
Tôi viết truyện ngắn “Máu trên bàn phím” sau những ám ảnh rợn người cùng sự giằng xé nội tâm ghê gớm. Những trải nghiệm ấy lần lượt xuất hiện trong một chuyến công tác, cùng nhiều đêm trằn trọc, thao thức. Để rồi khi hoàn thành, tác phẩm lại dẫn tôi đến một ngôi đền văn chương giữa mùa thu Hà Nội.
Lần ấy, bộ đội biên phòng tỉnh Tây Ninh phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Công an tiếp nhận hơn hai trăm thanh niên từ bên kia biên giới về nước qua Cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài. Đây là những công dân Việt Nam làm việc trong các casino – sòng bài dọc biên giới Cam-pu-chia – Thái Lan. Họ đã vào tầm ngắm của các cơ quan an ninh trong nước và rồi bị lực lượng chức năng của Cam-pu-chia càn quét, trao trả qua đường ngoại giao.
Giữa trưa nắng, tại khu vực cột mốc quốc gia số 171, khi những chiếc xe màu nõn chuối – loại xe đặc chủng của Cảnh sát Hoàng gia Cam-pu-chia thả từng đoàn người xuống đường bê tông đang bốc hơi nóng ngùn ngụt, ánh mắt chúng tôi căng lên, bức bối. Nhưng đến khi nhìn những thanh niên mặt mũi xanh lét vì cớm nắng, thân hình bủng beo vì thiếu ăn, thiếu ngủ tự nhiên trong tôi lại dâng lên niềm thương cảm, xót xa.
Nhiều người trong số này là tội phạm, là những kẻ lừa đảo quốc tế. Đài báo cả nước đã đưa tin. Họ đã gây ra bao thảm cảnh cho những người nhẹ dạ cả tin, cướp đi những đồng tiền còm cõi của rất nhiều người, thậm chí của cả những bệnh nhân ung thư mà mỗi đồng tiền thuốc men là một ngày được sống. Lực lượng chức năng đã có sẵn hồ sơ về họ, chỉ cần khớp nhân chứng, vật chứng để hoàn chỉnh điều tra. Nhưng cũng không ít người trong số ấy là nạn nhân bị lừa bán qua bên kia biên giới và rồi để vẹn toàn mạng sống, họ đã trở thành đối tượng lừa đảo cao cấp.
Ngọc, nhân vật chính trong câu chuyện tôi muốn kể với quý độc giả là một người như thế. Câu chuyện được viết theo cấu trúc: bảy phần thực, ba phần hư cấu.
Khi tác phẩm hoàn thành, tôi để nguyên nó trong một góc thật sâu như cách che giấu một vết thương cần thời gian lành miệng. Và thú thật, bản thân tôi cũng không dám đụng chạm đến nó.
Một năm sau, khi cuộc thi truyện ngắn Đường Văn 2024 – 2026 sắp kết thúc, tôi mới đủ bình tĩnh lấy bản thảo ra đọc lại. Thong thả nhìn lại con đường mà nhân vật đã đi, càng lúc tôi càng thấy thương người trong truyện. Biết bao nhiêu nghịch duyên đã đẩy đưa cuộc đời em vào tận cùng tuyệt vọng. Rồi tôi quyết định gửi truyện ngắn của mình dự thi, những mong thông qua sự lan tỏa mạnh mẽ từ ban tổ chức, câu chuyện của Ngọc sẽ được nhiều người biết đến. Và biết đâu, một vài bậc phụ huynh nào đó sẽ chạnh lòng trắc ẩn trong việc dạy bảo con mình.
Truyện được công bố trên bản điện tử nhưng chờ mãi không thấy ra bản giấy. Tôi thầm đoán về số phận xếp giải, chắc lại hẩm hiu như chính cuộc đời nhân vật. Nhưng bỗng một ngày, nhà văn Hồ Kiên Giang nhắn tin bảo truyện của tôi nằm trong số 39 tác phẩm được Đường Văn chọn vào chung khảo. Niềm vui và hi vọng bỗng le lói nhóm lên.
Tháng Tám vừa rồi, khi lần đầu tiên chạm mặt ngoài đời vị văn nhân idol và cũng là giám khảo của cuộc thi – nhà văn Nguyễn Đình Tú – tôi không dám lại gần. Mấy ngày trôi qua, anh chị em ở trại sáng tác Vũng Tàu tha hồ giao lưu, trò chuyện cùng tác giả của “Hồ sơ một tử tù”, “Hương Ga”… Còn riêng tôi vẫn âm thầm giữ khoảng cách, dù anh có tỏ ra thân thiện bao nhiêu. “Qua điền lí hạ”, biết đâu!
Ngày nhận thông báo và thư mời từ Đường Văn, tôi khấp khởi mừng thầm. Giải to giải bé không quan trọng, cứ có giải là vui, là có cớ để được gặp mặt các tao nhân mặc khách. Thế là tôi lên đường ra Hà Nội, trước hẳn… hai ngày.
