Lối về – Tản văn dự thi của Xuân Tình

Trăng trên đỉnh Púng Luông sáng đến lạnh người. Trăng đêm nay tròn như một chiếc mâm bạc úp xuống núi. Ánh trăng len qua vách liếp, rơi thành từng vệt nhợt nhạt trên nền đất còn vương mùi khói bếp. Trong gian nhà nhỏ, rượu ngô chảy từng giọt qua ống nứa, đều đều như tiếng thời gian. Dở ngồi bên bếp lửa. Cô không uống rượu, cô ngồi nhìn những hòn than đỏ dần lên rồi tắt. Ngoài kia, núi vẫn im lặng. Những mái nhà trong bản chìm vào bóng tối. Dưới chân núi, vài ánh điện vàng vàng đã sáng.

Ngày còn bé, Dở từng nghĩ mặt trăng ở trên núi. Cô và lũ trẻ trong bản thường chạy ra sân, ngửa mặt nhìn trăng rồi hỏi nhau: Trăng có ngủ không? Trăng có bao giờ xuống núi không? Những câu hỏi của trẻ con thường không cần câu trả lời.

Ngày ấy, Dở cũng chưa biết có những người lớn phải sống cả đời trong những câu hỏi không ai trả lời. Dở sinh ra ở một bản nằm cheo leo bên sườn núi. Nhà nghèo. Mẹ quanh năm đau yếu, bố đi làm thuê hết bản này sang bản khác. Cái nghèo nằm trong căn nhà vách gỗ, trong bữa cơm thiếu thịt, trong đôi dép đã mòn và ánh mắt của người mẹ khi nhìn con gái đến tuổi lấy chồng.

Nhưng Dở có một giấc mơ. Cô muốn làm cô giáo. Mỗi chiều đi học về, Dở lại tụ tập lũ trẻ trong bản, lấy một mảnh gỗ làm bảng, nhặt viên phấn cũ để dạy chúng đánh vần. Trong đám trẻ ấy có Hảng. Hảng học chậm. Có chữ Dở đọc đến ba lần nó vẫn chưa nhớ. Dở không mắng, chỉ kiên nhẫn đọc lại. “Em phải học nhé. Sau này biết chữ rồi thì đi đâu cũng không sợ.”

Hảng hỏi: “Biết chữ có đi được xuống núi không chị?”

Dở cười: “Đi được.”

Ngày ấy, cả Dở và Hảng đều chưa hiểu hết ý nghĩa của một con đường.

Rồi Dở lấy chồng. Nhà Dình mang bạc đến. Ông Chứ nhận bạc. Khi ấy mẹ Dở bệnh nặng, ông cần tiền chạy chữa. Ông đã nghĩ số bạc ấy có thể cứu được vợ. Nhưng mẹ Dở không qua khỏi. Còn món bạc thì đã thành món nợ. Dở theo Dình về nhà chồng trên con đường đất ngoằn ngoèo qua những triền núi. Cô ngoái lại nhìn bản mình. Mái nhà nhỏ khuất dần sau những bụi cây. Cô không khóc. Có lẽ khi người ta chưa biết phải khóc thế nào trước một cuộc đời đang rẽ sang hướng khác.

Nhà chồng không có song sắt. Nhưng Dở vẫn cảm thấy mình bị nhốt. Buổi sáng, khi sương còn phủ trắng lối đi, cô đã phải dậy nhóm bếp, lấy nước, cho lợn ăn, lên nương, gùi ngô về. Những ngày mùa, đôi vai nhỏ đỏ lên vì dây gùi. Dình thường chìm trong men rượu. Mặt anh ta đỏ gay, những lời nói với vợ chỉ là tiếng quát, sau chuyển thành những lời cay nghiệt. Mẹ Dình thường bảo: “Lấy chồng rồi thì phải biết phận mình.” Dở cúi xuống. “Biết phận mình” câu nói ấy cô đã nghe nhiều lần, từ nhiều người trên núi này. Cô tự nhủ: “Đừng mơ nhiều, đừng cãi, chỉ ở nhà và đừng bao giờ nghĩ mình có thể chọn một cuộc đời khác. Có những buổi chiều Dở đi sửa ống nước, đứng bên con suối rất lâu. Dòng nước trong veo mà lạnh lẽo. Dở nhìn dòng nước rồi chợt nghĩ: “Nước còn biết tìm đường xuống thấp, còn mình thì sao? Cứ mãi chịu cuộc sống không dành cho con người thế này mãi à!”

