Đi để trở về – Truyện ngắn dự thi của Hồ Kiên Giang

Từ bữa chị gọi điện thoại về báo tin cuối tuần này nhận bằng tốt nghiệp đại học ngành nông nghiệp đạt xuất sắc, cả nhà rộn ràng như có đám lớn. Tía má cứ lăng xăng đi vô đi ra, lẩm bẩm mỗi chuyện lên Cần Thơ chúc mừng rồi rước chị về, phương tiện gì, nấu món nào chị thích, mời những ai tới dự tiệc… Tía tính chở tôi bằng hon-đa thì má gạt ngang: “Mèn ơi, đời người có mấy lần được vinh hiển vậy anh. Mình thắt ngặt bao năm rồi, giờ phải rình rang chớ!”. Nghe bùi tai, tía chốt hạ mướn xe đời mới mười hai chỗ ngồi của chú Tư Lùn, tuy giá hơi mắc một chút so với xe cũ nhưng lướt êm ru, máy lạnh mát cả sống lưng. Tía mời ông Tám, bà Hai Cúc, cả thầy Tùng hồi xưa kèm cặp chị thi đậu đại học đi chung. Tía nói ở trong ấp mình không thiếu đứa học giỏi nhưng tốt nghiệp xuất sắc như chị là đầu tiên. Còn tôi, ban đầu tính ở nhà mượn vài bộ bàn ghế để đãi khách nhưng tía nói: “Thằng Tượng đi với tía để có thêm động lực phấn đấu. Sang năm con thi đại học rồi, phải giống chị con”. Còn má phấn chấn nhất, rất muốn đi nhưng phải ở nhà cùng các cô dì trong xóm lo nấu nướng, dọn sẵn mâm bàn chờ về tới là nhập tiệc liền.

Xe khởi hành lúc năm giờ sáng dù chỉ hơn trăm cây số. Tía nói đi sớm cho thư thả coi đường sá phát triển, bà con mình mần ăn ra sao. Tía viện cớ nói vậy chớ tôi biết tía nóng lòng muốn gặp “con gái cưng” lắm rồi. Nhìn xe rộng rinh, tía nói để chị dọn đồ đạc về, trả phòng trọ cho người ta. Mấy bữa trước chị gọi điện kể có vài công ty ngỏ ý nhận chị làm với mức lương gần hai chục triệu đồng nhưng đã từ chối. Lý do là chị muốn về gần nhà, vừa chăm sóc tía má vừa có thể đem kiến thức đã học hỗ trợ bà con. Tía phán một câu chắc như đinh đóng cột: “Con muốn sao cũng chìu hết, miễn con vui là tía má mừng!”.

Xe quẹo vào cổng trường đại học rồi dừng lại trước một hội trường lớn. Mắt tôi hoa lên trước không gian tràn ngập sắc xanh đen và đỏ của áo cử nhân, nét mặt mọi người hân hoan với những bó hoa tươi thơm ngát cùng tiếng cười nói rộn ràng hòa lẫn tiếng nhạc. Tía bước xuống xe. Đã quen đi chân trần giờ mang giày nên có vẻ vướng víu, ngay cả cái áo sơ mi bỏ trong chiếc quần tây mới mua đã được má ủi thẳng thớm cũng làm tía lóng ngóng, không thoải mái như bận quần cụt, cởi trần. Từ xa, chị lách khỏi nhóm bạn chạy về phía chúng tôi, tay cố giữ cái nón chóp vuông đính sợ dây tua rua đong đưa. Tôi chợt ước, ngày tốt nghiệp đại học, tôi sẽ oai phong như chị bây giờ. Thầy Tùng bước tới, đặt tay lên vai chị, giọng xúc động: “Hồi xưa thầy mong được học ở trường lớn như vầy nhưng không đủ điều kiện. Giờ em đứng đây lại còn nhất khóa, vinh dự lắm đó. Thầy chúc mừng em nghe!”. 

Trong buổi lễ, có một chuyện mà tôi nhớ hoài. Đó là lúc Võ Thị Đồng Năn đại diện cho sinh viên toàn khóa lên bục danh dự phát biểu. Chị không kể quá trình học vất vả hay những dự định lớn lao, mà nhắc về quê mình với những cánh đồng năn tượng đã giúp tía má nuôi nấng chị lớn khôn, học hành đàng hoàng. Vì lẽ đó mà chị muốn trở về để có thể góp công sức phát triển loài cỏ dại từng giúp bà con đi qua những năm đói kém. Cả hội trường vỗ tay rần rần. Tôi liếc thấy mắt tía, ông Tám, cả bà Hai Cúc đều đỏ hoe mà miệng cười toe toét.

