PGS.TS Nguyễn Bích Thu: Truyện ngắn Đường Văn – Gieo hạt mùa mới

Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Bích Thu

Cuộc thi truyện ngắn hay Đường Văn do Chuyên đề Văn học & Nghệ thuật Đường Văn tổ chức và phát động đã sang mùa thứ 2 đầy hứa hẹn, đã vui mừng chào đón những trái chín mùa thu đa sắc màu của thể loại văn xuôi “nhỏ mà có võ” này.

Trong vòng hai năm, khởi từ tháng 10 năm 2024 đến 30 tháng 6 năm 2026, Ban tổ chức đã nhận được 545 truyện ngắn của 513 tác giả ở khắp các vùng không gian, địa lý trong nước và nước ngoài. Số lượng truyện gửi về địa chỉ Đường Văn đã gần gấp đôi so với đợt đầu cho thấy niềm tin của người viết với chuyên san Đường Văn khiêm nhường về tuổi đời mà tự tin trên con đường đã chọn, đang ngày càng hòa nhập với dòng chảy của văn chương đương đại. Trên tinh thần ấy, ban tổ chức Đường Văn đã dồn tâm sức để từ 545 truyện ngắn gửi dự thi chọn ra 39 truyện vào chung khảo, rồi cũng từ đó bật ra những tác phẩm xứng đáng đứng trên thang bậc vinh danh. Đúng như ai đó đã nói đại ý, giữa lúc “thiên hạ nháo nhào chạy đua” thì Đường Văn vẫn bình tĩnh, tự tại, âm thầm mà đồng lòng, nhất trí tìm trong hàng trăm để chọn về hàng chục tác phẩm trên máy tính, điện thoại, trên bản mềm, mới thấy công phu, vượt khó đến chừng nào. Có thể nới trong đời sống văn học hiện nay ở địa hạt văn xuôi, bên cạnh tiểu thuyết, truyện ngắn luôn được nhiểu người viết lựa chọn, vì nếu tiểu thuyết là một “hình thức tự sự cỡ lớn”, phải tốn nhiều thời gian, giấy mực và bút lực của người viết thì truyện ngắn là “hình thức tự sự cõ nhỏ” có thể trong một khoảnh khắc, một tình huống, một sự cố hay một “tin vặt” nào đó, nó có khả năng thu nhận, xử lý những vấn đề của đời sống và con người một cách nhanh nhậy, mẫn cảm và thời sự nhất “trong một nghĩa kết hợp đầy thú vị giữa thông tin với sự hư cấu” (Danien Grojnowski. Đọc truyện ngắn.Nxb HNV, tr 7, Trần Hinh và Phùng Kiên dịch). Như vậy việc Đường Văn tổ chức cuộc thi truyện ngắn hay là một sự kiện văn học mang tính thời sự, kích thích cảm hứng sáng tạo của các cây bút, phù hợp với bối cảnh văn học đang vận động và biến đổi không ngừng trong cơ chế của thị trường văn hóa.

