẹ.

Có điều, tôi chỉ không hiểu sao khi ông mất, bố không còn tha thiết gì việc chặt hàng tre trước nhà. Lúc rảnh rỗi, bố hay ra ngoài hiên chỗ ông vẫn ngồi, trầm ngâm, nghiêng đầu trong gió, như đang cố gắng lắng tai nghe, tôi hỏi thì bố bảo: “Nghe tre kể chuyện”. Tôi thấy lạ, cũng nghếch tai lên nhưng chẳng có gì ngoài tiếng tre vặn ken két vào nhau.

2.

Một ngày nọ, bố lên ủy ban, khi về mang theo hai cái bì thư, một cái là giấy gọi nhập ngũ của tôi, ngắm nghía tờ giấy tôi hãnh diện lắm, cảm giác mấy hôm nữa mặc bộ quân phục trông tôi sẽ rắn rỏi, ra dáng người lớn. Mới mười chín tuổi nhưng sẽ được già trẻ gái trai gọi là chú bộ đội, oách phải biết. Thấy tôi có vẻ nở mũi, mẹ dặn đi dặn lại. “Cố gắng phấn đấu cho bằng hai ông”. Hai ông ở đây là ông nội và ông ngoại, những người lính đánh Mỹ, mẹ luôn mang hai ông ra mỗi lần dạy dỗ, uốn nắn nhiều đến mức khiến tôi quên mất việc hai ông từ lâu đã chẳng còn có mặt trên cõi đời này.

Bì thư còn lại là lời nhắn của bác Hùng gửi một người cùng làng mới ở miền Nam về.

Bữa cơm hôm ấy tuyệt nhiên là sự im lặng. Tôi vừa tò mò vừa háo hức muốn gặp người bác mà bấy lâu chỉ nghe nhắc đến qua vài câu chuyện đứt quãng, nhưng ánh mắt khác thường của mẹ lại khiến tôi thấy bất an. Bố chưa ăn miếng nào đã liên tục nhấp rượu. Mẹ xới cơm qua quýt rồi gắp mấy con tôm nhỏ vào bát tôi. Có lẽ vì tâm trí để đâu đó nên mẹ quên mất tôi bị dị ứng với tôm cua, ăn vào mề đay nổi khắp người. Tôm mẹ vẫn mua vì bố thích. Sực nhớ ra, mẹ vội gắp chúng trở lại. Trong lúc luống cuống, đôi đũa tuột khỏi tay, rơi xuống nền nhà. Tiếng động khô khốc vang lên giữa căn bếp, như gõ vào lòng mỗi người, khiến bữa cơm ủ ê bừng tỉnh.

“Kiểu gì chả phải đối diện với bác ấy”. Bố nói lẫn tiếng thở dài.

“Sao thế ạ?” Tôi thản nhiên hỏi.

“Chuyện người lớn, trẻ con biết gì.” Bố nói như gắt. Trước nay tôi luôn quen việc là đứa trẻ con trong mắt bố, câu ấy chẳng lạ lẫm, tôi và cho hết bát cơm rồi đứng dậy, chẳng quan tâm đến hai người thân sinh ra tôi đang nghĩ gì.

Tối ấy, tôi đi chơi với đám bạn tới nửa đêm, về đến cổng thấy bố ngồi đốt thuốc ngoài hiên. Tôi rén, nhẹ nhàng đi vào, nghĩ sẽ ăn sạc một trận như mọi lần nhưng bố chẳng nói gì, dường như bố đã bắt đầu coi việc tôi chơi bời về muộn là điều hiển nhiên. Điếu thuốc trên miệng bố vẫn đỏ lòm. Tôi vào nhà, nằm một lúc thì bố vén màn lên giường đặt mình, tiếng thở dài nặng trịch sực mùi thuốc lá khiến bên trong chiếc giường trở nên ngột ngạt, bên ngoài tiếng tre vọng vào ket két.

“Chuyện về bác Hùng là thế nào hả bố?”. Tôi buột miệng hỏi, quên mất việc ông sẽ lại gắt với tôi như hồi chiều nhưng không, dường như tôi chưa bao giờ đặt mình vào người đẻ ra mình để hiểu về ông. Tiếng bố đáp lại nghe lạ lắm, thào thào như gỡ từng mảnh tối. Bố đã kể cho tôi nghe câu chuyện của gia đình mình.

