Ai làm cho khói lên trời… – Truyện ngắn dự thi của Hồ Thúy An

Ai làm cho khói lên trời

Cho mưa xuống đất…

Con Bé Hai có sở thích ngộ lắm! Nó khoái khói! Ngộ ác hông?

Mới đầu, con Bé Hai khoái khói nhang, mỏng mảnh, thơm thơm. Cứ chiều chiều, thấy bà nội rề rề tới bàn thờ là con Bé Hai tót vô theo. Lúc thì nó cầm diêm quẹt cho bà nội đốt nhang, lúc thì nó cầm nhang cho bà nội mồi lửa, lúc thì nó đứng dòm bà nội cắm nhang vô lư hương, có lúc nó còn được bà nội đưa cây nhang để cắm… Tóm lại là ngả nào nó cũng phải hỉnh lỗ mũi để hít mùi khói nhang. Bởi vậy, bà nội con Bé Hai đi đâu cũng khoe nhỏ cháu biết hiếu thảo, biết đốt nhang cắm bàn thờ tổ tiên.

Tới bữa đám giỗ ông cố nội con Bé Hai, bà nội con nhỏ cũng vui miệng ngồi khoe y như vậy. Mấy cô, mấy thím, người thì liếc con Bé Hai sắc lẻm, người thì nói mát với má nó:

– Chị khéo hen, dạy con nhỏ mới bây lớn mà biết nịnh bà già!

Hồi đó con Bé Hai còn nhỏ xíu, nó tưởng người ta khen nên hớn ha hớn hở lên kể ráo trọi cho tía nghe. Tía con Bé Hai nổi xung, hầm hầm chạy xuống, nạt:

– Đứa nào nói tụi tao nịnh má để lấy của? Tụi bây ngon thì về nịnh! Tao đi!

Tánh của tía con Bé Hai nóng như lửa. Đám dâu rể trong nhà tái mét mặt mày, nín khe dồn lại một đống. Riêng thím Năm của con bé Hai thì dạn miệng trả lời:

– Anh làm gì mà nóng dữ vậy anh Hai?!? Cái nhà hương hỏa đã để cho anh ở, anh còn cự nự gì?!? Tụi tui lâu lâu mới về, nói mấy câu cũng không được sao anh Hai?

Thím Năm nói làm tía con Bé Hai càng giận. Ai thèm giành giật cái nhà hương hỏa này?!?

Nhà nội con Bé Hai đông con thiệt, mà chú thím Ba, chú thím Sáu kẹt công ăn chuyện làm ở một phường trung tâm của tỉnh, cô Tư phải theo chồng xa; chú thím Năm phải ở ngoài cửa hàng để buôn bán; tới chú thím Út cũng nhất định mở cửa hàng ở mặt tiền để làm ăn, để tiện cho chuyện học hành của con cái,… Để thế này rồi để thế khác, cuối cùng cái nhà hương hỏa còn có hai ông bà già mà thôi.

Nếu không phải hết lần này tới lần khác ghé về đều thấy cái cảnh vắng tanh vắng ngắt của nhà cũ thì còn khuya tía con Bé Hai mới dọn về đây. Bây giờ lại bị nói như vậy, ông tức tới không nói nổi. Vừa lúc đó, ông nội con Bé Hai về tới. Tánh ông cũng thậm nóng. Nghe cự cãi kiểu đó, ông hầm hầm vác rựa ra chặt cái bụp vô gốc cây gòn trước sân, gườm gườm:

– Bữa nay đám giỗ tía tao nghen! Đứa nào làm con làm cháu mà về để gây cãi, giành giựt thì đi lẹ cho khuất con mắt tao!

Vụ cự cãi vậy là im. Nhưng tía con Bé Hai còn ấm ức, đòi dọn đi. Nhưng má con Bé Hai cản:

– Ủa, mình về ở với tía má mình mà còn sợ ai nói gì?! Tui có hiếu thiệt hay giả, tía má tự có con mắt dòm! Tui có lòng có ý nịnh hót để giành của hay không, tổ tiên tự có linh thiêng chứng! Ai nói gì kệ họ! Mình làm cho đã nư mà bỏ tía má sao đặng hả mình?!?

Tía con Bé Hai thở ra cái sạt, gật đầu. Ừa, thì miệng đời mà, chấp chi cho mệt! Nhưng từ bữa đó, tía con Bé Hai buồn hiu.

Bữa đó, con Bé Hai núp trong kẹt cửa, nghe vậy mà nó hiểu. Từ đó, con Bé Hai không theo bà nội đi đốt nhang nữa. Ai biểu bữa hổm mấy thím, mấy cô nói má nó như vậy, bà nội ngồi đó nghe rõ ràng mà hổng nói gì hết trơn! Hổng lẽ bà nội cũng nghĩ nó đi theo đốt nhang là để nịnh, để bà cho của hả?!? Nói vậy, lúc nó nhổ tóc sâu cho bà nội, đấm lưng, rót trà cho ông nội,… cũng là nó nịnh hả?!?

Con Bé Hai cũng không thích khói nhang nữa! Ai biểu…

Sau đó, con Bé Hai đâm ra khoái khói bếp. Có khói bếp là có đồ ăn ngon! Khói bếp cũng mỏng mỏng, nhưng lan ra, như mây. Con Bé Hai mê luôn.

Nhưng được ít tháng, con Bé Hai lại hết khoái khói bếp. Tại vì, cô Tư về ở.

