
Chợ “Năm nghìn” cuối tháng Ba vẫn đông như mọi bận. Mùi rượu ngô thơm nồng, mùi măng ủ chua, hạt dổi nướng, mùi khói lá bồ hòn lẫn vào tiếng nói cười rộn rã của bà con các bản đổ về. Những chiếc váy sặc sỡ đung đưa theo bước chân thiếu nữ người Mường, Dao, Mông làm cả chợ như một tấm thổ cẩm sống. Gió rừng từ dãy Hoàng Liên phả về làm những tà áo tung bay, se lạnh, nhưng trai bản vẫn cởi trần, vai choàng khăn, tụm năm tụm bảy bên quán rượu ven suối.
Lềnh cũng đang ngồi trong một nhóm như thế, giữa tiếng cụng bát chan chát và tiếng gọi nhau “dzô” ầm ĩ. Hôm nay là buổi tụ tập đám bạn cũ, cái lũ học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trường liên xã. Đứa thì đã bỏ học đi làm rẫy, đứa xuống xuôi làm công nhân, đứa lấy vợ sớm, đứa theo đoàn đi bóc quế thuê. Uống mấy bát rượu ngô, cái gì đó lặng lẽ dâng lên trong cổ họng Lềnh cay và nghẹn.
Tầm chạng vạng, Lềnh đứng dậy, xách túi đồ lảo đảo bước về phía con đường mòn men theo suối. Túi nặng, đầu choáng, chân nó đá phải cả cục đá to mà vẫn không hay. Gió ngược từ dòng suối Hua thốc lên, lạnh buốt dọc sống lưng. Đường về bản Bu Cao còn gần ba cây số nữa, quanh co, gập ghềnh toàn đá núi và đất đỏ trơn nhẫy.
Trong đầu nó bỗng hiện lên một hình ảnh quen thuộc: ánh đèn dầu hắt ra từ bếp gian trái, cái dáng thấp thoáng khom lưng bên bếp lửa. Nó không rõ mình đang nhớ hay đang sợ. Mỗi lần đi chơi về muộn, dù mẹ nó chẳng nói câu nào, thì chị Tra người chị cả hơn nó tám tuổi sẽ đứng ngay cửa bếp, im lặng, mắt nhìn thẳng, cây gậy trúc dựng bên vách như lời cảnh cáo không cần tiếng.
Từ ngày bố mất vì bị đá lở ở khe Làng Hua khi đi lấy gỗ, trong nhà chỉ còn ba người: mẹ Lềnh bệnh nằm liệt, chị cả làm lụng sớm khuya, và nó một thằng con trai mười sáu tuổi nổi tiếng nghịch của bản. Có lần, nó nghe bạn bảo “Chị mày như bà già trong nhà đấy!”. Nó cười phá lên, nhưng lòng thì chẳng vui.
Tối nay, như bao lần, ánh đèn dầu trong gian bếp gỗ nứa vẫn sáng. Thứ ánh sáng vàng vọt ấy từ nhỏ đã theo nó lớn lên, lúc thì ấm lòng, lúc thì lạnh gáy. Nó rón rén đặt túi xuống hiên, cố bước nhẹ trên ván. Gỗ cũ kêu lên “cót két” như thể tố cáo nó. Mùi rượu từ hơi thở phả ra nồng nặc không cách nào giấu được.
Lềnh đứng im chừng mấy nhịp thở. Gian bếp gỗ ám đen màu khói quen thuộc đến từng vết nứt nhỏ trên vách, đến cả tiếng tí tách từ thanh củi ướt cháy dở, nhưng nó vẫn thấy là lạ. Cái im lặng ấy khiến lòng nó nổi gai.
Chị Tra quay lại nhìn nó, không quát, không nặng lời, chỉ là một ánh nhìn khản đặc khói bếp, nhưng cũng đủ làm chân nó chùn bước. Dưới ánh lửa bập bùng, mắt chị sâu và thâm quầng. Tóc chị búi lệch, vài sợi bạc cứng vểnh lên sau vành tai, khuôn mặt sạm lại vì sương gió. Nhìn chị thế, Lềnh thấy có gì đó nghẹn nghẹn nơi cổ họng.
Chị hỏi, giọng trầm trầm:
– Mày đi đâu đến giờ này mới về?
Lềnh cúi mặt, đáp lơ lửng:
– Em đi sinh nhật bạn… về muộn vì thủng lốp xe.