Một lần Dở gặp Say ở chợ phiên. Say từng học cùng Dở, hai đứa ngày trước thường ngồi cạnh nhau và nói về chuyện làm cô giáo. Say từng cười: “Sau này chúng mình cùng về bản dạy học nhé.” Nhưng ước mơ của Say cũng đã khép lại trước cánh cửa của một người xa lạ. Hai đứa gặp nhau cũng đưa nhau vào hàng thắng cố, cầm bát rượu chạm mạnh mà chẳng biết nói gì. Chỉ cần biết, họ vẫn hiểu những gì người kia đang chịu đựng. Sau đó không lâu, Say không còn nữa. Tin đến với Dở vào một buổi sáng nhiều sương. Cô ngồi bên bếp, nghe tin mà thấy lòng mình trống rỗng.

Từ hôm ấy, mỗi khi nhìn thấy một cô gái trẻ đi lấy chồng, Dở lại nhớ Say và cô nghĩ đến mình. Có một đêm Dở bước ra khỏi nhà. Con đường dưới ánh trăng, trắng nhợt đến rợn người. Dở đi mà không biết mình sẽ đi đâu. Núi vẫn ở đó cả những mái nhà vẫn ở đó. Chỉ có Dở thấy mình như đã đứng ngoài cuộc đời của chính mình.

Rồi Dở nghe tiếng gọi: “Chị Dở!”

Là Hảng. Nó đứng ở đầu con đường, thở hổn hển. “Chị đi chết à?”

Dở đứng lặng, Hảng khóc: “Chị chết rồi, ai dạy em học?”

Chỉ một câu nói của đứa trẻ đã kéo Dở trở lại. Cô ngồi xuống bên Hảng, hai chị em không nói gì nữa. Lần đầu tiên sau rất nhiều năm, Dở đã nhìn thấy một con đường. Sáng hôm sau, Dở về nhà. Ông Chứ đang ngồi bên bếp. Nhìn thấy con gái, ông không hỏi nhiều: “Có những chuyện người ta không thể kể thành lời, kể cả với người thân nhất.” Ông lấy trong chiếc túi cũ ra mấy đồng bạc đã sám màu. “Ngày trước, bố nhận số bạc này…”

Ông bỏ dở câu nói. Rồi cúi đầu: “Tao đã sai.” Câu nói ấy không thể làm những năm tháng đã qua trở lại. Nhưng Dở thấy lòng mình nhẹ đi. Sau đó, cô tìm đến cán bộ xã. Dở không còn nghĩ mình phải chịu đựng tất cả chỉ vì đã nhận bạc, đã lấy chồng, đã trở thành con dâu nhà người ta. Sau khi ông Chứ trả số bạc còn lại cho nhà Dình. Dở được bố trí làm phụ nữ ở bản. Thời gian rảnh rỗi, cô dạy lũ trẻ con trên bản bằng chút kiến thức ít ỏi của mình. Hảng cùng những đứa trẻ khác cầm viên phấn, đọc từng chữ. Một hôm, Hảng đọc đúng một câu, quay sang cười với Dở. Nụ cười ấy khiến cô nhớ đến chính mình của những năm trước. Một cô gái từng tin rằng chỉ cần học hành thì có thể đi xa.

Bây giờ Dở hiểu thêm: học chữ không chỉ để đi xuống núi. Học chữ còn để một ngày nào đó, người ta biết mình có quyền chọn con đường của mình.

Từ ngày Dở trở về, ông Chứ cũng thay đổi. Trong một cuộc họp bản, ông đứng lên nói: “Đừng lấy bạc đổi đời con gái nữa.” Ông biết mình không thể xóa được điều đã làm với con gái. Nhưng ông có thể nói ra điều ấy để một đứa con gái khác không phải đi qua con đường mà Dở từng đi. Ngoài kia, những con đường vào bản dần rộng hơn. Những ánh điện nối từ nhà này sang nhà khác. Trẻ con có trường học. Hoa tớ dày vẫn đỏ cả núi. Mây vẫn trườn qua bản những buổi sớm. Nhưng cuộc sống trên bản đã khác.

Một đêm Trung thu, Dở đưa lũ trẻ ra sân. Một đứa trẻ hỏi: “Chị Dở ơi, trăng có đi khỏi núi không?”

Dở nhìn lên. Cô nhớ câu hỏi của mình ngày bé. Cô mỉm cười: “Trăng không đi. Nhưng con người thì đi được.”

Lũ trẻ chưa hiểu nhưng Dở đã từng hiểu, sau rất nhiều năm. Đêm ấy, khi lũ trẻ đã về hết, Dở đứng trên sân nhà nhìn con đường uốn mình xuống thung lũng. Những ánh điện đã sáng lên dưới chân núi. Ngày trước cô từng nghĩ núi cao nên người ta không thể đi. Bây giờ cô mới biết, núi chỉ đứng đó. Con đường cũng chỉ đứng đó còn con người đi hay ở, không phải do núi quyết định. Dở bước xuống con đường. Phía trước là thung lũng, là bản làng. Cô chợt nghĩ. “Trăng vẫn ở trên núi. Còn con người thì đã có thể bước đi. Chỉ cần ta mạnh dạn bước qua cái hủ tục truyền đời…”