Cô Tư hay cười, nói chuyện cái giọng ngọt ngây, nhưng không hiểu sao, nhìn cô Tư đãi cái miệng, nheo con mắt, con Bé Hai cứ thấy giả giả. Đã vậy, cô Tư còn khoái trổ tài nữ công gia chánh. Mấy món cô Tư nấu, con Bé Hai thấy hổng ngon bằng má nó nấu, vậy mà ông bà nội cứ khen nức nở, nói cô Tư nấu còn ngon hơn nhà hàng nữa. Con Bé Hai không phục! Nó ấm ức mà má nó chỉ cười, nói:

– Tại cô Tư nấu ăn hợp khẩu vị của ông bà nội. Với lại, cô Tư là con gái của ông bà, cô Tư nấu thì ông bà thấy ngon hà! Giống như bữa con nấu món gì đó, má ăn cũng thấy ngon mà!

Con Bé Hai nhíu mày, ngẫm nghĩ, băn khoăn. Cô Tư là con của ông bà nội, thì tía má nó cũng là con của ông bà nội mà. Sao đó giờ ông bà nội không có khen má nó tiếng nào như khen cô Tư vậy? Hổng lẽ tía má nó không phải là con của ông bà nội ha?!?

Trong lúc con Bé Hai nghĩ hoài chưa ra được câu trả lời, thì lại có đám giỗ. Ông nội con Bé Hai là con Út, được hưởng nhà hương hỏa, cho nên bao nhiêu đám giỗ đám quải trong gia tộc, nhà nội nó đều phải mần hết. Nên miệt này mới có câu “giàu Út ăn, nghèo Út chịu” đó!

Con Bé Hai nghe vậy thì thắc mắc. Ủa, nói vậy nhà hương hỏa là để dành cho con Út hả? Vậy sao chú thím Út hổng ở mà biểu nhà nó ở chi rồi nói tía má nó giành của? Giành sao được mà giành? Cái của này, là để sẵn cho con út mà? Thí dụ mà nhà nội nghèo, thì con Bé Hai còn hiểu được, là chú Út sợ “nghèo út chịu” nên hông muốn ở nhà hương hỏa. Nhưng nhà nội con Bé Hai có nghèo đâu! Mấy chú của nó cũng đều giàu có, là thương nhân có tiếng, là bác sĩ có tiếng, là giám đốc của công ty này nọ,… Chỉ có tía má con Bé Hai là theo nghiệp gõ đầu trẻ, không có cục đất chọi chim.

Bởi vậy nên chú thím Út về ở nhà hương hỏa là phụng dưỡng tía má, kế thừa hương khói tổ tiên; còn tía má con Bé Hai về ở là trái đạo chớ còn gì nữa?

Đó, cô Tư ngồi thẻ thọt với thím Út vậy đó. Con Bé Hai lừ lừ nhìn cô Tư. Nhưng rút kinh nghiệm chập đám giỗ trước, con Bé Hai không dám kể với tía nữa mà chạy u ra sau bếp, kể cho má nghe. Nó còn hỏi má chớ: “Trái đạo là trái gì vậy má?”

Má con Bé Hai không trả lời, nhưng con Bé Hai đoán “trái đạo” chắc cay lắm! Cay còn hơn khói bếp nữa! Chớ không, sao nó mới nhắc tới “trái đạo” thôi thì đã thấy hột nước mắt của má nó rớt cái bộp xuống mớ lá dừa khô. Con Bé Hai hết hồn. Thánh thiềng ơi! Má khóc hả má? Má con Bé Hai lắc đầu, đổ thừa tại khói bếp hun cay mắt. Con Bé Hai lừ con mắt dòm cái bếp lạnh te, dòm bó lá dừa còn nằm trong tay má, dòm cái hộp quẹt còn chưa kịp xẹt ra miếng lửa nào, im im đi ra sân. Từ bữa đó, con Bé Hai hết khoái khói bếp. Khói bếp có gì hay đâu? Cay mắt thấy mụ nội, có khói bếp là có nước mắt hà! Thấy ghét!

Sau bữa đó, con Bé Hai âm thầm tìm hiểu “trái đạo” là thứ trái gì mà có thể làm má nó khóc. Phải biết là, từ hồi con Bé Hai biết chuyện tới giờ, nó chưa thấy khi nào má nó khóc, mà còn khóc nghẹn ngào như vậy, còn đổ thừa khói bếp kiểu đó. Con Bé Hai biết chắc chắn là má nó khóc không phải tại khói bếp! Tại vì lúc đó cái bếp đã nhúm được miếng lửa nào đâu? Con Bé Hai hay nghe cô Tư nói cái câu “không có lửa làm sao có khói” nè. Mà bữa đó, rõ ràng nó không thấy miếng khói nào bay lên! Vậy tại sao má nó lại bị cay mắt? Tại sao má nó khóc? Hổng lẽ tại nó ha?

Con Bé Hai ấm ức trong bụng hết mấy bữa thì nghĩ ra cái “trái đạo”! Ờ, đúng rồi, tại cái “trái đạo” đó hết! Mà, “trái đạo” là cái trái gì? Có cay không? Có đắng không? Sao má nó nghe tên cái trái đó thôi là đã khóc? Má con Bé Hai, ăn ớt là ăn nguyên trái, uống thuốc là nhai nuốt luôn khỏi cần nước; thì cái trái đó nó phải cay tới cỡ nào, đắng tới cỡ nào mới làm má nó khóc như vậy? Khóc, mà không dám cho ai biết! Khóc, mà còn đổ thừa tại khói bếp?!?

Con Bé Hai quyết chí đi “nghiên cứu” coi cái “trái đạo” là cái thứ trái gì. Nhưng phải tới đám giỗ lần sau, con nhỏ mới hiểu lờ mờ “trái đạo” này không phải là trái, mà là… cái gì đó… rất khó diễn tả!