Trên đường về, cả xe tràn ngập niềm hân hoan. Thầy Tùng thắc mắc: “Đồng Năn nè. Lúc nãy, sau buổi lễ, có một giám đốc công ty tới chúc mừng và thuyết phục em làm việc cho ổng với đãi ngộ cao sao em không chịu?”. Chị cười: “Làm ở đâu cũng vậy nhưng gần nhà vẫn tốt hơn đó thầy. Với lại, luận văn tốt nghiệp của em về phát triển cây năn tượng. Trong đó, em viết về cách trồng năn sao cho phù hợp khi đồng đất mình nhiễm mặn không thể sạ lúa, vừa thuận thiên để thích ứng với biến đổi khí hậu vừa giúp bà con có thêm thu nhập từ sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ. Hồi em đi thực tập một số địa phương, người dân mình vẫn còn nếp nghĩ xưa cũ là trồng năn tượng vài bữa chết hết, cho chuột ở chớ có lợi ích gì đâu. Em nghĩ, chắc họ chưa hiểu rõ loài cỏ hoang này có khả năng sống khỏe hơn cây lúa trong điều kiện cả nước ngọt, nước mặn, nước lợ. Đặc biệt, nếu duy trì độ mặn phù hợp sẽ tạo môi trường sống tốt nhất của tôm, cũng như năn tượng phát triển. Chưa hết nghen thầy, ngó năn non là món khoái khẩu giúp tôm mau lớn, lại ít bệnh tật hơn nuôi kiểu cũ nhiều”. Thầy Tùng gật gật đầu nhưng có vẻ hoài nghi: “Hồi nào tới giờ người dân đã quen với phương pháp canh tác cũ. Ví như chỗ này đang nuôi tôm, nếu đưa cây trồng, vật nuôi chỏi lại thì bà con mình dễ gì chấp nhận hả em!”. Chị giải thích: “Em biết chứ thầy. Vậy nên mình phải thuyết phục bà con đồng thuận từ thực tiễn bằng mô hình sản xuất mới thích ứng nhưng không xung đột với cách làm truyền thống hiện tại. Cụ thể như trồng năn hoàn toàn dựa vào thiên nhiên, phù hợp với vùng đất, nguồn nước bản địa. Trước tiên là nhờ tía với ông Tám hỗ trợ kinh nghiệm nuôi tôm quảng canh để em thử trên bốn công năn tượng của má”. 

Tía im lặng nghe ông Tám và chị trò chuyện, lòng mừng thầm khi thấy con gái hiểu biết nhiều, nói cặn kẽ. Giọng tía âm trầm có phần xót xa: “Làm cha làm mẹ ai cũng muốn con cái mình thành đạt, tương lai sáng sủa để nở mày nở mặt. Mấy chục năm lo cày lo cấy cho học hành ở trường lớn, làm việc trong phòng máy lạnh, ai nỡ để con lội sình lầy chớ. Bây giờ con tính sao tía má ủng hộ, chỉ sợ lời ra tiếng vào bàn tán con học cho cố rồi không chịu đi mần gì hết, về quê ôm mấy cọng cỏ dại. Lúc đó lại phiền muộn, con gái à!”. Giọng chị nhẹ hều nhưng quả quyết: “Tía yên tâm đi. Hồi đó con hứa với tía má sẽ thi đậu đại học, con làm được rồi nè”. 

Chị nói rành rọt chuyện cây năn tượng, tôi không hiểu lắm nhưng nhìn ánh mắt tự hào lẫn chút lo âu của tía làm tôi nhớ lại thời cũ. Nhắc kinh nghiệm nuôi tôm của ông Tám thì thuộc hàng “cao thủ”, cả xóm không ai bì kịp. Bởi ông gắn bó với con tôm trước khi má sanh tôi nên tường tận như thuộc lòng từng chân tơ kẽ tóc. Còn tía, chỉ làm một vụ đầu đã thất bại rồi bỏ luôn. Ngày đó chị năm tuổi, còn tôi mới lọt lòng. 