Nói đến truyện ngắn hay trình hiên trên Đường văn hôm nay không thể không nhắc đên các cây bút trên khắp các địa bàn đã dồn tụ về đây với những đứa con tinh thần của mình. Họ sống và viết với niềm đam mê thánh thiện cùng vượt lên những thách thức về vùng miền, về vị trí xuất phát, về tâm thức sáng tạo, cách lựa chọn vấn đề , đề tài mà bản thân yêu thích hay cộng đồng quan tâm và chia sẻ. Những cái tên mới nghe lần đầu hay đã từng chạm mặt trên các trang báo, tạp chí văn học nghệ thuật cả nước thoạt kỳ thủy có thể lạ lẫm nhưng đọc mãi thành thân quen. Dù ở đâu, lần đầu cầm bút hay đã là nhà văn, người sáng tác lâu nay nhưng cứ vào tầm đón đợi cuả Đường Văn là thành người một nhà: Nguyễn Hạnh Phước An, Nguyễn Hải Bằng, Vũ Trọng Bình, Nguyễn Hương Duyên, Hồ Kiên Giang, Vân Hạ, Tạ Thị Thanh Hải, Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Thu Hằng, Trần Thu Hằng, Nguyễn Thị Minh Hiếu, Nguyễn Thị Minh Hoa, Nguyễn Hợi, Văn Minh Huy, Kiều Bích Hương, Lương Đình Khoa, Nguyễn Nhật Khoa, Trương Thị Khoa, Đặng Thị Phương Lân, Nông Quốc Lập, Dương Giao Linh, Bùi Tuấn Minh, Đoàn Thành Nam, Nguyễn Phú Hoàng Nam, Vĩnh Nguyên, Vĩ Nguyên, Nguyên Nguyên, Ngô Nguyễn, Mai Thị Như Ý, Kiều Xuân Quỳnh,  Nguyễn Xuân Tình, Hoàng Anh Tuấn, Phương Tử, Phạm Nhất Thiện, , Ngọc Thanh Trà, Mai Thu Vân, Tạ Tư Vũ, Nguyễn Thị Ngọc Vy, Hồ Thị Linh Xuân…  Cái điều gây ấn tượng với tôi ở các tác giả kể trên là đã xóa mở ranh giới truyền thống và cách tân, viết là viết. Viết cho cá nhân và cho bạn đọc. Viết để đối thoại và tương tác sau những trải nghiệm, mắt thấy tai nghe theo cách của mình, hiện hữu trong cái nhìn của mình, thể hiện rõ cá tính và bản lĩnh cá nhân trong văn phong và bút lực.  Có lẽ được viết trong không gian đời sống và không gian văn học đang biến đổi từng ngày, với bao điều không lường trước được, các nấc thang giá trị không đứng yên mà dao động chóng mặt, những liên kết trong xã hôi, cuộc sống đời thường, ngay cả mối quan hệ giữa con người với con người đều là những vấn đề không còn thuận chiều, dễ nhìn nhận và phân định rạch ròi như trước đây. Và người viết không né tránh bởi văn học đang trong một thế giới biến đổi mà “truyện ngắn là một thể loại đa hình hài luôn sẵn sàng cho mọi biến đổi”

Như vậy từ những ghi nhận về chủ thể viết, chủ thể sáng tác, những truyện ngắn bước vào vòng chung khảo của Đường văn đã hiện diện và tạo hiệu ứng thẩm mỹ trong tình thế chuyển đổi và vận hành của bối cảnh sáng tạo và tiếp nhận đương đại. Đọc truyện ngắn Đường Văn người đọc như được dự phần, nếm trải những đời sống khác nhau, những thân phận khác nhau như “rubik đa chiều” với nhiều xoay trở, va đập và biến ảo để cuối cùng lộ diện một ý nghĩa hay một triết lý nhân sinh về lẽ đời , về cõi người. Bước vào thế giới truyện ngắn Đường Văn, người đọc không bị gò bó trong một phạm vi đề tài hay chủ đề nào đó mà được thỏa sức nhìn ngắm, soi chiếu cảnh vật và con người trong mọi chiều cạnh và góc độ. Đường biên thể loại giãn nở, cho phép thu nạp vào nó chất thơ và văn xuôi (Sắc tím oải hương, Một mình xuống núi, Mùa hoa tớ dầy, Ánh lửa sau vách nứa, Mùi quýt chín, Tường nhà); hiện thực và huyền ảo, (Mắt Khờ soi tỏ nhân gian, Người giữ quán trong sương, Tà dương, Cô bé đồng rừng, Hoa trong mưa, Trăng một mình, Quay gót phiêu bồng, Cái tỉnh của người điên, Xuôi về Hòn Ông, Cánh cò về lại trên đồng)); sự kiện và tâm trạng (Áo cà sa vá nơi ngã ba sông, Vũ điệu trong bóng tối, Đợi anh về, Lửa đời không tắt, Xin anh một đứa con, Lá thư chưa gửi, Cánh cò lại về trên đồng, Ảo ảnh liên hoa, Bên bờ hồ, Hàng tre xanh ngát, Những người tỉnh lẻ, Con nước đứng, Vẫy vùng, Bác Thích, Ranh giới, Ở một góc nhìn khác, Hắn; dân tộc và hiện đạị (Nhịp đập thời gian, Trên đỉnh Pù Luông), cõi thực và tâm linh (Trăng trong đêm cầu an, Nhập thiền, Cựu sơn, Cà phê ngắm máy bay).  Nhưng mọi sự phân chia các vấn đề kể trên đều không ổn định, bất biến mà luôn có sự va chạm, phối xen, liên văn bản.