Lần đám giỗ sau, nói thì nghe lâu, chớ thiệt ra cách đám giỗ mà con Bé Hai biết tên cái “trái đạo” có mấy tuần thôi. Bữa đó, lúc con Bé Hai đang bằm tỏi ớt, thì cô Tư lại nhắc tới cái “trái đạo” đó với thím Út lần nữa. Nhưng bữa đó, kế bên con Bé Hai còn có thím Năm. Cho nên, thím Năm trề môi như miếng dưa mắm, xăm xăm bước vô, đãi đớt hớt lời:

– Ủa, ngộ ác hông? Sao hồi đó cô kêu anh chị Hai về đây ở, cô không nói “trái đạo”? Sao lúc chú thím Út, đáng lẽ phải ở đây với tía má, lại một hai dọn đi, cô không nói “trái đạo”? Giờ cô nói chữ “trái đạo” này nghe có chói lỗ tai không cô Tư?

Tự nhiên con Bé Hai thấy thím Năm bữa nay dễ thương dễ sợ! Không phải vì thím binh tía má nó, cũng không phải vì thím bắt bẻ cô Tư; mà bởi vì, thím Năm nói ra sự thật. Chớ gì nữa! Nếu nói tía má con Bé Hai về đây là “trái đạo”, thì sao chú thím Út không chịu ở cho “không trái đạo”?

Con Bé Hai còn nhớ rõ ràng nè, hồi đó, chính cô Tư là người tới nhà trọ chỗ con Bé Hai ở, khóc bù non bù nước, kể lể là thím Út hỗn hào với ông bà nội, kêu tía con Bé Hai với chú Ba ở tuốt tỉnh khác về để “xử tội” thím Út. Hên là lúc đó, má con Bé Hai cản lại, biểu tía sắp nhỏ bình tĩnh suy nghĩ, chớ không là lớn chuyện rồi! Rồi có bữa, cô Tư còn ghé qua, kêu tía con Bé Hai ra chỗ sở làm của thím Út, đặng thưa gởi, kiện cáo chuyện thím Út mất dạy với bà già chồng. Bữa đó, cũng là má con Bé Hai cản lại, nói là cơ quan họ không có xử chuyện nhà với lý do bá xàm bá láp kiểu đó đâu, làm rùm beng chỉ có nhà mình mất mặt thôi. Đó, nên tía con Bé Hai đâu có đi quậy cơ quan người ta. Mà cô Tư nói cái miệng vậy thôi chớ cổ cũng đâu dám đi quậy?…

Mấy chuyện đó, không biết chú thím Út có biết không mà sau đó họ nằng nặc dọn đi, ra Thị trấn ở, nói là đặng dễ bề làm ăn. Rồi ông bà nội của con Bé Hai già yếu, bệnh hoạn, mà không có đứa con nào ở kế bên chăm sóc, tía con Bé Hai xót ruột, mới kêu cô Tư về ở nhà hương hỏa. Mà dượng Tư không chịu ở bên nhà vợ, sợ mang tiếng ở rể, nên cô Tư mới kêu tía con Bé Hai về chớ bộ. Rồi giờ cổ trở ngược lại nói má con Bé Hai xúi chồng làm chuyện “trái đạo”? Trái cái con… con khỉ chớ trái! Con Bé Hai lờ mờ đoán được cái “trái đạo” là gì rồi, ngóng cổ coi thím Năm với cô Tư cự lộn.

Trong nhà, cô Tư “kình” với đứa em dâu này nhất. Nói nào ngay, cô Tư không thích chị em bạn dâu nào hết! Cổ cũng không ưa thím Sáu lắm đâu, nhưng tại thím Sáu khéo miệng quá, cổ không bắt bẻ được; còn hai bà chị dâu thì thím không dám làm hung, tại còn ngán cái uy của hai ông anh; nên cổ chỉ kiếm chuyện với đứa dâu kế, nói năng không biết lựa lời, và đứa dâu Út, đó giờ chưa từng nể nang ai. Nhưng từ hồi chú thím Út dọn ra riêng, làm ăn khấm khá, giàu nhứt nhà, nhứt xã, thì cô Tư không gây với thím Út nữa. Cổ không còn nhớ cổ đã từng nói thím Út là đứa mất dạy, hỗn hào, có cha sanh không có mẹ dạy; cổ cũng không còn nhớ cổ đã từng muốn tống cổ thím Út ra khỏi nhà hương hỏa, từng muốn quậy cho thím Út mất sở làm,… Bây giờ, cô Tư chỉ nhớ thím Út là đứa biết điều hiểu chuyện, mua nhiều đồ ngon thức lạ về cho, sắm quần sắm áo cho,… Bởi vậy, cô Tư mới tiếc là sao thím Út không ở kế bên, lúc cô đã dọn về ở hẳn chung với ông bà nội, sau khi cô “đại chiến” một trận với dượng Tư…

Nhưng bữa đó, thím Năm trề môi nói mấy câu, làm cô Tư phải nhớ ra chuyện cũ, lại ngay trước mặt thím Út, nên cô Tư đổ quạu. Không thèm giữ hình tượng “thục nữ” nữa, cô Tư gằn giọng:

– Ăn nói đàng hoàng nghen!

 

Thím Năm vẫn dài giọng:

 

– Tui lúc nào cũng ăn nói đàng hoàng, đâu có tráo trở lật mặt như ai kia!

 

Cô Tư đứng phắt dậy luôn:

 

– Cô nói ai tráo trở, lật mặt hả?