Ông nội và ông ngoại tôi là hai người lính gặp nhau trong trận Lăng Cha Cả, trận đó bi hùng, đường tiến vào sân bay Tân Sơn Nhất bị ùn tắc bởi xác xe tăng quân giải phóng. Đối phương chống trả điên cuồng, xe cứ tiến lên là hàng loạt súng chống tăng và hoả tiễn dồn dập bắn, đơn vị Tăng của ông nội không tiến lên được. Trước mặt ông là 7 chiếc xe tăng và xe bọc thép của quân ta ngùn ngụt cháy mà thi thể đồng đội trong xe không lấy ra được, ai cũng đầy xót xa. Sau ngày chiến thắng, đơn vị ông quay lại gom thi thể đồng đội mà phải đợi mất bốn ngày để sức nóng trong xe nguội đi, nhìn những thi thể chỉ còn là những nhúm tro đen.

“Bằng mọi giá phải vượt qua để tiến vào bộ tổng tham mưu và sân bay Tân Sơn Nhất”, lệnh cấp trên truyền xuống càng làm cho lòng quyết tâm của những người lính lên cao. Trong thời khắc ấy, ông phát hiện ra một con đường khác bên sườn Lăng Cha Cả, liền dẫn một đội xung kích vòng theo đường đó.  Chiếc xe bọc thép của ông băng băng trên đường, đi được một đoạn thì một người lính ở đơn vị khác với khuôn mặt ám màu muội đen lao ra vỗ vào thành xe.

“Phía trước có xe tăng địch phục kích”.

Ông vội xuống và cùng anh em trinh sát, quả đúng có 2 chiếc tăng đang ẩn nấp, rình mò. Nếu lúc nãy không kịp dừng lại thì chắc xe và những người lính sau xe đã thành bia bắn cho đối phương. Lúc này ông mới nhìn kĩ người đã báo cho mình.

“Có phải Sơn, con bà Thao làng Bụa không?”

“Vâng, đúng rồi, đồng chí là… ”

“Tao Thắng đây, mày không nhớ tao à, nhìn cái sẹo nhớ chưa?” Nói rồi ông nghiêng đầu để lộ chiếc sẹo dài cả gang tay dưới cằm.

“Nhớ rồi, Thắng sẹo”. Hoá ra hai người cùng xã, nhưng khác làng, đám trẻ chăn trâu hai làng thường xuyên đối đầu vì tranh giành đồng cỏ dưới chân chùa Hàm Long. Trong vùng chỉ có cỏ ở cánh đồng đó là quanh năm tươi tốt, trâu bò thả con nào con nấy cũng nình nĩnh, khoẻ mạnh. Người già bảo đất ở đây ngấm kinh, ngày nào cỏ cây cũng được thẩm lời phật nên mới xanh vậy. Cỏ mọc dày, trâu bò ăn chẳng kịp. Khổ nỗi, đất của chùa, chẳng thuộc làng nào nên mới thành cơ sự mâu thuẫn, vết sẹo ở cằm Thắng cũng từ một cuộc ẩu đả mà ra. Thắng đứng trên lưng con trâu, hùng dũng dẫn đầu đám trẻ xông vào đàn trâu làng Bụa, trông chả khác gì Đinh Bộ Lĩnh thủ ơ xưa. Tiếng trâu rống, tiếng trẻ hò hét huyên náo cả một vùng. Được một lúc thủa đám trẻ chạy toán loạn khi thấy Thắng ngã xuống đất, cằm trượt dài trên mỏm đá sắc nhọn.

Nhận nhau xong, Thắng cùng hai đồng chí mang theo B40, B41 luồn sâu đánh vu hồi diệt gọn 2 chiếc xe tăng. Đêm ấy, đơn vị tăng của Thắng và bộ binh của Sơn cùng trú quân tại sân bay Tân Sơn Nhất. Trong niềm vui thống nhất, họ nhắc đến trận đánh đẫm máu khi trưa. Hai người lính cùng hứa với nhau kết thông gia, sau này con gái của Sơn và con trai của Thắng sẽ nên duyên vợ chồng. Họ biên thư về gia đình thông báo sự gặp gỡ và mối đính ước này. Hết chiến tranh, chỉ có Thắng trở về, Sơn đã nằm lại chiến trường Campuchia vài năm sau đó.

“Lẽ ra người lấy mẹ con là bác Hùng”. Giọng bố như người ngoài cuộc. Khi bác Hùng đi bộ đội, ông nội đã đưa bác sang dạm ngõ nhà mẹ, hai gia đình thống nhất khi nào bác Hùng thực hiện hết nghĩa vụ quân sự sẽ tổ chức đám cưới. Trước ngày giải ngũ bác bắn tin sẽ về nhà muộn một thời gian vì thực hiện nhiệm vụ đột xuất. Vài tháng sau, bác trở về nhưng lại bỏ đi ngay ngày hôm sau, bác nói với ông sẽ không làm đám cưới với mẹ. Ông nội nổi cơn giận lôi đình, tuyên bố từ mặt bác Hùng, sau đó bố làm chú rể.