Đều là những cây bút nữ nhưng với Sắc tím hoa oải hương là sự đan xen, quấn quyện giữa trữ tình và tư sự, là một câu chuyện đẹp tìm về ký ức, nơi lưu giữ những kỷ niệm và hương vị của gia đình  trong những trái táo chín và sắc tím hoa oải hương nơi ngôi nhà đậm màu cổ tích với văn phong tinh tế, nữ tính, thì Một mình xuống núi lại mang đậm tính văn xuôi trải dài từ rừng đến biển với một cốt truyện ly kỳ, truyện lồng truyên, hết sự cố này đến biết cố khác vận vào những phận người  dù hình thức méo mó, hay đầy những vết dập xóa trên thân thể thì vẫn ánh xạ trong họ tình người, tình xứ sở, vẫn có thể một mình xuống núi, không dễ gì lạc đường để trở về với cuộc sống đời thường. Như cùng muốn níu kéo quá khứ, năm tháng đã qua dẫu biết thời gian đã một đi không trở lại nhưng ở Nhịp đập thời gian và Người giữ quán trong sương, các tác giả đều có cách thức thể hiện khiến trai tim người đọc không khỏi xao xuyến và da diết nhớ đồ vật xưa, mà chiếc đồng hồ quả quýt là tín hiệu hay biểu tượng thời gian cho thấy “văn hóa là một dòng chảy tiếp tục trong từng lựa chọn hàng ngày” như một thực thể sống đang tiếp diễn và tiếp biến. Trong đó, Nhịp đập thời gian không chỉ là sự lưu truyền, gìn giữ báu vật qua các thế hệ mà còn là sự đồng thuận giữa tuổi bạc và tuổi xanh trên cùng một hành trình trong nhịp vận động không ngừng của đời sống. Còn với Người giữ quán trong sương bao phủ trong câu chuyện là một khoảng thời gian và không gian mơ hồ bất định, ở đó, những người ghé qua quán cà phê không trả tiền, mà gửi lại những món đồ: lá thư, kẹp tóc, cây đàn, chiếc giày nhỏ, thuyền giấy, bản thảo cùng những câu chuyện buồn của họ. Rồi người đi, đồ vật ở lại. Không ngờ với nhân vật chủ quán những vật dụng bình thường lại có sức ám ảnh, bởi đó không chỉ là những câu chuyện của người dưng mà của chính ông, chúng không là kỷ vật vô tri mà là linh hồn nhắc nhớ và sưởi ấm hiện tại, “là hơi thở” để người còn lại tồn tại.