*

* *

Nói về cây năn tượng, có người gọi là hến biển, mọc tự nhiên trong đầm lầy khiến người dân mất nhiều công sức dọn sạch để cấy lúa. Tía cũng vậy, phát bỏ hết năn tượng, bang đất lấp ao trồng lúa. Cật lực làm nhưng nước vùng mặn – ngọt theo mùa, thậm chí chuyển mặn cả năm, có khi còn bị ngập úng nên vụ trúng thì ít mà thất bát thì nhiều. Má trách tía: “Hồi sanh Đồng Năn, em kêu anh đừng chặt bỏ năn tượng, để dành cho em đương nón bán cũng có đồng ra đồng vô, giờ thì thiếu trước hụt sau. Hay là mình cấy lại năn tượng đi anh?”. Tía thở dài: “Đúng là khó thiệt. Mà nè, bữa trước anh qua nhà chú Tám thấy chú sên ruộng chuẩn bị nuôi tôm. Chú nói thời buổi bây giờ khác rồi, Nhà nước mình khuyến khích chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có giá trị cao để xuất khẩu. Chú nuôi tôm hai vụ rồi, êm lắm. Một ký tôm tương đương hai mươi ký lúa. Quanh đây toàn rừng ngập mặn, nhiều ao lầy mọc đầy cỏ năn, bà con cũng đang dọn đất để nuôi tôm. Biết đâu mình học theo chú sẽ đổi đời”. Má xua tay: “Thôi thôi, nào giờ anh có biết nuôi con gì đâu. Với lại, nghe nói nuôi tôm tốn nhiều tiền lắm mà mình không có khả năng như chú Tám. Nếu vay tiền, lỡ con tôm có mệnh hệ gì sao trả nổi!”. Cũng phải, hồi chiến tranh, lo tránh bom đạn còn không kịp nên tía có được học hành chữ nào đâu. Sau giải phóng mới đi bổ túc văn hóa, biết ráp chữ, đánh vần rồi đọc tròn câu, hiểu nghĩa là mừng húm rồi, nói chi đến kỹ thuật kỹ thiết gì đó. Nhưng hình như tía đã có ý định nên phân trần: “Anh hỏi kỹ chú Tám rồi. Chú nói mình nuôi quảng canh, chi phí thấp vì không tốn thức ăn mà dựa hết vào môi trường tự nhiên. Mình vừa trồng lúa vừa nuôi tôm, nếu thuận lợi thì thu được hai nguồn lận”. Nghe tía nói lọt tai, má suy nghĩ hồi lâu rồi gật đầu.

Công đoạn sên đất làm cho tía mất ăn mất ngủ. Hầu như ngày nào, lúc trời chạng vạng là tía qua nhà ông Tám học hỏi kinh nghiệm, từ lúc xả cạn nước ruộng, vét sình lầy đến phơi đất để diệt mầm bệnh và khí độc, rải vôi khử chua, bơm nước ngọt rửa phèn và mặn. Tía hỏi tới đâu đều ghi lại cẩn thận. Nhưng khó nhất với tía là mấy số liệu, tỷ lệ lằng nhằng về diện tích, mực nước, độ pê-hắt gì đó. Ông Tám nói hồi trước giải phóng đã học cao đẳng nông nghiệp nên biết chút đỉnh, giờ hướng dẫn cho bà con biết cách canh tác có lời để kiếm tiền nuôi nấng con cháu đàng hoàng, trước mắt là không còn chịu cảnh thắt ngặt. Ông Tám lật từng trang cuốn tập, đọc chậm để tía ghi từng chữ, không giấu giếm: “Bây nhớ kỹ khi sên đất không được xới trộn nền ruộng lúa nghe, như vậy sẽ làm thay đổi cấu trúc và xì phèn tôm chết hết. Còn mực nước mương bao chỉ giữ từ một đến một mét hai để tôm trú ẩn và sinh trưởng tốt”.

Sau khi xử lý đất xong, tía nhờ ông Tám qua coi được chưa để thả tôm. Nhìn bờ bao cao ráo, chắc chắn quanh miếng ruộng rộng mười công đất ông nội cho, ông Tám gật gù: “Giỏi he. Một mình ên mần mà được như vầy là quá êm. Bây có kiểm tra bờ bao có bị rò rỉ nước chưa?”. Được khen, tía phấn chấn nói: “Dạ, con coi kỹ rồi chú. Nó bịt chặt, không có lỗ mọi nào hết. Con cũng mua lưới về che xung quanh để ngăn chặn địch hại và tránh tôm thoát ra ngoài như chú chỉ đó”. Ông Tám hài lòng: “Ừ, coi như phần đất đã xong. Nhưng đây chỉ là bước khởi đầu thôi, sau này còn cực hơn nữa. Mỗi ngày, thậm chí là hàng giờ bây phải duy trì mực nước trên mặt ruộng khoảng nửa thước, nhất là màu nước không đổi nghe. Còn thức ăn tuy dựa vào tự nhiên nhưng có thể bổ sung thêm lúa mầm vào các tháng cuối vụ giúp tôm lớn nhanh. Cái này tới chừng đó chú chỉ cho. Nè, bây mới nuôi thử nên thả giống ít thôi để rút kinh nghiệm, tính mật độ thì mỗi mét vuông hai con thôi. Cách này bảo đảm tôm tìm đủ thức ăn tự nhiên. Giờ, bây bơm nước vô ruộng qua lưới lọc kỹ, rồi tới nhà chú lấy bao phân chuồng ủ hoai rải xuống để kích thích hệ vi sinh vật và tảo có lợi phát triển. Vài ngày nữa chú chọn tôm giống xong thì chú với bây thả xuống, nhớ là sáng sớm hoặc chiều mát nghe. Bởi tôm còn yếu, trưa nắng quá nó sẽ… nhức đầu”. Dứt lời, ông Tám mỉm cười rồi rời đi. Tía nhìn theo dáng ông rồi ngó ruộng tôm nghe lòng mình lâng lâng niềm vui với những dự tính sáng đẹp.