“Và bố đã thực hiện mong muốn của ông?”

“Thằng này hỏi hay nhỉ, thế nên mày phải vào bộ đội mới khôn ra được”. Giọng bố cáu bẳn.

Cả ngày hôm sau bố mẹ tôi thắc thỏm ngóng bác, đến nửa đêm thì bác về khi tiếng giày cồm cộp trước sân bố tôi mới giật mình bước ra, miệng chỉ thốt ra được tiếng “Kìa anh”. Rồi đỡ lấy chiếc túi du lịch đen kéo bác vào nhà. Mẹ tôi đang ngồi ghế salon đứng phắt dậy, cúi đầu lí nhí chào, hai tay vò lấy nhau. Tôi nghe thấy tiếng mẹ thở như đứt quãng.

Đêm ấy nhà tôi thật kỳ lạ. Mẹ bưng mâm cơm đã chuẩn bị từ chiều, vài món được hâm nóng lại, bác xì xụp ăn. Bác Hùng giống y ông nội, từ cái điệu trầm ngâm đến cách ăn uống, nói chuyện. Trong bữa ăn, thi thoảng bác nhìn tôi, khề khà nâng chén với bố, tuyệt nhiên không nhìn mẹ lần nào. Bố nói mai thông báo cho họ hàng, đằng nào bác cũng là trưởng chi, nhánh họ này bác vẫn là người đứng đầu, đất này một nửa cũng là của bác.

“Báo làm gì, rách việc.” Bác gạt phăng.

Bác bảo không thích ồn ào, họ hàng quanh đi quẩn lại cũng chỉ gom lại ngần ấy câu hỏi. Và ngần đó câu trả lời, ai độc mồm đẻ ra nhiều câu hỏi vô duyên. Tổ mệt người.

Bác kể sau lần về nhà cách đây 20 năm, bác đi Đông Âu, cái hồi Liên Xô tan rã, người người về nước thì bác đi theo chiều ngược lại, bác sống và buôn bán ở vùng Donetsk cùng với vài người bạn. Qua hơn chục năm tích được chút vốn liếng thì chiến tranh xảy ra, của cải mất trắng, nhiều năm sống giữa quân chính phủ và quân ly khai, thoát chết bao lần giữa đạn lạc bác nhận ra một điều là chẳng đâu bằng Tổ quốc mình, có chết cũng phải về Việt Nam mà chết.

“Nhưng sao ngày đó anh lại bỏ đi?”

Câu hỏi của bố tôi khiến bác sững người, miệng chén dính chặt trên môi. Ánh mắt bác lúc này mới thoáng liếc qua khuôn mặt mẹ.

“Để em nấu lại bát canh.” Mẹ tất tả bưng bát canh rau còn đầy xuống bếp. Chân mẹ bước như chạy.

Bác Hùng ngửa miệng dốc cạn chén rượu, tiếng “À” nặng nhọc bật ra từ cổ họng như lỡ nuốt phải đắng cay.

“Anh về đây không định đòi chia chác gì, mảnh đất này là của chú, không bao giờ anh đụng vào”.

Biết lỡ lời, bố lặng im. Tôi cũng lặng im, dù biết bác như cố tình trả lời không đúng câu hỏi.

“Nhưng anh phải về, để cho gia đình này thấy thằng Hùng bằng xương bằng thịt không phải là thằng hèn.” Dứt lời, chén lại được rót đầy, tiếng rượu như tiếng nước xối từ lòng người, cứ thế tuôn ra, tuôn ra. Đôi mắt bác sáng lên như sực nhớ ra điều gì đó.

“Rặng tre trồng bao giờ thế, hồi anh đi chưa có?”

Nói rồi bố kể, bác trầm ngâm, đôi mắt ngân ngấn.

Sáng hôm sau, trời vừa hửng lên tôi đã nghe tiếng dao chặt ngoài vườn. Là bố tôi. Bác Hùng chạy từ trong nhà bước ra nói như quát.

“Chú chặt làm gì, cứ để những cơn giận của bố đấy.”

“Anh chả hiểu gì về bố hết.”

“Chú nói gì?” Bác Hùng chạy lại nắm lấy con dao trên tay bố.

“Bố giận thế nhưng lúc nào bố cũng mong anh về.”