 

– Tui nói vậy đó, ai nhột thì nhúc nhích hà! – Thím Năm trề môi, ngó thím Út. – Tui không ưa ai, là tui không ưa ra mặt, là tui kiếm chuyện này nọ thiệt đó. Nhưng tui không chơi được cái kiểu, mới xéo xắt với người ta bữa trước, bữa sau đã ngọt nhạt kêu chị xưng em! Thấy mắc ói! Tui về! Ăn hổng vô!

 

Rồi thím Năm te te đi lên bàn nhậu, lôi chú Năm, về. Thím Út cũng cười cười, liếc cô Tư một cái sắc lẻm, rồi đi xuống bếp. Lúc đó, má con Bé Hai đang nêm nồi bò kho. Thím Sáu đứng kế bên dòm, tấm tắc:

 

– Trời ơi! Thơm quá hà! Chị Hai khéo tay quá! Em học hỏi hoài mà học không hết được cái hay của chị!

 

Thím Sáu nổi tiếng trong dòng họ nhờ cái miệng ngọt như đường cát mát như đường phèn, có thể khen bất cứ ai, bất cứ chuyện gì. Cho nên, thím Út từ thềm ba bước vô, nghe vậy lại cười cười. Má con Bé Hai cũng cười cười, đính chính:

 

– Không phải đâu, món này là cô Tư nấu, tui chỉ đứng canh lửa với bỏ đường muối vô thôi hà!

 

Cô Tư bước tới, đãi giọng cao vút:

 

– Chớ còn gì nữa! Mấy món này chị Hai chỉ không có biết nấu đâu! Tui làm hết đó! Chị Hai chỉ là Thiên Lôi, sai đâu đánh đó thôi!

 

Con Bé Hai nghe tới đó là nóng máu, chặt bụp cây dao xuống thớt, hầm hầm đứng dậy. Má con Bé Hai dòm mặt con, biết nó nổi nóng rồi, mới lắc nhẹ đầu, sai con nhỏ ra chợ mua bún. Con Bé Hai thấy má lắc đầu, ngó con mắt má đỏ hoe, mím miệng đá ghế một cái rồi xách xe đi mua bún. Ra tới cổng rào rồi mà con Bé Hai còn nghe giọng cô Tư lanh lảnh dạy đời phía sau lưng:

 

– Con gái con đứa phải dịu dàng đoan trang, đi đứng đùng đùng vậy coi chừng ế chồng nghen con!

 

Con Bé Hai lầm lầm đạp xe ra chợ, mua bịch bún về rồi lỉnh đi mất. Nó sợ, xớ rớ trong bếp một hồi, nó không nhịn được thì má nó còn bị người ta nói nặng nhẹ nữa. Cho nên, nó kiếm chuyện đi chỗ này đi chỗ kia, đợi tàn tiệc mới về, xúc một tô cơm, ra sau vườn ngồi ăn.

Ăn xong tô cơm, con Bé Hai vô sàn nước tính rửa tay thì thấy một bãi tang hoang nồi dơ chén bẩn bày tràn hết nửa sân. Một mình má nó ngồi cặm cụi rửa chén. Con Bé Hai dằn cái tô lên bộ ngựa nghe cái cốp rồi bước lên nhà trên, ngó thử. Chú thím Năm đã về từ sớm, vì ăn hổng vô; chú thím Ba ăn xong cũng về gấp, vì đường xa. Chú thím Sáu thì mới về cái độp, vì nhà có khách. Chú Út với tía con Bé Hai nhậu xỉn, nằm ngủ trong buồng. Ông bà nội thì nằm lúc lắc trên hai cái võng, coi cô Tư với thím Út mở máy, hát… ka-ra-ô-kê.

Con Bé Hai dòm trân trân cái cảnh đầm ấm vui vẻ ở nhà trên, ngoái cổ ra ngó cái sàn nước nắng chang chang, nhíu mày thắc mắc. Ủa, ở đây dòm ra thấy sàn nước mà?!? Sao không ai thấy chén dơ chất đầy như núi vậy? Sao không ai thấy có mình ên má nó đang phải đội nón lá dang nắng ngồi đó có một mình vậy? Hay là thấy, mà ngó lơ, coi như chuyện thường? Con Bé Hai chạy vô buồng, tính kêu tía. Mà tía ngủ khỉ rồi, kêu hoài cũng chỉ ậm ờ, không dậy. Con Bé Hai tức mình chạy xuống sàn nước, kêu giật ngược:

– Má! Vô coi phim đi. Giờ này đang chiếu phim rồi nè.Vô coi chút đi, rồi con phụ má rửa chớ gì mà gấp!

 

– Thôi, để má rửa cho xong! Chút nữa là tới giờ cúng cơm chiều rồi. Lạng quạng không xong là rửa tới tối, muỗi cắn chết! Con coi phim đi, lát hồi kể má nghe!

 

Con Bé Hai mím môi, chạy vô nhà sau, nhón chân mở ti-vi. Nhà có hai cái ti-vi lận. Một cái là hồi tía má con Bé Hai về, cắn răng bấm bụng mua, cho ông bà nội có cái mà coi tin tức thời sự, coi cải lương, phim chưởng,… Mới đầu, ông bà nội khoái cái ti-vi này lắm. Ông bà đang buồn vì không có cái gì coi, vì cái ti-vi cả trăm in-chờ mà thím Út mua hồi nẫm, đã bị khiêng đi ra khỏi nhà cũng hồi nẫm. Thằng Hớn, con chú Út, còn hiên ngang tuyên bố là cái ti-vi đó là của mẹ nó mua, thì phải khiêng về nhà nó. Bữa đó, nghe cô Tư kể, bà nội khóc gần cả lít nước mắt. Rồi cái bữa tía má con Bé Hai mua cái ti-vi về, nhỏ có chút chéo, có chừng ba, bốn chục in-chờ gì hà, mà bà nội cũng khóc. Có cái ti-vi, nhà cũng rộn ràng hơn.