Câu nói nghe đến là vụng. Cả bản Bu Cao có mấy đứa đi xe máy đâu. Lềnh cũng chỉ có cái xe đạp cũ bố nó để lại. Nhưng nó quen chối, quen nói dối như cái thói cũ khi bị phát hiện trốn học, trốn làm bờ ruộng.
Chị nó không trả lời ngay, chỉ cười nhạt:
– Ừ, lốp thủng chứ gì. Nhưng chắc là thủng cái bụng thì có!
Lềnh bực. Mùi rượu ngấm dần khiến nó nóng mặt. Nó nhìn về phía mẹ, rồi quay sang chị, gằn giọng: “Bà là cái gì mà suốt ngày quản tôi? Tôi đi đâu là việc của tôi!”
Chị nó không biến sắc. Chị gắp củi sang một bên, rũ nhẹ váy rồi đứng dậy. Giọng đều đều: “ Ừ…Tao không là gì cả. Chỉ là cái đứa bỏ học từ lớp 8 để ở nhà bón cơm, giặt áo, cuốc nương, lo thuốc cho mẹ mày. Còn mày thì… mày đi chơi.”
Câu nói rơi xuống nền đất như đá đập thẳng vào mặt nó. Lềnh cứng họng. Nó nhớ rõ năm ấy khi mẹ đổ bệnh sau một lần ngất giữa chợ, chị Tra chạy bộ mấy cây số đưa mẹ đi trạm. Hôm đó, chị còn đang học lớp 8. Thầy cô đến tận nhà vận động cũng không lay chuyển được ý chị. Chị nghỉ học thật. Rồi người ta thấy chị đi vác gỗ thuê, đi bóc quế,… đào măng, gùi bó củi dài gần bằng thân người xuống chợ bán.
Từ tiền học, tiền mua vở, quần áo mặc tết, đến từng gói mì tôm, những viên thuốc nó ốm đều từ tay chị.
Vậy mà nó thằng em út mười sáu tuổi vẫn thấy chị phiền. Nó ghét cái kiểu chị soi từng cái quần chưa gấp, cái bát chưa rửa. Ghét những lời rầy la kiểu: “Học hành không lo, sau này chỉ có ra rừng mà đào măng ăn thôi”. Có hôm đi học về, đói, mở nồi cơm không thấy gì, nó tức giận đạp cả cái bàn gỗ đóng bằng mấy miếng bắp người đi rừng bỏ lại, làm chị vừa nhóm lửa vừa lặng thinh dọn lại. Có bận nó ném cả bát ra sân, hét toáng lên: “Bà ra khỏi nhà này thì tôi mới thấy dễ thở!”
Chị vẫn không nói. Chị chỉ ngồi se lanh bên bếp, mồ hôi nhỏ xuống ngực áo. Cái dáng gầy gò ấy, tóc xõa, mắt trũng sâu vì thức đêm, nó thấy đấy mà chẳng mảy may động lòng.
Nó từng tự hào vì mình là con trai, là trụ cột sau này. Nhưng suốt những năm dài, chỉ có chị nó là người giữ lửa cho căn nhà bé xíu nằm bên bìa rừng.
Đêm nay, ánh nhìn ấy, ánh nhìn trong gian bếp cũ ấy lại khiến nó như bị lột trần. Lềnh ngồi trên phản gỗ, mặt cúi gằm. Bên bếp, chị Tra đã quay đi, tiếp tục nhóm lửa. Đống củi trong bếp cháy lách tách, hắt ánh sáng lên gò má rám nắng và mớ tóc rối bên tai chị. Căn bếp lại rơi vào im lặng.
Từ vị trí ấy, Lềnh nhìn sang tấm chăn dày nơi mẹ nằm, tấm chăn cũ do tay chính chị se lanh năm nào, rồi chị khâu, chị thêu, vẽ sáp. Nhuộm trong nồi bằng củ nâu rồi phơi qua ba đợt sương sớm. Mẹ nó bây giờ chỉ còn da bọc xương, xương gò má nhô cao, mắt trũng sâu. Tiếng thở khò khè hòa với tiếng gió rừng qua mái liếp nghe rờn rợn.