Bác Hùng thừ người, chẳng biết bác nghĩ gì, đoạn giằng lấy chiếc dao phang vào những gốc tre chan chát.

Hai người chặt đến gần trưa thì xong, mẹ và tôi kéo những đám tre ngổn ngang vào một góc. Khu vườn trở nên thoáng đãng, chẳng còn tiếng tre vặn vào nhau nghe đau đến thê thiết. Tiếng những người đàn ông sang sảng, ánh mắt mẹ mênh mông như gió đông thổi trên cánh đồng. Gió lướt qua những khuôn mặt người, như cố bóc tách những mảnh vỡ bấy lâu nay vẫn gắn chặt vào kí ức, là bác Hùng, là bố, là mẹ tôi. Mấy ngày sau, tôi lên đường tòng quân, điều gì về bác tôi cũng biết, trừ việc tại sao ngày ấy bác lại bỏ đi. Bố tôi từng hỏi nhưng không nhận được câu trả lời, và tôi tin rằng cả mẹ cũng không còn muốn biết. Có những việc mà người lớn chẳng bao giờ muốn giải quyết, cứ để thế mà sống lại hay, như chuyện của gia đình này.

4.

Tôi nhập ngũ đúng vào mùa gió bấc. Đêm đầu tiên ở đơn vị, nằm trên chiếc giường sắt lạnh ngắt, nghe tiếng võng kẽo kẹt của đồng đội trực đêm, tôi bỗng nhớ nhà đến quặn người. Nhớ mùi khói bếp ám trên áo mẹ, nhớ dáng bố ngồi ngoài hiên đốt thuốc và nhớ khoảng sân trước cổng giờ trống hoác sau ngày hàng tre bị chặt. Lạ thật, trước đây tôi ghét tiếng tre lắm, những đêm mưa gió, tiếng tre cọ vào nhau ken két như ai nghiến răng trong bóng tối, nhưng khi không còn nữa, khoảng sân nhà tôi im quá. Im đến hụt hẫng.

Một tối sau giờ điểm danh, tôi nhận được thư nhà, phong thư chỉ có vài dòng chữ của mẹ: “Bác Hùng ốm rồi con ạ. Bác không cho báo cho con biết nhưng mẹ nghĩ con nên biết.”

Tôi đọc đi đọc lại mấy dòng ấy dưới ánh đèn vàng, tự nhiên nhớ tới ánh mắt bác hôm chặt tre. Trong ánh mắt bác hôm ấy, có cảm giác như một người vừa đặt xuống được gánh nặng đã mang suốt nhiều năm.

5.

Tôi được nghỉ phép vào giữa mùa hè. Vừa bước qua cổng, tôi đã thấy bác Hùng nằm trên chiếc chõng tre cũ của ông nội ngày xưa. Người bác gầy đi nhiều quá. Cái vẻ ngang tàng hồi mới về làng như bị ai gọt mất, chỉ còn đôi mắt vẫn sâu và buồn. Thấy tôi rắn rỏi trong bộ quân phục, bác chống tay ngồi dậy, cười: “Lính tráng thế này mới được.” Tôi cũng cười theo, nhưng cổ họng bỗng nghèn nghẹn. Bữa cơm hôm ấy rất lạ. Bố uống ít rượu hơn mọi lần, mẹ chẳng gắp thức ăn cho ai, chỉ lặng lẽ xới cơm. Còn bác Hùng cứ nhìn mãi khoảng sân trước cổng, nơi chỉ còn những gốc tre già lởm chởm chưa kịp đào đi. Ăn được nửa bát cơm, bác bất ngờ hỏi bố tôi: “Chú còn nhớ ngày bé bố đánh anh không?” Bố khựng lại rồi gật đầu. Bác cười khẽ: “Lúc ấy anh hận ông cụ lắm. Ông đánh đau như thù.” Bố không nói gì. Bác nhìn ra sân, giọng chậm rãi: “Sau này mới hiểu… đàn ông trong nhà này không biết thương nhau bằng lời.”

Đêm đó, tôi tỉnh giấc vì tiếng ho của bác. Tiếng ho nghe như có ai đang xé một tấm vải cũ trong lồng ngực. Bước ra hiên, tôi thấy bác ngồi một mình dưới ngọn đèn vàng tù mù. Trên nền gạch là một vệt máu sẫm chưa kịp lau, nhưng vừa thấy tôi, bác đã vội dùng chân chà đi. “Chưa ngủ à?”. Bác hỏi.

Tôi gật đầu, nhìn bác: “Bác bị bệnh gì?”