Cũng như hơn tháng dài làm đất, sau ngày thả tôm giống, tía gắn liền với mảnh ruộng từ sáng tinh mơ đến tối mịt. Thậm chí, tía dựng căn chòi phía cuối ruộng để coi chừng mấy đứa con nít đi bắt cá đồng không biết vô quấy phá. Bữa trưa nào nắng gắt, tía ra coi con tôm có bị ngộp nước, nổi đầu hay không. Còn đêm mưa dầm cũng thức trắng theo dõi con nước xem có lạnh, ngọt hóa hay xì phèn để kịp xử lý. Tía vốn đã ốm nhom giờ rộc người đi, da đã ngăm lại đen thêm, hai mắt quầng thâm nhưng không than thở nửa lời. Có lần má nói giỡn: “Anh cưng tôm như trứng mỏng he!”. Tía cười khà khà: “Nè, em ghen với con tôm hả? Mà cũng phải, nó đem lại lợi cho mình thì không cưng nó sao được. Nếu vụ này ngon, mình trả hết tiền mượn của chú Tám vẫn còn dư chút đỉnh, vừa lo cho Đồng Năn vô lớp một vừa lo cho em sanh thêm thằng đực. Sau đó mình cấy lúa. Theo đà này, sang năm mình làm nữa”. 

Nhưng người tính không bằng trời tính. Một ngày không đẹp trời chẳng phải nắng nóng cũng nào phải mưa dầm, tía hớt hơ hớt hải chạy qua nhà ông Tám cầu cứu: “Chú Tám ơi… sao tôm con nó… vàng vàng!”. Ông Tám đang ăn cơm bỏ chén đũa, bước tới cái bàn tròn lật lật chồng sách rồi cầm một cuốn đi vội theo tía, chau mày nói: “Mấy bữa trước chú qua coi thấy không có dấu hiệu gì bất thường mà. Bây có cho nó ăn thêm gì không?”. “Không có. Con làm theo y chang lời chú dạy đó”. “Vậy thì nó bị gì vậy ta!”. Vừa tới ruộng, ông Tám nhìn vài con tôm cỡ đầu đũa đang ngả màu vàng khác thường bơi yếu ớt ven bờ. Ông vớt con tôm lên tay ngắm nghía rồi thả xuống nước. Nhìn ông lật đọc mấy trang sách, lòng tía như có lửa: “Sao vậy chú? Nó bị bệnh hả? Con coi sóc nó kỹ dữ lắm đó!”. Lát sau, ông Tám thở dài: “Nguyên nhân tôm vàng như vầy do chất lượng nguồn nước, có lẽ đất xì phèn dữ quá, nó chịu không thấu. Giờ chỉ còn cách lấy tro bếp để khử phèn cứu vãn thôi, bữa chú chỉ rồi bây còn nhớ không? Ờ, bên nhà chú còn hơn nửa bao tro trấu, mau qua vác về rải liền đi, vớt vát được bao nhiêu hay bấy nhiêu!”. Tía “dạ” liền. Dẫu lời ông Tám như niềm vui sáng trưng vẫn còn ngả màu xám xịt làm ruột gan tía thắt lại. Trước khi về, ông Tám vỗ vai tía khuyên: “Nói thiệt nghe, nuôi con gì hay trồng cây gì cũng phải hiểu rõ, dù không rành rẽ cũng phải biết cơ bản về đặc tính của nó để có biện pháp ứng phó khi gặp sự cố. Bây chí thú làm ăn là tốt nhưng để hiệu quả mỹ mãn không dễ dàng đâu. Coi như lần này học được chút ít, nếu thử lại chắc khá hơn. Mà bây đừng nản, thua keo này mình bày keo khác nghen!”. Trong đầu tía lóe lên hy vọng với quyết tâm giành lại sự sống cho đàn tôm nhỏ xíu từ vị phèn chua chát quỷ quái của đồng đất này.

