
Từ phố biển Mỹ Khê chúng tôi trở về thăm lại kỳ quan Mỹ Sơn. Quãng đường khoảng năm mươi cây số nên sau hơn một giờ xe chạy mấy anh em tôi đã có mặt ở trung tâm thánh đường của người Chăm xưa. Nhìn lại khu di sản với hơn bảy mươi đền tháp của Ấn Độ giáo, cái còn cái mất, toạ lạc trong một thung lũng kín đáo, được bao bọc bởi bốn bề núi rừng thâm nghiêm hùng vĩ, giữa đại ngàn Thu Bồn, tôi vẫn không thoát khỏi sự choáng ngợp, thán phục xen lẫn những xót xa, luyến tiếc. Những tuyệt tác kiến trúc đầy bí ẩn của một thời vàng son rực rỡ trước mắt tôi nay đã ngậm ngùi ẩn mình vào trong quá khứ. Đi qua chín thế kỷ tạo lập, từ thế kỷ IV đến thế kỷ XIII và tồn tại cho đến tận ngày nay, dẫu không còn nguyên vẹn như thuở ban đầu, do sự tàn phá của thời gian và chiến tranh, những đền tháp rêu phong, đặc biệt là hình ảnh sống động của “Những Chiêm nữ mơ màng trong tiếng sáo/ Cùng nhịp nhàng, uyển chuyển uốn mình hoa” trên các tầng tháp cổ hay trong bảo tàng điêu khắc Chăm đã làm tôi say đắm. Dường như, ánh nắng vàng ươm của buổi sớm mai, rơi xuống từ tán lá của rừng già còn vương trên những bức tường lở lói trong khu thánh địa hoà trong tiếng gió rì rào của đại ngàn đã làm sống lại những hoài niệm trong tôi. Tiếng gió và những giọt nắng miên man ấy tựa như một nhịp cầu thời gian đưa tôi trở về đêm trăng ngọc ngà năm xưa của nước non Hời giữa vũ điệu Apsara rực cháy trong nhịp trống Ghinăng, Paranưng rộn ràng và điệu kèn Saranai réo rắt.
Rừng thiêng không còn trầm hương nghi ngút nhưng ngắm nhìn những vũ nữ uyển chuyển trong điệu Apsara tôi có cảm giác các nàng vẫn còn đó, chưa nghỉ và liên tục nhảy múa xuyên qua cả ngàn năm. Càng ngắm, tôi càng bị mê hoặc. Những vũ nữ Apsara hiện lên trong mắt tôi không chỉ đơn giản là một tác phẩm điêu khắc mà hơn thế đó là một vẻ đẹp mang tính quan niệm độc đáo của người Chăm xưa. Những vũ nữ có khuôn mặt phúc hậu, hai mắt mở to, sống mũi cao; bộ ngực tròn đầy nở nang; eo thon nhỏ chắc lẳn; chân dài quyến rũ; hai bờ vai tròn trịa, cánh tay thon thả đang uốn cong nhịp nhàng trong các điệu múa và được điểm xuyết bằng vương miện đội đầu, vòng tay, lắc chân, đặc biệt là bộ xiêm y ngắn và rất mỏng. Nhìn những thân hình bán khoả thân nóng bỏng như thế nhưng chúng không gợi lên một chút cảm giác sắc dục nào cả mà chỉ thấy toát lên một vẻ đẹp nữ tính thánh thiện, tràn trề thanh sắc. Những hình ảnh ấy hiện lên trong tôi vừa đẹp vừa lạ. Nó mạnh mẽ và rất cá tính. Dường như, trong nghệ thuật điêu khắc của các dân tộc ở nước ta tôi chưa thấy tuyệt tác nào lại cân đối, hài hoà và hấp dẫn như những vũ nữ Chăm trong điệu múa Apsara. Ở đấy tôi đã cảm nhận được nét đẹp gợi cảm của trần thế như hài hoà cùng cái thiêng liêng cao cả của nơi vĩnh hằng. Những thiếu nữ Chăm trong vẻ đẹp phồn thực, căng tràn nhựa sống cùng sự thăng hoa tâm linh ấy làm hiện lên những hỷ lạc của nơi cõi thiêng khiến cho những ai đối diện dễ dàng buông bỏ bụi trần mà hướng về các đấng sáng tạo. Cứ thế, những vũ điệu ấy ngưng đọng ngàn năm trong cái tư thế uốn cong ba khúc: đầu nghiêng, hông đẩy, chân quỳ hoặc ở tư thế đang nhón chân nhảy múa trên từng thớ đá hay uyển chuyển trên từng viên gạch. Đi qua hàng trăm năm, hàng ngàn năm những vũ điệu Apsara vẫn cứ bùng nổ tràn đầy năng lượng. Những cơ thể mỹ miều được cố định trên thân tháp hay những đài thờ song hành cùng năm tháng cho đến bây giờ vẫn làm cho người ta rung cảm bởi cái vi diệu của không gian, thời