Truyện ngắn không quy định phạm vi, đối tượng sáng tác nhưng như một sự ngẫu nhiên những vấn đề hậu chiến vẫn là nỗi trăn trở của những người viết sống trong thời bình. Bởi ký ức vẫn có “từ tính riêng” hút các ngòi bút chạm vào quỹ đạo của nó. Có biết bao nhiêu sự thiệt thòi của những người lính trở về sau chiến tranh. Không muốn thành phế nhân nhưng muốn trở thành một người bình thường, với công việc bình thường nhất cũng không dễ vượt qua (Vũ điệu trong bóng tối), là tâm trạng trĩu năng, như sóng ở đáy sông của những cựu chiến binh khi đối diện với hôn nhân và gia đinh (Hàng tre xanh ngát), là  tâm trạng mong muốn về xứ sở Chùa Tháp mà không dễ thực hiện bởi con sông ngăn cách (Ranh giới), là lá thư viết dở dang trên trận tuyến phương xa không bao giờ đến tay người thân (Lá thư chưa gửi). Sống trong thời đại 4.0, những câu chuyện về đời sống thường nhật, nhân sinh thế sự, sinh thái, môi trường cũng tạo cảm hứng cho người viết với cái nhìn thẳng vào đời sống, xã hội, mang tính thời sự và nhân văn. Câu chuyên xót thương và bi phẫn về thân phận nhỏ bé bị lừa gạt việc nhàn, lương cao đã chết thảm trong một “công ty” ở biên giới Tây Nam (Máu trên bàn phím). Bên cạnh dó, những truyện ngắn về những biến động của thời cuộc, về sinh thái, môi trường đã tác động đến người viết với Áo cà sa vá nơi ngã ba sông, Cánh cò về lại trên đồng, Vẫy vùng, Cô bé đồng rừng, Mùa hoa tớ dầy. Con người và thiên nhiên nên chung sống hài hòa, bình đẳng với nhau sao cho “cánh cò về lại trên đồng”, em bé tóc đỏ quen sống ở rừng phải được sống như chính nó chứ không phải ép vào khuôn khổ chưa thuần thục thì cho là  lập dị. Em thật sự là “cô bé đồng rừng”, là người bạn nhỏ thân thiết của thiên nhiên, cây cỏ và muông thú vốn đầy thú vị và mê hoặc đối với em. Áo cà sa vá nơi ngã ba sông gây ấn tượng bởi một lối viết hài hước, tung tẩy mà thấm thía, ngậm ngùi, cùng những quan sát cụ thể, sắc nét về thân phận con người. Đó là ba người đàn bà khác nhau tên gọi, nguồn gốc đia dư: bà người kinh bán chè thưng, bà người Hoa bán hàng mã, bà người Khơ me bán vải cùng mưu sinh nơi ngã ba sông. Nhưng ba người đàn bà “khẩu xà tim phật” sáng nào cũng “ầm ĩ” khuấy động một khúc sông lại là “phao cứu sinh giấu mặt của biết bao mảnh đời rách rưới trôi dạt ngang qua”. Trong những biến động của đất nước thời kỳ mới như nhập tỉnh, rồi giải tỏa, tưởng như họ đã rơi xuống đáy của bể khổ nhưng bù lại là sự giàu có của tình người, sự cưu mang ấm áp, đầy đồng cảm, sẻ chia của tình đồng loại.

Đọc truyện ngắn Đường Văn, tôi cảm nhận chất liệu đời sống trong đó không khoa trương, thậm xưng mà nó như được chuyển hóa, lắng lọc, biến ảo qua những sắc thái nội cảm của người viết. Những vấn đề của xã hội, của đạo đức nhân sinh được nhìn nhận qua tâm hồn con người và qua tâm hồn con người mà dòng chảy đời sống được trình hiện. Chính điều này vừa tạo độ sâu, vừa khơi gợi liên tưởng của người đọc về nguồn cội (Xuôi về Hòn Ông), tình mẹ con (Tường nhà), tình yêu, hôn nhân và gia đình (Con nước đứng, Trăng mật một mình, Xin anh một đứa con, Tà dương, Lửa đời không tắt), tình cha con và sự đối thoại giữa hai thế hệ (Cái tỉnh của người điên), tình chị em (Ánh lửa sau vách nứa), đạo đức làm nghề (Bác Thích, Bên bờ hồ), tình đồng loại (Mùa quý chín, Mắt Khờ soi thấu nhân gian)