Nửa bao tro trấu của ông Tám làm sao đủ xử lý mười công đất. Vậy là tía chạy khắp xóm xin thêm. Nghe tía kể chuyện con tôm, bà con gom góp giúp tía vượt qua cảnh khó. Mãi tới lúc mặt trời chếch về phía tây, tía thất tha thất thểu bước vô nhà, mệt mỏi thả mình xuống chiếc võng bện bằng dây chuối, vắt tay lên trán ngẫm nghĩ. Má đang nấu cơm chiều dưới bếp thấy tía về buồn rười rượi vội hỏi: “Có chuyện gì vậy anh?”. Tía lắc đầu: “Tôm bị vàng do phèn, chắc nó không sống nổi quá. Anh đã làm theo lời chú Tám, giờ chỉ còn nước còn tát thôi”. Má ngồi xuống cạnh võng, nắm tay tía: “Vậy là công sức của anh mấy tháng nay trôi sông trôi biển hết. Mà anh đừng buồn, tại mình không biết cách nuôi. Nếu ai nuôi tôm cũng trúng thì nó đâu có giá cao dữ vậy. Giờ tính vầy, anh cắt một phần đất nuôi tôm đó cho em cấy năn tượng để đương nón, giỏ xách đem ra chợ bán; còn lại anh trồng lúa. Như vậy vừa có gạo vừa có thêm tiền chắc nhà mình không đến nỗi nào. Anh thấy sao?”. Tía bật ngồi dậy, mắt nhìn má không chớp, giọng ngập ngừng: “Như vậy… cực thân em quá… Anh định nuôi tôm sẽ…”. Má mỉm cười, cắt lời tía: “Mèn đét ơi, có gì cực chớ. Em mần việc này có ra đồng ra bãi nặng nhọc như anh đâu, chỉ quanh quẩn ở nhà nhẹ nhàng muốn chết! Em sanh con vài tháng thì năn tượng cũng lớn, vừa kịp lúc luôn”. Tía cười theo, giơ tay nhéo má vợ: “Nhẹ nhàng mà muốn chết thì nhẹ nhàng mần chi!”.

Nghe lời má, tía cắt sáu công đất để quay lại cấy lúa. Ban đầu chỉ trồng một vụ, nhờ Nhà nước cho đào kinh thủy lợi xổ phèn, ngăn mặn giữ ngọt nên tăng lên hai vụ, rồi ba vụ lúa. Còn bốn công đất trồng năn tượng của má cũng xanh tốt. Mỗi khi đi cắt năn tượng, tía má dẫn chị theo dù không giúp được gì. Chị ngồi trên bờ mẫu bứt mấy cọng cỏ hình châu chấu tự đá một mình. Lâu lâu, chị nhìn tía má khom lưng giữa đồng năn kêu lớn: “Tía má ơi, mình về nhà đi!”. Tía má ngẩng đầu nhìn chị, gương mặt đầm đìa mồ hôi vẫn cười tươi rói. Bao giờ má cũng nói: “Con đợi tía má nghen, chút xíu nữa xong rồi”. 

Một bữa trưa nắng chang chang bỗng dưng trời chuyển mây đen. Từng cơn gió thổi nghiêng ngả ruộng năn tượng. “Sắp mưa rồi, mình về thôi”. Tía vừa nói xong thì nghe tiếng chị đang ngồi trên bờ mẫu hét lớn: “Tía ơi, con rắn nó cắn chân con!”. Lúc đó chị ngất lịm đi, tía má điếng hồn. Tía liền ẵm chị chạy tắt đường ruộng, băng qua đồng năn tới nhà bà Hai Cúc. Má run rẩy chạy sau, vừa thở vừa khóc. Trong xóm này, ngoài đỡ đẻ bà Hai còn biệt tài nhổ nọc rắn bằng những bài thuốc dân gian từ các loại lá cây. Bà Hai đang và cơm bỏ chén đũa, chạy vội ra sân hỏi: “Đi đâu mà bị rắn cắn? Nó cắn ở đâu? Mau đưa đây coi”. Tía thở dốc, nói nhanh: “Tụi em đi cắt năn… nó ngồi trên bờ mẫu… bị rắn cắn chân phải”. Bà Hai nhìn vết rắn cắn, tay nặn mạnh mấy giọt máu làm chị đau điếng giật mình tỉnh dậy khóc thét lên. Bà Hai vỗ vỗ chân chị, cười: “Không có gì đâu, rắn bông súng chớ không phải rắn độc. Mày coi nè, vết răng đều như vòng cung, không có hai lỗ nanh sâu hoắm, chỗ vết cắn cũng không bị bầm, sưng vù là nhẹ hều. Lỡ xui xẻo bị rắn hổ hay rắn lục cắn là tiêu đời luôn đó”. Tía má thở phào một cái. Má lau nước mắt, ôm chầm chị: “Vậy mà tưởng rắn độc, làm má lo muốn chết!”. Bà Hai kéo má vô nhà, lấy nắm lá cây đâm nhuyễn đắp chỗ vết rắn cắn trên chân chị rồi bó lại bằng vải mùng. Bà vừa làm vừa dặn: “Nè, mai mốt vợ chồng mày có đi mần thì đem con qua đây tao coi chừng cho, đừng dẫn nó theo phơi nắng phơi mưa tội nghiệp”. Bà Hai dứt lời thì mưa ào xuống như rửa ráy nỗi lo lắng của tía má về kiếp nạn vừa đến với chị.