Hồi mẹ khỏe, bà hay đi bán hàng rong dọc chợ Năm nghìn khi thì gùi măng, lúc bán hạt thảo quả, lúc lại nhận nhuộm vải cho người dưới bản Bu Thấp đổi lấy ít gạo. Nhưng sau lần đổ quỵ ở dưới chợ, bà trở bệnh. Người run rẩy, sốt mê man. Chị Tra khi ấy đang học lớp 8 cắm đầu chạy bộ từ bản ra trạm y tế xã, cách hơn năm cây số đường núi, giữa mưa rừng trút trắng trời.
Chị về tới nhà, mặt xanh bủng, chân bê bết bùn, quần rách gối. Lúc ấy, Lềnh còn nhỏ, chỉ biết đứng khóc, còn chị thì bế mẹ lên lưng, gọi người cõng xuống trạm xá. Sau hôm đó, chị nghỉ học luôn. Không một lời than vãn, không nước mắt, chỉ có sự im lặng buốt giá.
Từ đó, mọi người không còn thấy chị cắp sách đến trường. Người dân bản quen với hình ảnh một thiếu nữ gùi bó củi to gần bằng thân người đi qua lưng núi. Hết mùa quế, chị nhận hái ngô thuê. Hết vụ ngô, chị vào rừng tìm mộc nhĩ, hái măng, hái lá thuốc. Lúc rảnh thì ngồi se lanh, dệt khăn thổ cẩm, chắt từng đồng lo thuốc cho mẹ và đóng học cho em.
Có đêm rét căm căm, chị thức trắng nấu nước lá cho mẹ xông thuốc rồi tắm. Có hôm, chị nhịn ăn để dành cháo cho Lềnh khi ấy đang sốt nằm mê man. Có buổi chiều trời đổ giông, sấm sét ầm ầm, chị vẫn đi mót sắn sau nương, về đến nhà ướt như chuột lột, tay tím ngắt vì lạnh, vậy mà còn cười: “Mót được gần đầy gùi, mai nấu cháo với bí cho mẹ ăn đỡ ngán.”
Hồi đó, nó vẫn thường cáu gắt khi bị bắt giặt quần áo, rửa nồi. Có hôm nó cáu: “Bà tưởng bà là ai mà sai tôi như chủ sai trâu thế?”
Chị không đáp. Chị chỉ đổ nước lá mác khén vào chậu, lấy khăn ngâm cho mẹ lau lưng, tay vẫn lật đật nhóm bếp bằng vài mẩu than còn lại.
Lềnh nhớ cả lần chị lặn suối Hua mò cá, chỉ vì nó đòi ăn cá suối nướng như đám bạn. Lúc lên bờ, môi chị tái xanh, người run lập cập, nhưng tay vẫn nắm chặt mấy con cá nhỏ, ánh mắt ánh lên như thắng trận.
Mùa đông năm ấy đến sớm, lạnh cắt da cắt thịt. Những đám sương giăng như khói phủ trắng khắp rừng. Trời mưa dai dẳng suốt cả tuần, suối dâng cao, đất mềm như bột, người bản Bu Cao chẳng ai dám ra khỏi nhà vì sợ rét.
Rồi mẹ mất. Bà ra đi vào một buổi chiều âm u, khi mưa chưa dứt hạt, tiếng gió rít xuyên qua vách nứa nghe như tiếng than ai oán. Không đau đớn, không oán thán, mẹ chỉ thở một hơi dài rồi từ từ buông tay chị. Gương mặt bà khi ấy yên bình đến lạ, như thể đã chờ được phút giây này từ lâu.
Chị Tra vẫn ngồi đó, tay siết lấy tay mẹ, mắt trân trân nhìn về phía núi. Không khóc. Không gào. Chị chỉ cúi xuống, rút chiếc khăn tay thêu thổ cẩm, lau vầng trán lạnh dần của mẹ.
Tin mẹ mất lan nhanh khắp bản. Bà con trong xóm kéo đến, người góp bó củi, người cho nắm gạo, người giúp dựng rạp tang giữa sân. Mưa chưa ngừng, đất nhão nhoét, bàn chân người qua lại in đầy dấu trên nền sân nhà lầy lội.
Lềnh không biết mình đã làm gì. Mọi thứ diễn ra như mơ. Nó đứng giữa đám đông mà cảm giác như bị đẩy trôi. Không nghe rõ ai nói gì, không nhớ nổi ai đến viếng. Chỉ thấy mình lọt thỏm trong dòng người, trong tiếng trống đều đều và làn khói hương cay xè.