Rồi ít bữa nữa, chú thím Út mua cái ti-vi màn hình “lết” gì đó, cũng cả trăm in-chờ, thành ra cái ti-vi nhỏ chút chéo kia không có chỗ để. Cho nên, cái ti-vi tốn gần nửa tháng lương của má con Bé Hai bị dời xuống nhà bếp. Từ bữa đó, thím Út thành đứa con dâu có hiếu.

Chuyện này thì con Bé Hai biết lâu rồi. Nhưng tới đám giỗ đó, con Bé Hai mới đoán được ít nhiều, rằng thì là mà, có khi, chuyện tía má con Bé Hai về ở nhà hương hỏa trở thành chuyện “trái đạo”, cũng là từ bữa đó rồi. Nhưng vậy cũng có cái tốt, ít ra thì, cái ti-vi nhỏ chút chéo này cũng phục vụ được cho niềm vui riêng của má con Bé Hai, không có bị “cạnh tranh” nữa! Bởi vậy, cứ tầm mười một giờ là con Bé Hai nhắc má nó mở ti-vi đặng coi thời sự, rồi coi phim luôn. Nhưng mà bữa đó, gần mười hai giờ rồi mà má con Bé Hai còn chúi nhủi ngoài sàn nước…

Con Bé Hai mở ti-vi lên, vặn vô-lum cho lớn, rồi chạy u ra sàn nước, ngồi phụ má rửa chén. Hai má con nhà nó có cái kiểu coi ti-vi ngộ đời vậy đó. Coi ti-vi bằng lỗ tai! Chớ công chuyện đăng đăng đê đê, ở không đâu mà ngồi chầu chực trước ti-vi hoài? Cho nên, má con Bé Hai mở ti-vi để đó, vừa làm công chuyện vừa lóng tai nghe, lâu lâu đi ngang liếc ti-vi một cái, vậy mà hiểu hết phim nói gì, chuyện nói gì, cải lương hát gì…

Bữa nay cũng vậy. Nhưng tại vì nhà trên đang ka-ra-ô-kê rần rần, nên con Bé Hai vặn vô-lum lớn gấp ba bình thường mới nghe được lớ mớ. Vậy mà đang tới khúc ông nọ cãi lộn với bà kia thì tiếng tắt queo. Ủa, cúp điện hả? Con Bé Hai lật đật chạy vô thì thấy bà nội đứng hầm hầm rút điện cái ti-vi. Con Bé Hai cũng ngóc đầu lên ngó bà nội lom lom. Hổng lẽ bà nội tính phụ má nó rửa chén ha?!?

Con Bé Hai nghĩ ra được chuyện đó, nhướng nhướng mày nuốt ực một cái, nén lại mấy câu xém trào ra khỏi miệng. Kệ, nếu bà nội xuống đây để phụ má nó rửa chén, thì đừng nói bà tắt ti-vi, nếu bà uýnh nó, nó cũng chịu nữa. Nhưng liền đó, bà nội con Bé Hai chứng minh liền là bà không phải muốn phụ giúp gì! Bà lụm cụm bước ra ngạch cửa, cất giọng đãi đớt:

 

– Mấy người dư tiền dư của quá hé? Mở ti-vi rồi để không vậy hả? Có biết tốn tiền điện không hả? Đúng là… thứ gì mà!…

 

Bữa đó con Bé Hai mới biết cái kiểu nói chuyện đãi đớt nghe chói lỗ tai hết biết của cô Tư là được di truyền từ bà nội! Con Bé Hai ấm ức liếc trắng mắt. Ủa, sợ tốn tiền điện sao còn mở ka-ra-ô-kê? Ủa, tiền điện là má con Bé Hai lấy tiền lương ra trả mà? Từ hồi dọn về đây ở, má con Bé Hai đã bàn với tía nó là sẽ trả tiền điện, tiền nước. Vì nhà con Bé Hai có cái máy tính, để dành cho má nó soạn giáo án, nên chắc là xài điện hao hơn; với lại nhà con Bé Hai đông người hơn, nên cũng xài nước hao hơn. Bữa tía con Bé Hai nói chuyện trả tiền điện nước với ông bà nội, con Bé Hai đứng sát bên chớ đâu. Nó còn nhớ là ông nội đã dòm bà nội, rồi bà gật đầu, ông mới gật đầu theo nè. Mới đó mà bà nội quên rồi ha?

Con Bé Hai kềm cái chén trong tay cứng ngắc, nó sợ xà bông trơn quá, nó sẽ vuột tay làm văng cái chén đập vô chỗ bà nội. Mặt con Bé Hai nóng phừng phừng. Ờ, chắc tại trời nắng quá! Bà nội con Bé Hai vẫn đứng đó, mắng nhiếc bằng cái giọng lanh lảnh vốn đã được khỏe hơn nhiều nhờ vào mấy thứ bồi bổ mà con dâu út hiếu thảo đem về.

Con Bé Hai thảy cái chén trơn nhớt vô thau nước. Mặt nó vẫn nóng. Nhưng lần này con Bé Hai biết rõ, cái chén trơn không phải tại xà bông, mà mặt nó nóng, cũng không phải tại trời nắng. Thấy con Bé Hai giũ tay vẩy nước nhớm giò tính đứng lên, má con Bé Hai hết hồn, chụp con nhỏ lại. Bà nhăn mày, nghiêm giọng:

 

– Bình tĩnh đi con! Nhịn một chút! Không được hỗn!

 

Không biết là nhờ cái chụp tay kịp thời hay nhờ cặp chân mày nhăn đùm lại, hoặc nhờ cái giọng nghiêm nghiêm buồn buồn… mà má con Bé Hai ghìm được con nhỏ xuống.