*

* *

Xe quẹo vô con đường lởm chởm đá cát. Hồi trước nó hẹp và lầy lội chỉ đi bộ, mấy năm nay bà con làm ăn khấm khá nên cùng nhau hiến đất rộng bốn mét, Nhà nước đầu tư tráng xi-măng cho xe bốn bánh đi thoải mái. Tôi ngó bên trái, xa tít ngoài kia là biển rộng mênh mông. Còn bên phải là những cánh rừng ngập mặn xanh rờn. Tía kể hồi đó vùng này bom dội pháo dập liên miên, có khi lúa chín, chuẩn bị cắt thì giặc bỏ bom tanh bành. Dù vậy, ai cũng bám đất bám vườn nhưng chỉ dựa vào ông trời, cầu ngày mong đêm trúng mùa để no bụng. Chắc có lẽ, tại ông trời xa quá không nghe thấy nên nhà nào cũng thiếu thốn triền miên.

Năm đất nước hòa bình tía được mười ba tuổi, hàng ngày theo ông nội sang lấp hố bom, phát bỏ năn tượng để cấy lúa. Không riêng nhà nội mà cả xóm chỉ muốn kiếm ăn chứ nào ai để ý tới chữ nghĩa. Ngay nhà ngoại tôi ở xã kế bên cũng vậy. Má tôi không biết chữ nhưng khéo tay. Má kể, hàng ngày bà ngoại đi cắt năn tượng về phơi khô để đương nón, giỏ xách. Bà con trong xóm thấy ngoại khéo léo, làm đồ đẹp, lại bền nên đặt mua xài. Họ còn kêu ngoại đem ra chợ bán dù chỉ vài đồng nhưng có thêm miếng thịt, ký muối. Dần dần, mấy cô mấy dì tới… học nghề, ngoại chỉ tường tận từ cách chọn năn tươi, phơi mấy nắng đến lựa những cọng đủ độ khô, kích cỡ đương từng loại sản phẩm. Má cũng học ngoại từ đó. “Tía con thấy má bán nón ngoài chợ nên tán tỉnh rồi nhờ mai mối hỏi cưới. Thấy tánh tình tía hiền lành, chân chất nên ông ngoại gả. Má cũng chịu theo tía về đây, đem theo nghề đương năn tượng”, má thường nói vậy.

Lúc mang bầu chị, má vẫn đương nón, giỏ xách bán. Bữa đó gần trưa, khi đang cắt năn tượng bỗng dưng má cảm giác đau bụng dữ dội. Bữa nay tía không đi cùng má vì sáng sớm ra chợ huyện bán lúa. Má cố ôm bụng lội ruộng lên bờ mẫu ngồi thở dốc. May thay, bà Hai Cúc đi kiếm má để đặt hàng cho người quen trên tỉnh. Bà Hai thường đỡ đẻ cho phụ nữ trong xóm, vừa nhìn là biết má sắp sanh. Bà vội dìu má vào nhà. Vừa nằm xuống vạc tre là má chuyển dạ. Má nói nếu tính kỹ thì chưa tới ngày sanh, còn khoảng một tháng nữa, ai dè chị “đòi” ra sớm. Bà Hai nhìn chị chừng hai ký rưỡi, tặc lưỡi: “Mày đẻ con so mà nó nhỏ quá, không biết …”. Má thở hổn hển, nói đứt quãng nhưng chắc nịch: “Nó là… đứa đầu lòng… Em nuôi… được”. Bà Hai dặn: “Mày sanh non nên coi bộ thiếu sữa nghen. Mỗi bữa nấu cơm nhớ chắt nước rồi pha thêm muỗng đường mía cho nó uống thêm!”. 