Quả đúng như những gì ao ước. Lần đầu tiên đặt chân đến lâu đài văn chương tư nhân chốn kinh kì, tôi thực sự ấn tượng. Nằm giữa bán đảo Linh Đàm, trên tầng 41 của tòa nhà HH2B, Thi Nhân Các sở hữu tầm nhìn triệu đô khi bao quát toàn bộ hồ Linh Đàm thơ mộng, trong xanh. Thấp thoáng trong bóng mây là cảnh đẹp phía Nam thành phố với những tòa nhà chọc trời, những nhịp cầu vạm vỡ nâng những con đường vươn dài trong ánh nắng và những dòng sông uốn khúc trong xanh… Chắc hẳn đêm đêm, nơi đây sẽ tràn ngập những vì sao lấp lánh và vô vàn những nụ hôn say đắm, ngọt ngào. Tôi đoán thế, bởi bên tai mình còn văng vẳng những lời hẹn thề chung thủy của đôi lứa yêu nhau…
Trong không gian chưa đầy một trăm mét vuông, thư phòng Thi Nhân Các bố trí những kệ sách, bình hoa tao nhã, mang phong cách hiện đại nhưng cũng phảng phất nét xưa. Căn phòng tuy khiêm nhường về diện tích, nhưng mỗi bức tranh, quyển sách, mỗi khoảng sáng từ ô cửa kính hay ánh đèn trần như đang lưu giữ nguồn năng lượng của ngàn năm văn hiến. Đằng sau những gì đang hiện hữu ấy lại lấp ló, ẩn hiện, sẵn sàng mở ra một cánh cửa dẫn vào tòa lâu đài văn chương cho những kẻ mộng mơ.
Là một người mới mon men bước vào ngưỡng cửa văn chương, tôi thấy choáng ngợp khi gặp rất nhiều văn nhân mà tôi từng yêu mến, như nhà văn Võ Thị Xuân Hà, nhà văn Phan Mai Hương, nhà thơ Bằng Việt, nhà văn Sương Nguyệt Minh, nhà văn Hà Phạm Phú, nhà văn Phạm Ngọc Tiến, nhà thơ Ngô Đức Hành, nhà phê bình Nguyễn Bích Thu, cả nhiếp ảnh gia gạo cội Nguyễn Đình Toán… Tôi cũng rất vui khi được gặp ngoài đời những bạn văn cùng trang lứa như Nguyễn Văn Học, Bùi Tuấn Minh, Tạ Thị Thanh Hải…
Tôi cũng có ấn tượng rất tốt đẹp với nhà thơ, dịch giả Linh Chi – ông chủ của Thi Nhân Các khi anh mở đầu bài phát biểu bằng chuyện kể về một cái cây ngàn năm trên đỉnh núi Tây Tạng. Chuyện xoay quanh câu thành ngữ “Hữu xạ tự nhiên hương”. Rồi anh lồng thông điệp: “Một mai, khi mọi vật chất mất đi, cơ thể của chúng ta cũng sẽ trở về với cát bụi, có lẽ chỉ có tình yêu và đức tin của người viết, của nhà văn thể hiện trên những con chữ là còn tồn tại. Cái cây văn hóa của hậu thế sẽ bám rễ và sinh sôi trên mảnh đất đã được các nhà văn tiền bối cần cù vun xới bằng tài năng, tình yêu và tinh thần nhân văn lãng mạn của họ”. Nhìn thái độ khiêm nhường cung kính của anh dành cho văn giới, tôi tin rằng Đường Văn – sân chơi văn chương sang trọng và đĩnh đạc này còn đi xa.
Bí mật về giải thưởng được giữ đến phút chót. Nhưng lạ thay, tôi chẳng mấy hồi hộp đợi chờ giây phút được gọi tên. Không phải quá tự tin, càng chẳng phải tự ti. Truyện của mình, mình biết, chấm là việc của giám khảo. Đích đến của chuyến đi này với tôi là học hỏi, là được gặp gỡ những bậc anh tài, không nằm ở những thứ hạng cao thấp.
Suy nghĩ như vậy nên khi công bố kết quả, được đồng hạng Tư với hai người bạn viết thân quen trên facebook tôi chẳng chút bất ngờ. Có bất ngờ chăng là trong khi thong thả quan sát cách hành xử của các bậc đàn anh trong văn giới, tôi học được nhiều điều thú vị. Các nhà văn Hà Phạm Phú, Sương Nguyệt Minh, phó giáo sư Ngô Văn Giá đều rất thân mật, ân cần hỏi thăm, bắt tay từng người. Nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Đình Toán nắn nót từng khoảnh khắc như cách đây bảy năm tôi từng có dịp đi cùng ông trong chuyến về Kinh Bắc. Còn nhà văn Trần Khánh Toàn thì nhã nhặn chủ động kết bạn zalo với ai có trong khung hình để gửi ảnh…
Cuộc vui tưng bừng bằng chum rượu cần gia truyền của nhà văn Phan Mai Hương mang từ Hòa Bình xuống, bằng những nậm rượu Mao Đài thượng hạng mà nhà thơ Linh Chi mang về từ những chuyến công tác nước ngoài. Bạn hiền, rượu ngon chẳng mấy lúc đã chếnh choáng men say. Bỗng tôi giật mình tỉnh mộng khi nghe nhà văn Hồ Kiên Giang đổ vài câu vọng cổ…
Ngồi viết lại những dòng này bên dòng Vàm Cỏ Tây, tôi thầm nghĩ: Giải thưởng hay danh vọng, suy cho cùng, là những thứ người cầm bút phải cố mà quên đi để giữ cho trang văn mình thuần khiết. Nhưng không gian thơ mộng của Thi Nhân Các, những chén rượu thơm nồng và những cái bắt tay ấm áp của thầy nghề, bạn nghề thì phải cố mà nhớ, cố mà khắc ghi vào tâm khảm.
Để sống an vui và viết tốt hơn mỗi ngày…


Bài viết liên quan