Ở cái xóm này, ai cũng biết con Bé Hai là đứa hay cười nhưng chưa bao giờ hiền, nhất là với những ai động tới gia đình nó. Người lớn trong nhà nó, đừng ai dại dột nói động vô mà để lọt tai nó, nó dám liều cho biết mặt đó chớ không giỡn đâu. Hồi mới học lớp Chồi ở trường Mẫu giáo, tức là mới gần bốn tuổi thôi, nó đã túm tóc, cắn con nhỏ chung lớp để lại dấu răng cả tháng trời, vì con nhỏ đó dám nói xấu má nó. Tới năm học lớp bốn, nó đã dám dí rượt thằng con của ông thầy trong trường, vì thằng đó dám chọc thằng Bé Ba, em nó. Rồi năm nó học lớp sáu, một thằng du côn cũng có tiếng trong xóm, dám réo tên ông nội của nó ra chửi, nó đã dám cầm đá chặn đường thằng đó, không cho thằng nọ vô nhà nếu chưa xin lỗi ông nội nó. Tóm lại là, nhắc tới con Bé Hai, người ta sẽ nhớ tới nụ cười của nó đầu tiên, vì nó nhạy miệng cười; nhưng thứ làm người ta nhớ lâu nhất, mà cũng ớn nhất, là cái tật bênh người nhà của nó.

Tía má con Bé Hai cũng dở khóc dở cười, khen thì không đặng, mắng thì không xong. Chớ nó bảo vệ người nhà nó mà, rầy sao nỡ; nhưng để nó “dằn mặt” người ta hoài, coi cũng kỳ. Bởi vậy, cả nhà con Bé Hai nhắc nhau, để mắt dòm chừng, nhắm mà nó sắp nổi nóng thì kềm lại. Nhờ vậy, má con Bé Hai đã kịp thời cản được một màn “bất hiếu” của con nhỏ với bà nội.

Ủa, sao nói con Bé Hai bênh người nhà lắm mà sao nó dám hỗn với bà nội nó hả? Tánh con nhỏ này kỳ lắm, nó chỉ thương người mà nó nể thôi; nhỏ tuổi hơn mà đáng nể thì nó cũng nể, còn lớn tuổi hơn mà không đủ cho nó phục thì còn lâu nó mới nể. Mà hễ nó nể nó thương rồi hả, dòm lại khúc trên đi là biết. Còn như nó đã không nể, thì nó không thương. Mà những người nó đã không thương rồi lại còn động tới người nhà của nó, thì cũng dòm lại khúc trên thì biết. Cho nên, con Bé Hai có thể bênh ông bà nội nó mà “liều” với thằng du côn trong xóm thiệt, nhưng ông bà nội mà đụng vô tía má nó, thì nó cũng không nể.

Má con bé Hai rầu muốn thúi ruột khi dòm cái mặt con gái càng lúc càng chằm vằm, mà giọng của má chồng thì cứ lảnh lót không ngừng. Kiểu này, lụi hụi con Bé Hai nó “ăn thua đủ” cho coi! Trong lúc má con Bé Hai nơm nớp lo, thì thời may, thím Sáu trở ngược vô. Khách tới thăm nhà thím đã về rồi, nên thím chạy xe trở lại, đặng không trái đạo dâu hiền. Và cái miệng ngọt lừ khéo hết biết của thím Sáu đã dỗ ngọt được bà nội con Bé Hai lên nhà trên để tiếp tục ka-ra-ô-kê. Thím Sáu còn bãi buôi mời má con Bé Hai “lên nhà trên cho vui”. Nhưng má con bé Hai lắc đầu lia lịa. Bà phải lo đống chén dĩa, rồi còn lo dòm chừng con Bé Hai nữa,…

Từ đó, con Bé Hai không ưa khói hương gì nữa. Thậm chí, bây giờ nó còn ghét khói, nhất là khói thuốc lá. Cái khói này, hôi, mà còn hại nữa. Vậy mà tía con Bé hai cứ phun phì phà phì phèo suốt, má con nó nói hoài cũng không bỏ được. Mà, con Bé Hai nói tía nó mấy lần, rồi thôi. Không phải chỉ vì tánh của tía nó bướng, nói ông cũng không nghe; mà còn vì con Bé Hai biết, tía đang buồn. Lý do tại sao tía buồn thì con Bé Hai không biết, cũng không dám hỏi. Nhưng nhìn làn khói thuốc mỏng mỏng bay lên ngang qua tầm mắt, con Bé Hai biết là tía đang buồn. Màn khói đó xuất hiện ngày một nhiều và thường xuyên hơn, cho tới cái lúc con Bé Hai nhất định đòi dọn ra ngoài ở. Kệ, ra ngoài ở nhà trọ cũng được, nực nội, chật chội cũng được.

Con Bé Hai nằng nặc đòi dọn đi làm má nó ngạc nhiên. Tánh tình của con, bà rành hơn ai hết. Nó mà đã ghét ai, thì nó làm cho lợi gan lợi phổi; ai làm nó không vui, nó cũng phải khiến người đó khó chịu cho xứng. Bây giờ nó biết người ta không thích nhìn thấy nó, thì nó càng phải ở lại cho bằng được, đặng chướng tai gai mắt người ta chơi cho bõ ghét. Không chỉ vậy, nó còn phải chửi chó mắng mèo, đá thúng đụng nia, trả đũa trả muỗng cho vừa lòng hả dạ. Hổm rày, má con Bé Hai rầu muốn bạc tóc, đang lo nghĩ cách nào để tách con Bé Hai ra khỏi cái vòng tròn dư luận thị phi dễ gây đụng chạm này. Vậy mà, đùng một cái, con Bé Hai đòi dọn ra ở riêng.