Xế chiều tía về, vừa tới cổng đã nghe tiếng bà Hai oang oang: “Vợ mày đẻ rồi, con gái. Lẹ lẹ vô coi đi, dễ cưng lắm!”. Tía lính quýnh ba chân bốn cẳng chạy vội vô nhà, mắt ngó má trân trân: “Mèn ơi, em đẻ sớm hả? Sao không nhắn anh về?”. Má nguýt tía: “Ủa! Lấy gì nhắn anh. Hên là đúng lúc dì Hai đang kiếm em, chớ chậm chút nữa là em đẻ rớt con trên đồng năn luôn”. Tía gãi đầu: “Anh… sơ ý quá. Lẽ ra lúc này… không nên để em ở nhà một mình”. Bà Hai phẩy tay: “Thôi, vợ chồng mày sến súa quá, mẹ tròn con vuông là mừng rồi. Giờ tao về hái lá bưởi, chanh với sả cho nó xông. Còn mấy món ăn kiêng lúc ở cữ hay bồi bổ để tao chỉ rồi mày làm theo nghe”. 

Má nhìn tía ngó con gái, cảm nhận niềm hạnh phúc rạng ngời trong mắt chồng. Tía vừa sờ nắn người chị vừa hỏi má: “Em tính đặt tên cho con chưa?”. “Nãy giờ em nghĩ tên Đồng Năn, Võ Thị Đồng Năn để nhớ lúc sanh nó. Anh thấy được không?”. Tía cự nự: “Mèn ơi, con gái con lứa phải lựa đèm đẹp như Lan, Huệ, Trúc, Mai, chớ ai lại cho cái tên quê mùa vậy. Mỗi lần kêu Đồng Năn nghe kỳ thấy mồ. Thôi, em chọn tên khác đi”. Má giải thích: “Ý em là mong muốn con mạnh giỏi như đồng năn. Tuy loài này có hột nhưng ít nảy mầm, bà con coi nó là cỏ dại, không đem lại lợi ích gì nên chả ai trồng. Bữa trước ra ruộng năn em thấy dưới sình non nhú lên những chồi cây mới. Đó, anh thấy lạ chưa?”. “Ừ hén. Cái tên thôi mà, chỉ để gọi chớ đâu phải để thờ để đội. Nghe em hết!”. Chính cái tên này mà hồi chị đi học, mỗi khi thầy cô kêu trả bài làm cả lớp cười rần. Có lần tụi bạn ẩn ý: “Nghe tên là biết ở đâu rồi. He he…”. Tưởng chị mắc cỡ, ai dè đáp gọn hơ: “Tía má cho tôi tên gắn với kỷ niệm, mừng còn không kịp chớ sao lại ngại ngùng. Tôi ở quê thì sao? Tôi mà học giỏi là ngon hơn bạn đó”.

Xe dừng lại trước cây cầu bê tông bắc qua con kinh nhỏ, dốc cao. Tài xế kêu mọi người xuống đi bộ cho nhẹ xe. Lúc đi không sao nhưng giờ có thêm đồ của chị sợ bị đụng gầm thấp. Rời cảnh gò bó trên xe, ai cũng làm vài động tác cho giãn gân giãn cốt. Chị bước lại gần bờ kinh, với tay ngắt cọng năn tượng tước vỏ rồi đưa lên miệng nhai. Mắt chị rưng rưng khi nhận ra vị ngọt bùi pha chút mặn mòi quen thuộc. Ông Tám đứng bên cạnh, nhìn vạt cỏ xanh dập dềnh trên ruộng, giọng trầm ngâm: “Ông đã nuôi tôm quảng canh hàng chục năm nhưng vụ này không kịp trồng lúa vì độ mặn trong nước cao, đành giữ lại những vạt cỏ năn tượng. Thiệt là đâu ngờ loài cỏ dại này không chỉ che mát, giảm nhiệt độ mà còn góp phần làm sạch môi trường. Hóa ra là hệ thống rễ của nó chằng chịt, lọc mặn và giữ đất tốt; cung cấp cho tôm các loại dưỡng chất mà thức ăn công nghiệp không thể thay thế. Tới cuối mùa nắng, năn tượng lụi dần làm phân hữu cơ nuôi đất tốt dữ lắm. Con thấy ông nói đúng không?”. Mắt chị sáng lên nhìn người bậc lão nông: “Trời đất ơi, ông nghiên cứu kỹ thiệt đó. Mà ông có để ý vào mùa nắng, thấy mặt nước sôi bọt là biểu hiện năn tượng bơm không khí vào rễ không… Khi đó, rễ nó thở làm thông thoáng chân đất nên rong rêu độc hại không mọc nổi. Nuôi kiểu này bà con mình đỡ tốn tiền mua máy đánh sóng tạo khí ô-xy, nhẹ lo vốn đầu vào mà con tôm lại sạch, bán được giá cao hơn ông ơi!”. Ông Tám gật gù tâm đắc: “Con nói chí phải. Hồi trước, mình đâu có biết con tôm ăn được cỏ này nên chả quan tâm. Mấy năm nay, nhiều hộ canh tác lúa – tôm trồng khoảng một phần ba năn tượng trên diện tích để tôm khoẻ, mau lớn, thu hoạch cao. Mà muốn được như vậy phải tỉa bớt nhưng không bỏ đi như hồi trước mà bán cho công ty, hợp tác xã làm đồ thủ công mỹ nghệ tăng thêm thu nhập; còn những bụi năn tốt thì nhổ cả rễ bán đi các nơi đang kiếm mua trồng. Ngộ chưa, thứ cỏ dại một thời không ai ngó ngàng tới giờ lại giúp mình lên đời hén con!”.