gian. Những vũ nữ trong các điệu múa là hiện thân của cái đẹp đang chuyển động. Chuyển động nhưng không mất đi mà song hành cùng thời gian được tĩnh tại trên các đền đài nguy nga. Những nghệ nhân Chăm xưa, dù nhìn bằng con mắt của Ấn Độ giáo nhưng đã không khiên cưỡng trong sáng tạo. Họ đã nhận ra những “bông hoa của đất” bao giờ cũng phải thuận theo nhịp hải hà của vũ trụ. Bởi vậy, trên các bức chạm khắc, các vũ nữ Apsara không bao giờ đơn điệu. Những nét cong trên thân thể ngọc ngà ấy đều có sự tương đồng với thế giới của vạn vật cỏ, cây, hoa lá hay lửa, nước đang dâng trào. Và giữa cái thế giới tự nhiên mênh mang ấy cô gái Chăm hiện lên như một kiệt tác hoàn hảo nhất của tạo hoá. Mỗi điệu mông lắc, mỗi dáng chân dập hay vòng tay uốn lượn đều như gợi lên dòng thời gian đang trôi. Đó là cái đẹp của con người trần thế không tách khỏi tự nhiên và vòng tuần hoàn của trời đất. Ngắm nhìn những vũ nữ Chăm ấy qua đồ trang sức và trang phục ta vỡ lẽ triết lý tôn vinh bản thể. Hoá ra những chủ nhân của nền văn minh huy hoàng của một thời đã qua ấy không thích lối rườm rà. Họ chỉ cần một chiếc váy mỏng, ôm sát thân hình, để lộ những đường cong tuyệt mỹ của tạo hoá. Hình như họ thích sự tinh tế trong những chiếc vòng cổ, vòng tay, vòng chân hay trên vương miện. Để rồi trên tấm thân ngọc ngà ấy người ta sẽ nhận ra sự tương phản và nâng đỡ nhau để tôn vinh nét đẹp của nhan sắc. Đó chính là sự trong trẻo, mịn màng của da thịt (thể hiện qua các mảng khối điêu khắc phẳng) và sự tinh xảo của các loại trang sức, trang phục tôn lên vẻ đẹp nguyên bản và quý phái của người thiếu nữ. Bởi vậy, nhìn những vũ nữ Apsara, ta không chỉ được chiêm ngưỡng một thiếu nữ đang múa mà hơn thế là nhận ra được một vẻ đẹp ẩn chứa những quan niệm mỹ học vô cùng sâu sắc. Những vẻ đẹp ấy phải chăng là những triết lý nhân sinh của người xưa muốn gửi đến hậu thế qua những đường cong mềm mại được ký thác vào từng viên gạch hay thớ đá sa thạch tưởng như rất vô tri đang trơ gan cùng tuế nguyệt giữa đại ngàn linh thiêng.
Chiêm ngưỡng vũ nữ Chăm và điệu múa Apsara trong lung linh nắng vàng như rót mật trên tầng tháp cổ ta không khỏi say lòng. Bất giác tôi lại nghĩ đến vũ nữ Khmer trong vũ điệu Apsara trên đền đài Angkor Wat. Thiếu nữ của đất nước chùa tháp ấy nếu là hiện thân của sự tráng lệ, tôn nghiêm và chuẩn mực hoàng gia thì những cô gái Chăm trên dải đất miền Trung của chúng ta lại hiện ra trong vẻ đẹp mang hơi thở của thiên nhiên, tự do và phóng khoáng; tràn đầy sức sống nguyên sơ và phồn thực mãnh liệt với những điệu múa uyển chuyển mang trọn tâm hồn đại ngàn Champa. Dường như cái tư thế uốn cong ba khúc (Tribhanga) trong nghệ thuật tạo hình từ quê hương Ấn Độ khi đến đất này đã không còn nguyên vẹn nữa. Nó đã được chuyển hoá và hoà vào văn hoá bản địa. Cho nên dưới bàn tay nghệ nhân tài hoa xưa những vũ nữ Chăm trong những tác phẩm điêu khắc trở nên chân thực, sống động và rất có hồn. Nó không lẫn vào đâu được và trở thành những sáng tạo độc bản. Đứng trước đền đài huy hoàng rực rỡ ấy hẳn không ít người đã nghĩ đến sự ngang tầm với một Angkor Wat của Campuchia, một Borobudur của Indonesia hay một Pagan của Myanmar. Thật rực rỡ và kỳ vĩ. Nhưng rồi đối diện với sự tàn phai trên từng phế tích ấy ai nấy không khỏi một phút cảm hoài, tiếc nuối về một thời vàng son nay chỉ còn lại những ký ức, trầm mặc ngủ yên trên những đền tháp hay những khối đá cổ kính rêu phong.


Bài viết liên quan