Con Bé Hai còn nhỏ thiệt đó, nhưng nó ít khi nào quyết định chuyện trọng đại nào mà không có lý do rõ ràng và chánh đáng hết. Mà chuyện dọn ra ở riêng này là chuyện vô cùng trọng đại chớ bộ, liên quan tới cả nhà nó, tức là liên quan tới toàn bộ những người mà nó thương nhất, quý nhất và sẵn sàng bảo vệ nhất còn gì? Cho nên, má con Bé Hai hỏi tới cùng.

Con Bé Hai bùng thụng suy nghĩ một hồi. Gia đình nó ở nhà này mấy năm rồi, bị bao nhiêu điều tiếng mà còn không rời đi, má còn khuyên tía ở lại để báo hiếu, mặc kệ lời đàm tiếu. Nhưng nếu người ta không cần lòng hiếu thảo đó thì sao? Thậm chí, họ còn nghi ngờ tấm lòng của má nó, thì sao? Con Bé Hai nghĩ xong thì ấm ức kể hết đầu đuôi gốc ngọn lý do nó muốn chuyển đi.

Chuyện là, sáng hôm bữa, con Bé Hai rảo quanh vườn, hái rau càng cua để trưa bóp giấm ăn. Đi tới thềm ba, nó nhìn thấy ông bà nội ngồi nói chuyện. Con Bé Hai tính lủi đi rồi, nhưng mà nó nghe bà nội nhắc tới tía má nó. Bà nội nói vầy nè:

 

– Tui thấy vợ chồng thằng Hai có ý chiếm đất đó ông! Ông coi, nó về là cuốc đất trồng rau liền. Y như muốn đánh dấu chủ quyền cái đất này là của nó vậy!

 

Ông nội lắc đầu:

 

– Nó trồng để nhà có rau sạch mà ăn! Bà nghĩ chi nhiều vậy? Thằng Hai nó không có ý đó đâu!

 

Rồi bà nội nói vầy nè:

 

– Thằng Hai thì không biết, nhưng con vợ nó thì chưa chắc!

 

Vậy đó, rồi ông nội không nói gì nữa. Vậy đó, rồi qua bữa sau, ông nội đi mần di chúc. Vậy đó, rồi bà nội nói là di chúc làm sẵn vậy để sau này khỏi ai tranh giành.

Ủa, ai tranh giành gì đâu? Con Bé Hai ấm ách mấy bữa, cuối cùng chịu hết nổi, nó mới đòi dọn đi. Thôi, dọn đi cho yên ổn! “Mắt không thấy, tai không nghe, lòng sẽ không đau!” Con Bé Hai lôi cái câu trong phim bộ mà nó coi trên truyền hình, đạo mạo nói như vậy. Má con Bé Hai thở dài. Tía con Bé Hai hầm hầm ra vườn, cuốc bỏ hết mớ rau đang xanh mơn mởn.

Nhưng nói gì nói, con Bé Hai cũng là phận con cháu, lời nó kể có thể đúng, nhưng chưa đủ để kéo chân tía má nó ra khỏi chữ hiếu nặng trịch kia. Muốn tía má con Bé Hai rời khỏi đó, phải do chính ông bà nội đẩy ra. Mà, ông bà đẩy ra thiệt.

Bắt đầu là chuyện chia tiền chợ. Lấy cớ má con Bé Hai nấu ăn không hạp khẩu vị, ông bà nội yêu cầu nhà con Bé Hai nấu riêng, ăn riêng. Ủa, không hạp khẩu vị mà từ hồi nhà con Bé Hai về đây ở, toàn là má con Bé Hai nấu cơm không hà, ông bà ăn không bỏ bữa nào, bới không ít miếng cơm nào; giờ mới nói là không hạp khẩu vị? Con Bé Hai trề môi mừng thầm. Ăn riêng thì má nó còn đỡ cực nữa à!

Vậy là, mỗi ngày bà nội con Bé Hai xách giỏ đi chợ, mua một mớ tủn mủn vừa đủ hai ông bà ăn. Không biết lúc ra chợ, bà có “vui miệng” kể lể gì với mấy bà bán cá, bán rau không, mà con Bé Hai với má nó ra chợ lần nào cũng bị người ta nói mát nói mẻ, dạy đạo làm dâu. Con Bé Hai xém uýnh lộn với mấy bả mấy chập rồi. Nên từ đó về sau, má con Bé Hai không cho nó đi chợ chung nữa, cũng ít sai biểu nó ra chợ mua cái gì. Con Bé Hai cũng không thèm đi chợ nữa. Thấy ghét!

Tiếp đó là chuyện cái xe. Hồi đó, tía con Bé Hai có cái xe cà tàng để chở tụi nó đi học. Cái xe đó, từ hồi nhà con Bé Hai về đây ở, thì càng lúc càng rệu rã. Rồi nó hư luôn. Tía con Bé Hai lần khần, tiếc tiền chưa muốn mua xe. Cho tới khi thằng Bé Ba thi đậu trường chuyên, phải học tuốt trên thị xã, cần đưa rước mỗi ngày. Ông nội mới kêu tía con Bé Hai lấy chiếc xe máy của ông mà chạy. Tại vì xe này mua rồi trùm mền để đó. Tía con Bé Hai cũng thiệt tình, lấy xe ra xài. Rồi tới bữa sau khi công bố di chúc, ông nội con Bé Hai đòi lại chiếc xe, không cho mượn chạy nữa. Mà mua xe đâu phải nói mua là mua được đâu. Phải gom tiền chớ. Rồi phải coi ngày coi giờ cho hạp tuổi mới mua được chớ.