“Già thì bệnh thôi.” Tôi ngồi xuống cạnh bác. Ngoài đồng, gió thổi thành từng cơn dài. Bác Hùng cúi đầu nhìn đôi bàn tay nổi đầy gân xanh.

“Có biết vì sao ngày xưa bác bỏ đi không?” Tôi lắc đầu. Bác cười nhạt, nụ cười nhăn lại như một mảnh giấy cũ. “Trước ngày giải ngũ, bác bị thương.” Bác nói đơn giản như kể chuyện của ai khác. “Dính mìn. Nằm viện mấy tháng trời.” Tôi lặng người, bởi chuyện ấy chưa ai trong nhà từng kể cho tôi nghe.

Một lúc sau bác mới nói tiếp, giọng đều đều: “Bác sĩ bảo sau này bác khó có con.” Cơn gió ngoài đồng thổi qua mang theo mùi rơm khô ngai ngái. Tôi thấy cổ họng mình nghẹn lại. Bác vẫn nhìn về khoảng tối ngoài sân. “Đàn ông mà không làm cho đàn bà có con thì còn gì là đàn ông.” Tôi không biết phải nói gì. Bác cười, nhưng trong mắt không có niềm vui. “Bác về nhà muộn mấy tháng. Mẹ mày vẫn đợi, ông nội thì giục cưới, ai cũng mừng.”

“Sao bác không nói với mọi người?” Tôi khẽ hỏi. Bác lắc đầu, sau đó là khoảng lặng kéo dài, chỉ còn tiếng gió luồn qua những bụi tre cuối xóm.

Lúc sau bác mới nói: “Trước khi quyết định ra đi, thấy bố mày phụ ông nội sửa lại cái cổng, khi ấy bác nghĩ nếu người ở cạnh mẹ mày là bố mày, có khi lại tốt hơn.”

“Rồi sau này bác có hối hận không?” Tôi quay sang nhìn bác. Khuôn mặt già nua ấy bình thản đến lạ.

“Có chứ. Người ta sống cả đời, mấy ai không từng hối hận, nhưng hối hận vì đã yêu một người thì khác, còn hối hận vì làm khổ người mình yêu lại khác. Người ta cứ nghĩ giữ được nhau mới là yêu, nhưng nhiều khi buông ra mới khó.” Bác ngẩng đầu thở một hơi dài, tan cả vào trong đêm.

Bác Hùng mất vào một sáng nhiều sương. Trước lúc mất, bác gọi bố tôi lại gần. Tôi đứng ngoài cửa chỉ nghe loáng thoáng một câu: “Chú trả anh đủ rồi…” Rồi bố tôi khóc, lần đầu tiên trong đời tôi thấy bố khóc như một đứa trẻ.

Đám tang diễn ra lặng lẽ. Sau khi hạ huyệt, mẹ tôi đặt xuống mộ bác một chiếc khăn tay cũ đã ngả màu. Bố đứng cạnh không nói gì, mãi khi mọi người gần về hết, bố mới nhìn mẹ rồi khẽ hỏi: “Bà giữ cái khăn ấy hai mươi năm rồi à?” Mẹ không nói. Tôi tưởng bố sẽ buồn, nhưng không. Bố chỉ cười, nụ cười hiền khô: “May mà anh ấy về kịp.” Mẹ bật khóc, còn bố quay đi châm thuốc, khói bay lên giữa nghĩa trang chiều trắng đục.

Một năm sau, tôi xuất ngũ. Ngày về, trước cổng nhà lại có tre đang mọc quá đầu người. Những mầm tre non xanh mướt đang nhú lên quanh gốc cũ vùi dưới lớp đất mỏng. Tôi ngạc nhiên hỏi bố ai trồng, bố đang tưới nước bỗng khựng lại đáp: “Không ai trồng.”

“Thế sao lại mọc nhiều vậy ạ?”

Bố nhìn hàng tre rất lâu, giọng chậm rãi: “Tre già chết đi thì măng tự mọc lên thôi.”

Gió chiều thổi qua, những lá tre non rung lên rất khẽ, lúc ấy tôi lại nhớ đến bác Hùng. Một con người đã đi gần hết đời, tưởng như biến mất khỏi gia đình này từ lâu, nhưng đến cuối cùng hóa ra bác vẫn ở lại, trong ánh mắt mẹ mỗi lần nhắc đến, trong cách bố tôi lặng người mỗi khi đứng trước mộ bác.

Còn hàng tre trước cổng nhà, sau bao mùa gió bấc, lại bắt đầu xanh lên.

B.T.M