Chị nó quấn khăn tang từ sớm, chiếc khăn trắng toát nổi bật giữa gian nhà ám khói. Chị đi lại nhẹ như gió, không một lời thở than, không một giọt nước mắt. Chị là người đứng ra đón khách, lạy tạ, lo từng nồi cơm, từng bát nước. Có bà cụ đầu bản thở dài, bảo nhỏ với hàng xóm: “Cái con Tra ấy, nó không khóc mà làm người ta đau hơn cả khóc…”
Đến lượt mình thắp hương cho mẹ, Lềnh run tay. Cây hương rớt xuống, đổ ngang lên tấm vải phủ thi thể. Nó cúi vội nhặt lại, tay chạm phải mép chiếu ẩm ướt lạnh ngắt. Một luồng khí lạnh xuyên thấu từ tay lên tận tim. Nước mắt bỗng ứa ra. Nhưng không phải khóc vì mất mát. Mà vì hối hận.
Nó nhớ ngày bé, mẹ hay chải tóc cho chị bằng chiếc lược cũ. Chị hay ngồi bên cửa sổ hong nắng, tay thêu khăn, miệng hát khẽ. Mẹ hay nói: “Tra nó thông minh, mà thương em, sau này làm cô giáo cũng được.”
Rồi mẹ đổ bệnh, chị nghỉ học. Rồi năm này sang năm khác, chị âm thầm ở lại, gánh vác hết cả phần đời của người chủ gia đình. Vậy mà nó, thằng em mười sáu tuổi chỉ biết ăn no, ngủ kỹ bao lần dằn vặt chị, chửi bới chị, oán trách chị vì dám… thương nó nhiều quá.
Trưa hôm đó, trời bất ngờ ngớt mưa. Đám tang diễn ra lặng lẽ dưới rừng mây xám bạc. Chị Tra đi đầu đoàn, tay ôm di ảnh mẹ. Mắt chị ráo hoảnh. Vai thẳng, bước vững. Nhưng ai nhìn cũng thấy cái dáng ấy cái dáng lom khom, gầy gò giữa biển người ấy như thân cây mục đã chực đổ từ lâu.
Ngày ấy, nó chẳng hiểu gì. Nó nghĩ mình là em út, là con trai, là người “sẽ gánh vác mai sau”. Nhưng cái gánh thật sự, bao năm nay, chính là trên đôi vai người chị gầy gò ấy.
Sau đám tang của mẹ, căn nhà ba gian nằm nép dưới chân dốc bản Bu Cao càng lặng lẽ. Đêm xuống nhanh, gió thổi hun hút qua rừng tre bên suối Hua. Gian bếp vẫn đỏ lửa mỗi chiều, nồi cơm vẫn dẻo, canh rau vẫn thơm mùi lá rừng. Nhưng chẳng còn ai rầy la nếu nó ngủ dậy muộn, chẳng ai mắng khi nó quăng quật đôi dép dính bùn vào góc nhà.
Chị nó trở nên ít nói. Đi làm từ sớm, về muộn, ít nhìn nó, càng không chạm vào những chuyện cũ. Lềnh thì lầm lì, nó vẫn đi học, vẫn tụ tập bạn bè, nhưng mỗi lần thấy bóng chị lom khom gùi bó củi sau lưng, áo vá ở vai, tay nắm sợi thừng dắt con trâu mượn của nhà bác đi cày ruộng, trong lòng nó lại có gì đó nhoi nhói như kim cứa.
Một hôm, Lềnh đang bắc nồi cơm thì nghe bà ngoại từ nhà bên sang nói nhỏ với chị: “Bên bản Khuổi Trang có người tới dạm rồi đấy. Trai Mông đàng hoàng, giỏi nghề đi gỗ, bố mẹ làm nương có của. Nó chịu được là tốt lắm rồi cháu ạ.”
Bà ngoại nói xong, im lặng một lúc lâu. Ngoài sân, gió thổi qua rặng tre, lá va vào nhau xào xạc. Trong bếp, chị Tra vẫn cúi đầu vá lại cái áo cũ, mũi kim đi đều, chậm, như đếm từng nhịp thở. Rồi chị nói, rất khẽ. Khẽ đến mức Lềnh đứng sau vách nứa phải nín thở mới nghe được: “Nếu… nếu cháu không lấy chồng thì sao hả bà?”