Bởi vậy, tía con Bé Hai nói ông bà thư thư cho vài bữa, mà ông bà nội vẫn quyết không cho. Chuyện đi học của thằng cháu nội, hai ông bà coi như đồ bỏ. Con Bé Hai tức quá, mới biểu tía trả xe. Nó chở thằng em đi học. Mấy bữa còng lưng chở thằng nhỏ vượt mấy chục cây số, con Bé Hai nhiều khi phải nhờ chửi thầm mới vượt được nắng, gió, vượt được bụi, mưa, vượt nhiều thứ…

Ít bữa sau, tía con Bé Hai mua xe. Vừa mua buổi sáng cái độp, là buổi trưa hôm đó chiếc xe giúp cả nhà con Bé Hai dọn được ra khỏi nhà hương hỏa liền.

Sáng bữa đó, tía con Bé Hai đi ra thị xã mua xe, nên con Bé Hai vẫn phải phùng mang trợn mắt chở thằng em đi học. Rồi hai tía con nấn ná chờ tới giờ tan trường đặng rước thằng nhỏ về luôn. Trên đường về, tía con Bé Hai chở thằng Bé Ba chạy rề rề, chờ con nhỏ chạy theo. Vừa tới cổng rào, thì cả nhà ba người lại thấy cái cảnh bà nội xô má con Bé Hai té cái đụi ngay giữa sân. Con Bé Hai phóng tới, nhưng thằng em chụp con chị lại kịp. Tía con Bé Hai la làng:

 

– Trời ơi! Má! Má làm cái gì vậy má?

 

Bà nội con Bé Hai không thèm trả lời mà ngoe nguẩy vô nhà. Lát sau, bà kéo ông nội ra, lệnh cho cả nhà con Bé Hai phải dọn đi liền. Con Bé Hai dựng xe lên, moi điện thoại ra, gọi liền cho chỗ trọ ở cái hẻm kế bên trường thằng em đang học, báo là trưa nay nó dọn vô ở liền. Nói nào ngay, mấy bữa đưa thằng em đi học, con Bé Hai đã lang thang khắp mấy hẻm xung quanh đó, kiếm chỗ trọ. Thời buổi này mua nhà thì khó chớ chỗ trọ thì minh thiên. Con Bé Hai nhắm được chỗ trọ này hôm qua rồi, hỏi giá xong rồi, chỉ còn chờ hỏi ý kiến tía má nữa thôi. Nhưng giờ thì tía má nó không có cơ hội để quyết định đi hay ở lại cái nhà hương hỏa nữa. Vì bây giờ, có muốn ở cũng không được nữa rồi.

Vậy là tía má con Bé Hai lẳng lặng thu dọn đồ đạc, chở mấy chuyến, chuyển qua chỗ ở mới. Chuyến cuối cùng, tía con Bé Hai phải một tay chạy xe, một tay vịn bọc đồ ở yên sau. Vì sợi dây ràng sau tự nhiên bị đứt, mà tía con Bé Hai vô xin sợi dây ni-lông cột cái bọc vô xe, ông bà nội cũng không cho.

Từ bữa đó, nhà con Bé Hai ở trọ trong căn phòng hẹp té. Chật, nhưng mà vui. Ở nhà trọ, không có thờ cúng chi, không thắp hương, thành ra cũng không có khói hương. Nhà trọ, không có chỗ nấu bếp củi, nên không có luôn khói bếp. Nhà con Bé Hai từ đó chỉ có khói thuốc lãng đãng mà thôi. Mà ngộ hén, khói cứ bay lên trời.

Con Bé Hai ở nhà trọ ngó khói thuốc bay khoảng vài tháng thì hay tin ông bà nội đều bị bệnh. Chú thím Út đã đóng tiền, đưa ông bà nội vào phòng VIP của bệnh viện, nhưng vấn đề là không có ai là người thân túc trực bên cạnh ông bà. Mấy chú, mấy thím đều có công ăn chuyện làm, nghỉ một buổi là mất tiền một mớ. Còn cô Tư đã nghỉ hưu, nhưng cô bận đi nuôi con dâu của cô mới sanh con đầu lòng nên cũng không thể chăm cho ông bà. Cuối cùng, chuyện này lại tới tay má con Bé Hai.

Nhà con Bé Hai thiệt ra cũng không có nhiều thời gian rảnh. Tía má nó đều phải đi dạy. Nhưng một ngày ba bữa, tía má con Bé Hai đều chia ra mang đồ ăn vô cho ông bà nội. Hai chị em con Bé Hai thì cũng chia ra, ở đêm để canh chừng cho ông bà. Tới chừng bà nội khỏe lại rồi, con Bé Hai nghe bà nội kêu má nó về ở chung trở lại mà hết hồn. Về nhà trọ, con Bé Hai níu áo má, hỏi nhỏ:

 

– Má, má có tính về đó ở nữa không?

 

Má con Bé Hai lắc nhẹ đầu:

 

– Không, chuyện gì ra chuyện đó. Có những chuyện, chỉ một lần là đã đủ rồi, con à.

 

Giọng má nhẹ hều mà chắc lụi, con Bé Hai không hiểu lắm. Nhưng chỉ cần biết không về đó ở nữa là nó mừng rồi. Ngoài trời ui ui chuyển mưa, con Bé Hai ngồi trước cửa ngóng mưa, nghe trong radio cô ca sĩ hò ngọt lịm:

“Ai làm cho khói lên trời

Cho mưa xuống đất, cho người biệt ly…”

Ờ, ai làm vậy ta?

 

HẾT