Truyện ngắn hay Đường Văn cứ  dần dà thẩm thấu trong quá trình tiếp nhận của người đọc không chỉ là  những vấn đề về nội dung, thể loại mà cả về cách thức thể hiện nổi đậm ở cách sử dụng chi tiết và đoạn kết. Có thể nói, chi tiết trong tác phẩm văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng có khả năng biểu hiện  ý tưởng, cảm xúc của tác phẩm. Những chi tiết xuất hiện đúng lúc đã góp phần nâng tầm khái quát tác phẩm hoặc đem đến một tín hiệu mới, mang ý nghĩa nhân văn. Trong Xin anh một đứa con, mạch truyện êm đềm trôi đi cho đến khi xuất hiện chi tiết nhân vật nữ ngã trong phòng tắm khiến “hai cơ thể tưởng theo quy trình thụ tinh nhân tạo lại đến với nhau một cách nguyên thủy nhất”. Ở  Lửa đời không tắt, người thanh niên bốc vác nhiều lần bị lão bảo vệ bắt phạt tiền trắng trợn đã trả thù bằng cách bắn súng cao su vào mặt lão. Trong lúc mọi người khiêng lão đi thì trong túi rơi ra tấm hình đôi trai gái đã ố màu. Cậu thanh niên nhận ra khuôn mặt mẹ bên người con trai chính là lão bảo vệ tham ác. Chi tiết tấm hình giúp nó nhận ra người bố đang tràn máu trên mặt. Cậu sẽ biết thêm một sự thật trớ trêu dù đã muộn, nhưng muộn còn hơn không? Chi tiết người đàn bà đặt chiếc gùi có hạt giống hoa tớ dầy treo trên vách bờ rào nhà ông Thào, như một tín hiệu sẽ ở lại nơi núi đã quen hơi người trong truyện Mùa hoa tớ dầy thật giản dị mà thấm đọng tình người.

Trong truyện ngắn, đoạn kết cũng đóng vai trò đáng kể. Từ truyện ngắn truyền thống đến truyện ngắn đương đại đã có sự chuyển đổi đáng lưu ý, từ kết thúc có hậu đến đến không có hậu, từ kết thúc đóng đến kết thúc mở. Như nhà văn Nguyễn Minh Châu từng nói: “Với truyện ngắn, cái điều chính yếu là kêu gọi sự liên tưởng của người đọc”. Và sự liên tưởng ấy thường gợi ý từ kết thúc mở, tạo quyền chủ động  , khả năng đồng sáng tạo ở người đọc. Trong những truyện ngắn hay của Đường văn (Trên đỉnh Pù Luông, Ảo ảnh liên hoa, Đợi anh về…) cũng đã xuất hiện các kiểu kết thúc mở ngỏ, tạo điều kiện cho người đọc tiếp tục đồng hành cùng người viết, trong mối liên kết đồng cảm và sáng tạo. Cái kết bất  ngờ của truyện Vũ điệu trong bóng tối khiến người đọc thương cảm đến tận cùng người cựu chiến binh đã từng chắc tay súng nơi chiến trường giờ chỉ gấp theo nếp một cái túi giấy cũng bất lực gợi nỗi đau hậu chiến của người lín, sự hy sinh hạnh phúc của cô con gái để được chăm sóc cha tuổi già… Truyện Bác Thích  là kiểu kết thúc tạo sự tương phản, một bên là giữ đạo đức trong kinh doanh, một bên đặt lợi ích cá nhân  lên trên cộng đồng, kể cả phun hóa chất hôm nay để mai cắt vì lời lãi. Và nhân vật chính đã quay lưng ra cổng như một sự từ chối việc làm gian dối, tác động mạnh vào tâm trí những người tử tế … Ngay trong đoạn kết của Lá thư chưa gửi cũng gửi gắm thông điệp về sự khốc liệt và vô nhận của cuộc chiến Pháp – Đức mà người dân nước thuộc địa bị bắt sang Pháp làm lính đánh thuê, đã gợi bao thương cảm với người lính Việt Nam nằm lại trên xứ người ngày ấy…

Từ mấy trăm truyện ngắn mà Ban sơ khảo chọn ra gần 40 tác phẩm nổi trội đã cho thấy tinh thần và cường độ làm việc công tâm và nghiêm túc của những người tuyển chọn. Với những truyện đã được gọi tên trong tuyển tập lần này, có thể nói, các truyện ngắn Đường văn đã đồng hành với truyện ngắn Việt Nam đương đại.

                                                                                               PGS. TS Nguyễn Bích Thu