Nghe ông Tám nói, tía suy nghĩ hồi lâu rồi nhíu mày kể: “Tía nhớ, sau một tuần ở cữ lúc sanh Đồng Năn, má con dò dẫm ra sau nhà nhìn đám năn tượng cuối mùa tróc gốc chết khô, buồn dữ lắm. Bởi má con gắn bó với năn tượng gần mười năm, tức là bằng nửa tuổi đời của má lúc đó. Với nhiều người, nếu gặp cảnh này có khi mừng vì khỏi phải tốn công sức chặt bỏ để cấy lúa, má con thì buồn bởi không còn nguyên liệu đương đồ bán nữa. Mỗi lần có người kêu cho cắt năn là má con mừng như lụm được vàng. Từ khi tía nghe lời má con vừa cấy lúa vừa trồng năn mới dành dụm tiền trả nợ nuôi tôm cho chú Tám, mà phải mấy năm lận. Cũng nhờ nó đi chợ đi búa nuôi con ăn học tới nơi tới chốn”. Lời tía như mở cờ trong bụng, chị nói liền: “Thì đó. Con thấy trên Cần Thơ có nhiều chỗ bán nón, giỏ xách hoặc sản phẩm trang trí được đương từ lục bình, năn tượng nên tìm hiểu biết khách hàng ưa chuộng lắm; nhất là người nước ngoài vì nó dai, chắc, lại thân thiện với môi trường. Xứ mình quá nhiều mà bỏ thì uổng. Con tính mở cơ sở nho nhỏ chuyên thu mua năn tượng phơi khô, với tay nghề của má sẽ hướng dẫn bà con nhàn rỗi đương sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Nếu hàng mình tốt thì không chỉ bán ở quê hay trong tỉnh mà còn có thể xuất khẩu nữa đó tía. Mai mốt thằng Tượng vô được đại học chuyên ngành thiết kế đồ họa, nó về sẽ tạo mẫu mã bắt mắt hơn, biết đâu hàng mình nổi như cồn luôn”. Bà Hai nghe chừng hiểu chuyện, cất lời: “Hồi cháu mới đi học, không ít người xì xào nói cháu lên thành phố học rồi ở trển luôn, dễ gì chịu về đất mặn đồng phèn này. Ai dè cháu trở về còn đem theo nhiều cách kiếm tiền như vậy. Ở đây, người lớn tuổi như bà, như má cháu mà rảnh tay rảnh chân buồn lắm, giờ có chuyện mần mà thêm tiền nữa thì còn gì bằng”.

Xe đã qua cầu, tài xế kêu mọi người lên xe để kịp về nhập tiệc. Từ đây tới nhà khoảng chục cây số nữa. Chặng đường ngắn nhưng tráng xi-măng rồi nên chạy êm ru. Cũng trên con đường này, hồi chị đi học chỉ là lối mòn, sình lầy nhưng đã vượt thì hà cớ gì những gian truân sau này làm chùn bước chị cho được. Tôi nhìn tay chị mân mê cọng năn tượng đã tước giữa chừng, mắt mơ màng ngó đồng năn xanh ngát đang lùi dần phía sau. Tôi dặn lòng sẽ cố gắng sang năm thi đậu đại học như chị để đồng đất mặn ngọt này có thêm những bàn chân quay về cắm rễ, nảy mầm./

H.K.G