Bà ngoại thở dài, không nhìn chị:
– Con gái không chồng thì ở với ai? Ở với em mãi được à? Người bản lại nói “cô độc”…
Chị Tra im lặng. Mũi kim chợt chệch, đâm vào tay. Một giọt máu thấm ra, đỏ sẫm trên nền vải lanh đã bạc. Chị nhìn nó một lúc lâu, rồi đưa tay lên miệng mút nhẹ, lau đi.
– Cháu cũng biết thế!… chị nói, giọng đều đều: “Cháu chỉ nghĩ… nếu ngày trước cháu được đi học tiếp, thì có lẽ… đời cháu đã khác.”
Câu nói rơi xuống gian bếp, nhẹ tênh, nhưng Lềnh thấy ngực mình thắt lại.
Bà ngoại không đáp. Chỉ thở dài thêm một tiếng nữa, nặng như kéo cả tuổi già xuống nền đất.
Chị Tra cúi đầu thêu tiếp. Kim lại lên xuống đầu đều. Nhưng từ lúc ấy, vai chị hơi run. Rất khẽ. Nếu không để ý kỹ, chẳng ai nhận ra.
Lềnh đứng sau vách, tim nó khựng lại. Không hiểu sao ý nghĩ: “chị đi lấy chồng” làm nó choáng. Nó giả vờ không nghe, giả vờ thản nhiên, nhưng lòng rối như tơ vò.
Mấy hôm sau, nó thấy chị ngồi trước hiên, xếp lại mấy bộ váy lanh cũ. Trong đó có cái váy mẹ nó từng cất kỹ loại lanh dệt tay, vẽ sáp ong, nhuộm chàm đến bảy nước, chỉ dành cho con gái trong nhà mặc ngày cưới. Váy ấy là của mẹ để lại cho chị, giờ chị lôi ra, hong khói, chải lại từng nếp gấp.
Lềnh nhìn mà không dám hỏi.
Sáng sớm, trời Bu Cao hửng nắng nhẹ. Mây trắng bay ngang đỉnh núi Hua, chim hót lích rích trên rừng. Nhà có khách đến từ bản Làng Hua, áo mới khăn đẹp, người cưỡi ngựa, người cầm khèn. Cả bản rộn ràng, trẻ con chạy khắp sân, người lớn mổ lợn, bắc chõ xôi nếp nương.
Lềnh trốn biệt trong bếp. Nó không muốn nhìn, không muốn nghe tiếng khèn gọi dâu, càng không muốn thấy chị trong váy lanh xòe rộng, đầu đội mũ hoa, má ửng hồng vì ngượng. Nhưng khi tiếng khèn réo rắt vang lên: “Nhà trai đến rồi đấy!” nó bỗng thấy nghèn nghẹn.
Chị Tra bước ra hiên, lưng thẳng, chân bước chậm. Váy lanh đung đưa theo gió, cổ đeo vòng giả bạc mẹ để lại, tóc vấn gọn cài trâm đồng. Lềnh nhìn chị mà tưởng như một người khác, Người đàn bà trưởng thành, mạnh mẽ, bình thản rời khỏi căn nhà của tuổi thơ, của cả những tháng ngày lam lũ. Chị bước ra sân, cúi đầu chào bà con rồi trèo lên lưng ngựa. Chú rể người Mông bản tận bản cao Làng Hua đưa tay đỡ. Ngựa giật mình hí vang chuẩn bị đi về phía con đường lên dốc.
Lềnh lúc ấy mới từ bếp chạy ra, mắt ráo hoảnh. Nó chẳng nói gì, chỉ ùa đến níu lấy vạt váy lanh của chị, cái vạt váy mẹ từng nâng niu giấu kỹ giờ nằm trong tay nó, mỏng manh như cả một tuổi thơ sắp mất.
Chị cúi xuống, tay vuốt má nó, giọng run run: “Ở nhà phải ngoan, nhớ ăn cơm, đừng bỏ học nữa. Đừng uống rượu,… nghe không?”
Lềnh gật, nó không thể nói. Chỉ biết dúi đầu vào váy chị. Mùi váy chị thơm như lá gừng, như khói bếp, như những mùa đông xưa cũ.
Ngựa đi xa dần. Váy lanh phất trong nắng như vẫy tay chào tạm biệt. Căn nhà chỉ còn lại bóng bà ngoại chống gậy ngồi thở dài, và thằng con trai đang úp mặt vào ngực áo cũ, để che đi tiếng nấc.
Đêm đầu tiên chị đi rồi, trời Bu Cao trở rét. Gió từ đỉnh Làng Hua thổi xuống từng cơn hun hút, sương lạnh luồn qua từng khe mái nứa, bò sát mặt đất như một thứ gì đó không tên, không hình, nhưng buốt đến tận xương. Trong nhà trống hoác. Phản gỗ chỉ còn một người nằm nghiêng, quay mặt vào vách gỗ. Không chăn. Không lời. Không tiếng bước chân quen thuộc khẽ khàng đi qua gian bếp mỗi đêm.
Lềnh trở mình liên tục. Cái lạ không phải vì từ nay không còn ai rầy la khi nó quăng dép lấm bùn vào góc nhà, không còn ai nhắc ăn cơm đúng bữa, không còn ai mắng khi nó ngủ dậy muộn. Mà là vì không còn ai giữ cho căn nhà có tiếng người. Nó ngồi bật dậy. Gian bếp bên tối om. Bếp nguội tanh. Không mùi khói, không tiếng củi nổ lách tách, không hơi ấm quẩn quanh như suốt bao năm. Mấy hòn than sót lại từ sáng đã tắt ngấm, xám ngoét như tro nguội trong lòng nó. Lềnh cúi xuống, lần đầu tiên tự nhóm bếp. Tay run run, lóng ngóng. Giấy bén lửa rồi tắt. Than đỏ lên một chốc rồi lụi. Nó cúi sát mặt vào bếp, thổi, cay xè mắt. Lửa lại bén, mỏng manh, yếu ớt. Nó nhóm được bếp. Nhưng gian nhà vẫn lạnh.
Nó quay vào, tự tay giặt áo. Nước khe rừng lạnh buốt làm các ngón tay tê dại. Nó vò từng vết bẩn quen thuộc mà trước đây chỉ thấy sạch khi treo lên dây. Mùi nước lá từ nắm lá chị phơi trên gác gỗ vẫn còn đó mùi xả, và một thứ mùi rất khẽ, như mùi bàn tay đã quen chăm sóc người khác hơn chính mình. Cơm cạn. Cháy cạnh. Nó vẫn ăn. Cơm mặn chát.
Đêm ấy, Lềnh không ngủ. Nó nằm nghiêng, nhìn vào khoảng tối nơi gian bếp. Nó nhớ mùa đông năm nào chị cõng nó qua khe nước đến trường, nhớ những đêm sốt cao chị ngồi tựa vách quạt cho nó từng hơi, nhớ cả những lần chị mắng mà giờ nghĩ lại, toàn là mắng thay cho thương.
Chưa bao giờ nó thấy mình cô độc đến thế. Và cũng chưa bao giờ nó hiểu rõ đến thế rằng: “Chị không chỉ là chị. Chị là người mẹ thứ hai. Là người giữ lửa. Là người đã gánh thay nó cả một quãng đời.”
Lềnh đứng dậy, bước tới góc bếp, lấy chiếc váy lanh mẹ để lại cái váy chị vừa gấp hôm trước. Vải vẫn vương mùi khói bếp. Nó gấp lại cẩn thận, đặt lên kệ bếp, ngay cạnh nồi cơm, như một cách giữ lấy chút ấm cũ mà nó chưa từng biết quý. Rồi nó quay lại bếp, kiên nhẫn nhóm lửa thêm lần nữa. Than đỏ dần. Lửa bén. Ánh lửa lập lòe hắt lên vách nứa cũ, soi rõ những vết nứt chằng chịt đã có từ rất lâu những vết nứt mà bao năm nay, chị Tra vẫn lặng lẽ che chắn bằng chính thân mình. Lửa cháy lên. Nhưng căn nhà vẫn lạnh. Ngoài trời, mưa bụi trở lại, bay qua song cửa. Lềnh kéo tấm chăn chị để lại, nằm nghiêng, hướng mặt về gian bếp. Nó nhìn ngọn lửa nhỏ đang cháy, và lần đầu tiên hiểu ra một điều mà không ai dạy nó bao giờ:
“Có những người sinh ra chỉ để giữ ấm cho người khác. Và khi họ rời đi, không có ngọn lửa nào đủ thay thế.”


Bài viết liên quan: