Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo, một cuốn sách hay của Ma Văn Kháng

Nhà văn, dẫu là những tài năng lớn, trước hết cũng là một con người nhưng đâu là cái tư chất riêng của nhà văn so với những người làm những ngành nghề khác? Nghề văn cũng là một nghề như trăm nghìn nghề nghiệp khác nhưng đâu là cái đặc thù của cái nghề “Ai bảo mắc duyên vào bút mực/ Sống đời mang lấy số long đong” (Nguyễn Bính – Xuân tha hương) này? Quá trình sáng tạo của một nhà văn diễn ra như thế nào, có thể tường minh được không hay còn có những góc khuất, những bí ẩn, những điều huyền diệu như là những thứ bất khả tri. Nhiều nhà lý luận văn học và cũng không ít nhà văn nổi tiếng đã viết về vấn đề này, và người đọc vẫn còn mong chờ, vẫn khao khát được đọc tiếp những công trình như thế. Vui mừng thay, cuốn sách Phút giây huyền diệunhà văn và quá trình sáng tạo, tập tiểu luận và bút kí về nghề văn của nhà văn Ma Văn Kháng do Nhà xuất bản Đại học Sư phạm vừa ấn hành năm 2025, đã đem đến cho bạn đọc những điều họ đang mong chờ, trong đó, có những bài đã chạm được đến vấn đề cốt lõi cuả lý luận văn học, về nhà văn và quá trình sáng tạo.

GS,TS Trần Đăng Suyền.

Ma Văn Kháng được đọc giả biết đến như một nhà tiểu thuyết lực lưỡng và tài năng, một cây bút truyện ngắn tài hoa của nền văn học Việt Nam đương đại. Nhưng như một quy luật, những cây bút tầm cỡ như Ma Văn Kháng không chỉ sáng tạo những tác phẩm văn chương mà còn muốnn từ những kinh nghiệm sáng tác của mình, từ sự chiêm nghiệm, trải nghiệm những thăng trầm, thành bại của ngòi bút mình, đồng thời luôn có ý thức quan sát những cây bút gần gũi thân thiết với mình để đúc rút, sẻ chia công việc bếp núc của nhà văn, để chạm được vào những gì là bí ẩn của nghề nghiệp, của chân lý nghệ thuật. Thế là, từ năm 2012, khi in bài Khát vọng về một cái đẹp trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội (tháng 2/2012), một bài viết hay được nhiều người tìm đọc, được những bạn văn thân thiết nồng nhiệt cổ vũ, Ma Văn Kháng say mê viết và lần lượt công bố những bài viết của mình trên tuần báo Văn nghệ dưới tiểu mục: Nhà văn – Nghề văn. “Hiếm khi bài viết của tôi lại được hưởng ân ưu xuất hiện liên tục, dày đặc như thế trên tờ báo của Hội. Chúng tạo nên một ấn tượng với bạn đọc!”[1]. Ma Văn Kháng viết tiếp: “Khởi đầu là một ngẫu sự. Tiếp đó, giờ thì tôi hiểu, những tiếng vỗ tay cổ vũ kịp thời và ưu ái của bạn bè là quan trọng đến nhường nào. Bạn đồng nghiệp, tấm gương soi để ta nhận ra” (tr.7). “Có cảm giác bằng 12 bài viết một cách ngẫu hứng này, tôi có tạo được sự hấp dẫn với các nhà văn và bạn đọc; trước hết có lẽ là do nội dung của chúng có tính tổng hợp về những vấn đề căn cốt quan thiết đến sự nghiệp của một nhà văn và ở từng nội dung, trên cơ sở tiếp thu những chân lý đã được thừa nhận, tôi có đóng góp những ý kiến có thể có chút mới mẻ gì đó bằng chính những gì tôi đã trải nghiệm trong quá trình thực sự đắm mình vào công việc bếp núc của nhà văn. Những ý kiến đóng góp có thể có chút mới mẻ gì đó không phải là do tôi thông minh, sâu sắc. Mà là do bây giờ thế hệ tôi mới có điều kiện, hoàn cảnh khách quan, trong đó quan trọng là sự cởi mở và tự do cá nhân, để nói, để bày tỏ, để trình bày những suy nghĩ của riêng mình” (tr.10). Chùm bài tiểu luận và bút ký của  Ma Văn Kháng (trong đó có bài nổi tiếng “Phút giây huyền diệu”) in trên tuần báo Văn nghệ năm 2012 đã được trao Tặng thưởng của Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương (loại A) năm 2012. Và khi tập tiểu luận và bút kí về nghề văn Phút giây huyền diệu được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2013, tác phẩm đã được tặng Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2013.

 

Lần này, tập sách Phút giây huyền diệu còn có thêm phụ đề nhà văn và quá trình sáng taọ đã được Ma Văn Kháng tinh tuyển, sửa chữa và bổ sung một số bài mới. Ma Văn Kháng có lần tâm sự với người viết bài này: “Viết cuốn sách này, ông muốn gửi gắm cái ý tưởng, thực ra mỗi nhà văn có một con đường vào nghề riêng không ai giống ai. Có người vào nghề nhẹ tênh tênh, viết một cái là thành văn ngay. Có người cặm cụi lấp láp như anh đào giếng tháng tháng ngày tìm mãi mới được mạch nguồn. Có người nhẹ bước đằng Vân vì năng khiếu trời cho. Có người như ông Giả Bình Ao mỗi quyển sách như bê một tảng đá leo lên từng bậc một… Cái nghề văn không ai cầm tay chỉ việc cho ai được. Nhưng có lẽ những gì viết ra ở cuốn sách này là một quá trình trải nghiệm của cá nhân mình cùng những gì của một thế hệ gần gũi cố gắng khái quát hóa như là bài học cho chính họ thôi”. Có thể ý định chủ quan của nhà văn là vậy. Song cái ý nghĩa khách quan của tập tiểu luận và bút kí về nghề văn này lại vượt xa cái ý định khiêm nhường của ông. Với 13 bài viết, Ma Văn Kháng dường như đã bao quát, đã chạm được vào nhiều khâu, nhiều phương diện lí luận về nhà văn và quá trình sáng tạo.

Nhà văn, anh là ai? Đây có thể là câu hỏi đầu tiên về nhà văn và nghề văn. Ma Văn Kháng viết: “Nhà văn! Anh là ai và từ đâu đến? Có khi nào anh nghĩ, mình là một nhân vật xa lạ và sự xuất hiện của anh là một ngẫu sự, một bất ngờ với thế gian này? Có thể là anh không nghĩ. Nhưng mà quả thật là có chuyện ấy. Trần Đăng Khoa đó. Tám tuổi với những bài thơ đầu tiên, nhà thơ tí hon này đã gây sửng sốt với ngay cả ông anh trai gần cận của mình, nhà thơ Trần Nhuận Minh” (tr.130). Ma Văn Kháng có dẫn lại lời nhà thơ Phạm Tiến Duật, trước cảnh đồng nghiệp và bạn đọc đông đúc tiễn đưa nhà thơ lớn Xuân Diệu về cõi vĩnh hằng, cảm động và bâng khuâng nói với ông: “Rất có thể là từ một cơn ngẫu hứng tài tình của non sông đất nước mà trên thế gian này đã có mặt bọn nhà văn, nhà thơ chúng ta đấy, Ma Văn Kháng à!” (tr.130). Cái tiểu sử cá nhân không thể lí giải đầy đủ và hoàn toàn thuyết phục sự xuất hiện của một nhà văn/ nhà thơ. Ma Văn Kháng, do đọc và hiểu sâu sắc, do trải nghiệm, chiêm nghiệm, đã giác ngộ một chân lý “cái gọi là sáng tạo vốn chỉ phẩm chất dành riêng cho nhà văn và các nghệ sĩ nói chung thôi”; những thiên tài ở lĩnh vực khác “chỉ làm công việc phát hiện, còn như Beethoven, Nguyễn Du thì không thế, họ chỉ xuất hiện nhờ cái ngẫu hứng may mắn của lịch sử, họ làm công việc sáng tạo”; “Nhà văn, kẻ sáng tạo ra cái chưa hề có trong hiện thực!”  (tr.131).

Ma Văn Kháng trong tiểu luận Bí thuật của  nghề nghiệp, có bàn đến cái tố chất bẩm sinh nhìn bề ngoài của của nghề nghiệp: “Người muốn là xạ thụ bắn súng, cần có bàn tay to, ngón tay dài. Lực sĩ cử tạ chân thường ngắn, lưng thường dài. Tất nhiên cẩu thủ bóng chuyền, bóng rổ dứt khoát là phải có chiều cao vượt trội. Đó là cái tố chất nhìn bề ngoài của các nghề nghiệp”  (tr.163).

Thế còn cái tố chất bên trong ? Với tư cách là chủ thể thẩm mĩ, là người sáng tạo cái đẹp, nhà văn tất nhiên phải có tư chất nghệ sĩ đặc biệt. Cái tư chất nghệ sĩ điển hình nhất ở nhà văn là giàu tình cảm, dễ xúc động và nhất mực nhạy cảm. Đã là nhà văn thì phải có năng khiếu nghệ thuật, nếu không có cái chút năng khiếu bẩm sinh, “trời cho” này thì có lao động khổ hạnh đến đâu cũng không thể thành tài năng được.

Nhà văn còn là những người có năng khiếu quan sát tinh tế, có trí tượng tượng phong phú, mãnh liệt. Những tư chất nghệ sĩ nói trên ít nhiều đều có ở tất cả mọi người làm những ngành nghề khác, lĩnh vực khác, nhưng ở nhà văn, nhà nghệ sĩ những tư chất đó được biểu hiện tập trung, sâu đậm hơn và phát triển mạnh mẽ hơn. Những yêu, ghét, vui, buồn, những nỗi đau, tình thương hay niềm căm phẫn,… ở những nhà văn, những nghệ sĩ đích thực đều được đẩy lên đến độ mãnh liệt, đến mức tột cùng. Như đại văn hào Lỗ Tấn nhận xét: “Gặp những cái gì hay và đáng yêu thì họ ôm choàng lấy, nếu gặp điều trái đáng giận thì họ sẽ bác bỏ… Phải kịch liệt công kích cái sai như đã từng nhiệt liệt chủ trương cái đúng. Ôm chặt người yêu thế nào thì phải nghiến chặt kẻ thù như thế, như Écquyn nghiến chặt người khổng lồ Ăngtê, anh ta nhất định làm đứt xương gân kẻ thù mới thôi”. Gặp những cảnh đời cùng quẫn, bi thương, những ngang trái, bất công, người đời có thể thây kệ, mũ ni che tai nhưng những nhà văn, những nghệ sĩ chân chính xưa nay không thể dửng dưng. Ngạn ngữ Nga có câu: Số phận của con người, ấy là tính cách của anh ta. Cũng có thể nói thêm: Nghề nghiệp của mỗi người, ấy là tính cách, thân phận của anh ta. Xưa nay, những nhà văn, những nghệ sĩ đích thực thường là những người “cô đơn”, xa lạ với thế giới xung quanh, có cá tính mạnh bạo, thậm chí có những nét lập dị khác với người thường.

Có tư chất nghệ sĩ, có chút năng khiếu “trời cho” nhưng cũng không phải chỉ có vậy mà đã trở thành nhà văn tài năng được. Với Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo, Ma Văn Kháng bằng kinh nghiệm của mình và của những nhà văn gần gũi, thân thiết với ông, cho ta thêm những chứng cứ không thể nào chối cãi được, khẳng định sâu sắc rằng: muốn trở thành một cây bút tài năng thì phải sống chết với nghề, phải lao động, lao động hết mình, lao động suốt đời. Nghề văn là một nghề “cần học hỏi suốt đời. Học nghề mê mải, không biết mệt, nếu anh ta còn muốn tiếp tục sống với cái nghề vất vả cực nhọc và tràn đầy niềm vui này” (tr.64). “Học nghề đâu phải chỉ là học lấy đôi ba cái mánh khóe thủ thuật. Nghề nghiệp luôn được hiểu là một khái niệm rộng” (tr.59). “Nghệ thuật luôn là một nghề đòi hỏi phải trút vào đó toàn bộ tinh thần và niềm say mê, trong đó cực nhọc và bí hiểm làm sao là cái công việc thâm nhập vào hồn cốt sự vật” (tr.60); “Muốn sáng tạo ra một giá trị thẩm mỹ đích thực thì phải thoát ra khỏi đầu óc danh lợi, nghĩa là vô tư tĩnh tâm một cách tuyệt đối” (tr.170 – 171). Nhưng văn chương là lĩnh vực của sự độc đáo, tức là cần phải có cái riêng, đặc sắc của mình. Ma Văn Kháng cho rằng: “Văn không phép viết nhất định, nhập thần thì rõ ra thôi. Chả ai nghĩ cứ chịu khó học nghề mà thành tài. Nghệ thuật dừng lại ở cái riêng. Trong sáng tác văn chương, kinh nghiệm luôn mang ý nghĩa cá nhân. Không có chuyện cầm tay chỉ việc ở đây. Thành ra, có thể nói nghề văn là nghề tự đào tạo […]. Không có chuyện sản xuất cơ giới, sản phẩm ra hàng loạt trong sáng tác văn chương. Nghề văn nghiệt ngã ở chỗ, sáng tác bao giờ cũng chỉ là độc bản” (tr.64). Do cái đặc thù ấy nên “nghề văn là ở nơi xuất phát thì rất đông nhưng chỉ ít người tới đích” (tr.171). “Nghề văn giống như cuộc chạy marathon, xuất phát thì rất đông, nhưng tới đích thì rất ít. Rắc rối còn ở chỗ, tài năng lại là thứ người sở hữu nó là người biết đến sau cùng. Có khi mất rồi mới biết!” (tr.194). Ma Văn Kháng cho rằng: “Tài năng  là thứ của hiếm. Cũng là thứ dễ mất mát”. “Nhà văn nước ta có nhiều người tài, thậm chí rất có tài. Nhưng tôi trộm nghĩ, cũng có nhiều người thật sự có tài nhưng đã phung phí, để nó mai một đi một cách rất đáng tiếc!” (tr.154). Hiện tượng bị tán tài là hiện tượng thường gặp trong đời sống văn chương nước ta.

Ma Văn Kháng trong Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo, bằng những chứng cứ cụ thể, sinh động, đầy thuyết phục khẳng định tư cách của nhà văn trong xã hội, nhấn mạnh vào tính chuyên nghiệp của người cầm bút. Đã là nhà văn thì phải coi việc viết văn, sáng tạo ra tác phẩm nghệ thuật là bổn phận, là lẽ sống của đời mình. Ma Văn Kháng dẫn ra trường hợp Neruda (1904 – 1973), thi sĩ của tình yêu và đồng quê, giải Nobel văn học 1971, là ứng viên trong cuộc bầu Tổng thống. Trả lời câu hỏi của phóng viên: Nếu được bầu vào ngôi vị nọ, liệu ông có tiếp tục viết nữa không? “Neruda thản nhiên đáp: – Với tôi, viết là hít thở. Tôi không thể sống mà không hít thở và tôi không thể sống mà không viết” (tr.129). Thật là chí lý! Nhà văn mà không coi việc viết là lẽ sống của đời mình thì sao gọi là nhà văn. Ma Văn Kháng dẫn ra trường hợp thứ hai. Ấy là cuộc trò chuyện giữa Hồ Chủ tịch với một nhà thơ Liên xô. Khi được nhà thơ Liên Xô “ca ngợi mình là một nhà thơ, Bác liền lắc đầu bảo: Không phải. Và khi nhà thơ nọ tỏ vẻ ngạc nhiên thì Bác hỏi: Tôi hỏi đồng chí, đồng chí là nhà thơ, không làm thơ, đồng chí có chịu được không? Rồi như chỉ chờ nhà thơ Liên Xô đáp: Thưa Chủ tịch, làm thơ là lẽ sống của tôi. Thì Bác cười: Đó, như vậy đồng chí mới là nhà thơ. Còn tôi, chỉ thi thoảng mới làm mấy câu thơ thôi. Tôi còn những việc khác. Tôi không phải là nhà thơ. Tài tình chưa, Bác đã gián tiếp cho ta một định nghĩa về nhà thơ thật sinh động và cụ thể” (tr.129). Ta hiểu, Bác nói đến nhà thơ ở đây là theo ý nghĩa cốt lõi, bản chất, có tính chuyên nghiệp của một nghề nghiệp. Câu trả lời sâu sắc của Bác làm cho những giải thích của một số nhà phê bình văn học cho rằng: Bác vì khiêm tốn nên không nhận mình là nhà thơ không có cơ sở để tồn tại nữa. Đó chỉ là những suy diễn thiếu căn cứ xác đáng, không chạm được vào bản chất của vấn đề.

 

Ngọn nguồn của văn chương nghệ thuật xưa nay là đời sống. Mối quan hệ giữa văn học với đời sống là mối quan hệ máu thịt, sống còn của văn học. Ma Văn Kháng, bằng  thực tiễn sáng tác của mình đã nhận ra một cách thật sâu sắc một trong những vấn đề cốt tử này của văn chương nghệ thuật.

Trong bài Sống rồi mới viết, Ma Văn Kháng bộc bạch: “Sống rồi mới viết! Chuyện ấy có gì là lạ. Nhưng nếu tôi không nhầm thì ở nước ta, người nói ra cái ý tưởng này đầu tiên là Nam Cao” (tr.70). Đúng vậy, trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Nam Cao tự nhủ: “sống đã rồi hãy viết”. Ma Văn Kháng viết tiếp: “Còn trước đó, tôi nhớ lần đầu đọc ý kiến nọ là từ Henri Barbusse. Trong đó, tác giả tiểu thuyết Khói lửa nhấn mạnh, phải sống thật sự, nghĩa là toàn tâm toàn ý, cụ thể là trong đầu óc không được vương vấn một tí gì về chuyện viết lách cả, thì sau đó mới có thể viết lách được. Nguyễn Tuân có một ý cũng khá đặc sắc về chuyện này khi nói về Nguyên Hồng. Với nhiều thành tựu trong văn chương, Nguyên Hồng được Nguyễn Tuân đánh giá là nhà văn có nhiệt tâm với sự sống hơn rất nhiều người. Vì cũng theo Nguyễn Tuân: “Sống theo cái nghiã tôi hiểu là phải viết nó ra thành sách!”” (tr.70). Nhà văn là kẻ “sống hết mình với cuộc đời!” (tr.82). Nhà văn “phải sống trong cuộc sống, sống với tất cả những chi tiết vụn vặt của cuộc sống đang chảy trôi như cách nói của Dostoievsky. Nghĩa là làm cho cuộc sống tràn đầy trong mình bằng cách sống trong lòng cuộc sống, đau khổ sung sướng, suy ngẫm trong các sự kiện của cuộc sống, bằng việc trực tiếp tham dự vào cuộc sống. Nghĩa là để cuộc sống tràn vào mình tự nhiên như mưa lâu thấm đất, được hình dung như là mở tất cả các luân xa, nói theo ngôn ngữ nhà Phật, khai thông tất cả các giác quan và nhận biết để cuộc sống tràn vào anh. Tràn vào thế giới bên trong của anh. Chứ không phải là lang thang đây đó, tạo nên vốn sống bằng cái hình thức nhân tạo là lăm lăm trong tay cây bút và cuốn sổ như một nhà ghi chép chuyên nghiệp hoặc như một tên mật thám của cuộc đời, như cách nói của Paustovsky. Về điểm này, Nguyên Hồng có một ý tưởng rất hay. Thấy ông viết tiểu thuyết trường thiên Cửa biển, Bùi Bình Thi hỏi: Bí quyết viết dài là gì? Tác giả Bỉ vỏ đáp: Là Sống Kỹ! Chà, Sống Kỹ, một mệnh đề ngắn gọn mà sâu xa mà chắc nịch!” (tr.74 – 75). Ma Văn Kháng nhấn mạnh: “khái niệm sống của nhà văn có một dung lượng rộng lớn hơn thông thường. Sống, ngoài cái nghĩa là trải nghiệm trực tiếp, là quan sát nghe ngóng học hỏi, là dấn thân lăn lộn vào các vùng chưa biết, còn là sống với tất cả chiều kích của đời sống tinh thần tâm tưởng tâm hồn, như tiềm thức, tâm linh, ảo giác, tưởng tượng,… trên cơ tầng một nền học vấn cao. Nhà văn, kẻ sống hết mình với cuộc đời!” (tr.82). Giàu vốn sống, nhưng muốn có tác phẩm để đời, nhà văn cần có một tâm hồn tinh tế và phong phú. Bởi vì, đúng như Ma Văn Kháng viết trong truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ: “Văn chương là chuyện đời thông qua việc đào xới bản thể mình ở chiều sâu tâm hồn chứ đâu phải là đi hớt lấy cái váng nổi trên mặt của ngoại vật. Đâu có phải cứ lăn lộn xuống cơ sở, gần gụi cái búa, cái bay, sống giữa tiếng máy, mùi than thì mới viết được văn hay!”.

Tác phẩm văn học, xét đến cùng, là con đẻ của thời đại. Nhưng tác phẩm văn học không chỉ là tiếng nói của thời đại mà còn là tiếng nói của mỗi khuynh hướng, trào lưu văn học; không chỉ là tiếng nói của trào lưu mà còn là tiếng nói riêng của mỗi nhà văn có cá tính sáng tạo mãnh liệt, độc đáo. Viết văn là để nói những điều gan ruột, tâm huyết. Nhà văn chân chính chỉ có thể cầm bút khi tình cảm, cảm xúc đã tràn đầy trong lòng, cho nên rất cần đến cảm hứng. Cảm hứng là trạng thái tâm lý đặc biệt khi người nghệ sĩ có cảm xúc và sự lôi cuốn mãnh liệt, tạo điều kiện để óc tưởng tượng sáng tạo, hoạt động có hiệu quả. Cảm hứng có thể bàng bạc trong hầu hết các khâu của quá trình sáng tác nhưng được biểu hiện rõ nhất, mãnh liệt nhất khi nhà văn bắt đầu viết, vào cái thời điểm mà nhà văn bị hoàn cảnh đẩy vào cái tình thế không thể không viết ra những điều đã bấy lâu chất chứa, tích tụ, dồn nén đến cái mức tất yếu tuông ra, tuôn trào dào dạt.

Tác phẩm văn học, nói chung, chỉ thực sự được viết ra khi xuất hiện một hoàn cảnh rất cụ thể, gắn liền với một tâm trạng cụ thể của người cầm bút, đó là hoàn cảnh cảm hứng. Hoàn cảnh cảm hứng được hình thành do sự gặp gỡ giữa chủ thể và khách thể, tạo nên sự cộng hưởng giữa nỗi niềm chất chứa bên trong của nhà văn với một nguyên cớ nào đó, nhiều khi rất tình cờ, của hiện thực đời sống. Xuân Diệu cho rằng: “Tác phẩm văn học là sự cưới xin giữa ngoại vật và nội tâm nhà văn”[2]. Nhà văn sống sâu sắc với đời nhưng nếu không gặp được hoàn cảnh cảm hứng thì tác phẩm cũng chưa đủ điều kiện để ra đời.

Ma Văn Kháng trong tiểu luận “Phút giây huyền diệu” đã nói rất hay, rất say sưa và thuyết phục biết bao về hoàn cảnh cảm hứng, về cái thời điểm bùng cháy cảm xúc, những giây phút xuất thần của người nghệ sĩ. Ông gọi đó là “Phút giây huyền diệu”  (tr.37), “giây phút kỳ diệu”, “cái phút giây thiêng!” (tr.40). Ông bộc bạch: “Sau này khi đã có thêm những năm tháng sống với nghề, tôi mới hiểu hết cái ý nghĩa của phút giây kỳ diệu này. Đó là khoảnh khắc, trước đó không có, và sau đó cũng không thể có. Đó là cái giây phút cảm hứng dâng trào làm bùng nổ cái khối lượng tình cảm, hiểu biết tích lũy thường trực trong mình. Đó là khi xuất hiện cơn thần hứng có khả năng tổng hợp tất cả những gì đã có và đang còn tản mát trong ta, tập hợp chúng lại thành một chỉnh thể, cùng với một hệ thống ngôn từ tương ứng bất thình lình hình thành một cách thật tự nhiên và đổ ào ào rồi xếp hàng ngay ngắn trên trang giấy của ta. Đó là tia lửa bừng sáng rọi vào khoảng không còn mu mơ mịt mùng. Đó là khoảnh khắc thăng hoa, xuất thần. Đó là cái duyên kì ngộ. Đó là cái may mắn Trời cho vô cùng quý giá. Mà nhà văn phải bằng tình cảm nhạy bén nhận ra ngay để lập tức chớp lấy thời cơ, không để nó tuột ra khỏi tầm tay mình. Để rồi tiếp theo là những ngày mê man trong cơn thác lũ của chữ nghĩa, quên lãng cả những nhu cầu tối thiểu, như kỵ sỹ đã lao lên lưng con tuấn mã, chỉ nhăm nhăm một cái đích đi tới” (tr.40 – 41).

Đọc tiểu luận “Phút giây huyền diệu”, ta thấy, Ma Văn Kháng hằng chăm chú và có ý thức tổng kết kinh nghiệm sáng tác của mình, đồng thời cũng luôn quan sát, đúc rút kinh nghiệm của những nhà văn khác, đặng làm giàu cho kho tàng kiến thức của mình. Ông cho ta biết, K. Paustovsky, nhà văn Nga Xô viết “gọi cái giây phút kỳ diệu ấy là sự xuất hiện tia chớp […], điều kiện đầy đủ để tia chớp xuất hiện chính là sự ứ đầy căng thẳng bão hòa của các đám mây tích điện” (tr.42). Trong sự hình dung của K. Paustovsky, “cảm hứng giống như mối tình đầu, khi tim ta rộn ràng cảm thấy trước những cuộc gặp gỡ li kỳ, đôi mắt đẹp tuyệt trần, những nụ cười và những đôi mắt dang dở. Lúc đó thế giới bên trong của chúng ta trở nên tinh tế và chuẩn xác như một cây đàn kỳ diệu, đáp lại mọi âm thanh của cuộc đời, kể cả những tiếng động thầm kín nhất” (tr.43 – 44). Puskin viết: “Cảm hứng là lúc tai ta nhận được lời thần. Còn Lermontov thì cho rằng, đó là lúc mối lo âu trong tâm hồn ta lắng dịu đi. Và Pau (Paustovsky) thêm: cảm hứng có màu sắc thơ riêng biệt, cảm xúc có cái ẩn ý thơ” (tr.44). Ngòi bút Ma Văn Kháng tưởng như say sưa, nghiêng ngả tuôn trào khi viết về cảm hứng sáng tạo của nhà văn: Cảm hứng, “đó là một trạng thái thần khởi thoải mái, đến một cách bất thần và kích thích mạnh mẽ năng lực tiếp nhận hiện thực và sáng tạo bay bổng của con người. Ai trong đời mình mà đã không trải qua những giây phút cảm hứng. Turghenev, nhà văn Nga gọi cảm hứng là trạng thái Trời đến gần ta, để diễn tả cái chất hướng thượng có tính chất thần thánh trong cảm nhận và xúc động của con người. Rất đáng chú ý khi ông cho rằng, cảm hứng là một trạng thái tinh thần phức hợp, trong đó có trộn lẫn cả niềm sung sướng vô tận, niềm say mê tràn đầy với nỗi sợ hãi, dằn vặt khủng khiếp, vì ngay lúc đó, không thể buột ra khỏi tay mình miếng đất màu mỡ để gieo trồng, nhà văn bắt đầu công việc lao động nhọc nhằn của một cuồng si ngôn từ” (tr.44). Cái hay, cái sâu sắc của “Phút giây huyền diệu” là ở chỗ, Ma Văn Kháng đề cao cảm hứng nhưng không tuyệt đối hóa nó, nhà văn không thể cứ đợi chờ cảm hứng đến như kẻ há miệng chờ sung. Muốn có được “phút giây thiêng”, nhà văn phải sống sâu sắc, “Sống rồi mới viết”, phải tắm mình trong bầu không khí của thời đại, phải lao động hết mình. Ma Văn Kháng say sưa mà vẫn tỉnh táo khi cho rằng, trong sáng tạo văn chương nghệ thuật “Không có sự ăn may thuần túy. Nhưng vẫn có cái gọi là may mắn, tình cờ trời cho. Và vấn đề không phải là há miệng chờ sung. Mà là hãy sống kỹ lưỡng tích cực và thật tự nhiên với tất cả cung bậc của cuộc đời” (tr.49). “Cảm hứng là một trạng thái lao động nghiêm túc. Hiển nhiên là thế rồi. Tchaikovsky cả quyết: cảm hứng là trạng thái tinh thần của con người mang hết sức mình ra làm việc như một con bò đực thiến, chứ không phải là chỉ ve vẩy tai một cách õng ẹo!” (tr.45).

Từ những hiểu biết tinh tế, sâu sắc về cảm hứng sáng tạo, Ma Văn Kháng đã lựa chọn và phân tích, lý giải đầy thuyết phục cảm hứng sáng tạo, những phút giây kỳ diệu của Nguyễn Thành Long khi viết thiên truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa, của Xuân Cang khi viết tiểu thuyết Những ngày thường đã cháy lên, của Dương Duy Ngữ viết tiểu thuyết Người giữ đình làng, của Nguyễn Trọng Tân khi viết Trang gia phả viết bằng vôi, của Nguyễn Khắc Trường khi viết tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, của Lev Tolstoy khi sáng tác Khatgi Murat, của Pouchukinne khi sáng tác bài thơ tình nổi tiếng Phút giây huyền diệu,… Ma Văn Kháng không hề đơn giản vấn đề sáng tạo khi đưa ra nhận xét, tuy có quy luật chung nhưng mỗi nhà văn lại có con đường riêng, không ai giống ai. “Tất nhiên, chúng ta đều hiểu, con đường đi từ tia chớp ban đầu tới một hình tượng văn chương hoàn chỉnh là vô cùng lắt léo, phi vật thể, phi truyền thống và phức tạp, chứ không đơn giản. Đó là chuỗi biến thể qua những chặng đường của trí tưởng tượng và những kinh nghiệm cùng những nỗ lực vô bờ bến của cá nhân” (tr.47). Từ sự chiêm nghiệm sáng tác của mình cùng với sự quan sát, phân tích, tổng hợp kinh nghiệm sáng tác của nhiều nhà văn khác, Ma Văn Kháng đã khép lại bài tiểu luận bằng một kết luận đầy thuyết phục: Hoàn cảnh cảm hứng, tình huống sáng tạo, “cảm hứng thần tiên là tia chớp hãn hữu chỉ hiện ra trong một bầu trời ứ đầy mây tích điện để mở đầu và sau đó tiếp nối bằng cả một quá trình sáng tạo bền bỉ say mê, đó là cuộc gặp gỡ kỳ lạ và vô cùng lý thú của đời sống văn chương. Đó là điểm giao kết tài tình giữa ngẫu nhiên và tất yếu do cuộc sống tạo ra. Với tôi, đó là một kiểu hình thành tác phẩm phổ biến có tính quy luật, đó là quy trình làm nên một hợp tử, để một sự sống hoài thai, ra đời” (tr.50). “Phút giây huyền diệu” là một tiểu luận xuất sắc của Ma Văn Kháng, xứng đáng có mặt trong những tuyển tập hay nhất bàn về cảm hứng sáng tạo của nhà văn. Ta hiểu vì sao Ma Văn Kháng lại lấy tên bài viết này đặt tên chung cho tập sách Phút giây huyền diệu trước đây, và lần này là Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo của ông.

Cũng như những ngành nghề khác, nhà văn cũng có những bạn bè, có những tình bạn cao quý, cảm động, thiêng liêng, và cũng có cả những ganh ghét, đố kỵ, hận thù. Ma Văn Kháng không che dấu mà phơi ra cái sự thật “tàn nhẫn”: “con người thì ở đâu cũng vậy thôi! Nó có đủ cả nết tốt và thói xấu. Người làm nghề văn không khác. Ai mà chẳng có niềm tự tôn về mình. Chẳng xấu gì nếu tám, chín trăm nhà văn thì có lẽ cũng từng ấy cái ảo mộng vĩ cuồng. Mỗi kẻ mang danh hiệu cao quý này, nói không ngoa đâu, đều hình thành cho mình một khái niệm về bản thân mình và thường là tự ái tự kỷ, tâng nịnh mình. Mà người xưa đã nói, đức nhỏ mà muốn ngôi cao, tài nhỏ mà muốn làm việc lớn, chính là cái mầm của họa lục đục vậy” (tr.103). Chẳng có nghề nào sự cạnh tranh ghê gớm hơn lĩnh vực văn chương nghệ thuật. “Văn chương hơn ở đâu hết lại là nơi sự chọn lọc diễn ra thật vô cùng khắt khe, khắc nghiệt. Một thế kỷ qua, lựa đi lọc lại còn được bao nhiêu văn tài? Thêm nữa, một tác phẩm xuất sắc một khi đã xuất hiện, là lập tức có khả năng gây ra ảo giác làm lu mờ ngay những tên tuổi đang sáng giá nhất đương thời. Nghiệt ngã thay, thành công của người này dễ gây hiệu ứng làm bộc lộ sự kém cỏi, làm tủi hổ người kia. Thành ra gọi đây là nơi trường văn trận bút cũng có ý muốn nói về sự đua taì cùng nhau. Đua tài! Cuộc tranh đua thú vị này sao lại né tránh và sợ hãi nhỉ? Không! Đua tài là một động lực của cuộc sống chứ sao! Chỉ tiếc, cùng với đua tài là thói đố kỵ đã nảy sinh và trở thành một trạng thái tâm lý cố hữu của người bạn cùng nghề viết lách. Xuân Diệu có lần đã tâm sự: “Hễ thấy hai nhà văn ngồi với nhau, chắc chắn sẽ nói xấu người thứ ba, tôi thường lảng tránh”. Trả lời câu hỏi của một bạn đọc: Tại sao ông cứ  tự tâng bốc mình thế? Maiakovski, nhà thơ Nga Xô viết đáp: Người bạn trung học của tôi là Wiliam Shakespeare luôn luôn khuyên tôi: Chỉ nói tốt về mình, còn cái xấu về mình đã có bạn bè nói hộ rồi. “Những kẻ nguyền rủa anh sẽ buồn/ Chả còn anh cho họ giết/ Dao sẵn rồi, họ không dễ để yên”. Đó là một khổ thơ nói về sau cái chết của mình ở bài Từ thế chi ca, trong Di cảo của Chế Lan Viên. Nghĩa là nhà thơ đến tầm cỡ thi bá mà vẫn còn vấn vương lắm chuyện yêu ghét hận thù” (tr.105). Tự sự trải nghiệm và chiêm nghiệm đời sống, Ma Văn Kháng đưa ra lời khuyên chân thành: “Sống chung là cả một nghệ thuật. Quan hệ nhà văn với nhau là một quan hệ tế nhị. Cái áo ấm sặc sỡ quý phái bao giờ cũng được phủ ngoài bằng một lớp áo sa mỏng tang cho khỏi lộ liễu. Đó là phong cách thẩm mỹ của người Việt mình. Đừng để mình quá chói lọi bên bạn bè. Sống có nghĩa là để những người khác cùng sống với mình. Sống còn có nghĩa là chia sẻ tình nghĩa với bạn bè, đồng loại, sống là cho đi!” (tr.109).

Ma Văn Kháng trong tập sách Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo còn nói đến mối quan hệ giữa nhà văn và bạn đọc. Đây là những bạn đọc không thuộc “lớp độc giả chuyên nghiệp”, “những độc giả “không quân hàm”, không quen biết, đa năng, đa thức, bách khoa toàn thư. Những độc giả thông thái. Họ biết tất. Họ biết giá trị một tác phẩm […]. Có điều là những đánh giá ấy không có diễn đàn và chỉ tồn tại ở dạng lặng thầm” (tr.213). Nhiều độc giả như thế, vì yêu quý nhà văn, sau khi đọc sáng tác của Ma Văn Kháng, đã chân thành góp ý cho ông những sai sót, những điều chưa hợp lý trong tác phẩm. Ma Văn Kháng còn nói đến Những người bạn đồng hành, tức là những bạn đọc chuyên nghiệp, những nhà lý luận, phê bình văn học gần gũi, thân thiết với ông. Caí lớn của Ma Văn Kháng qua những trang viết này là ở chỗ ông thật sự yêu quý những cây bút phê bình đã viết về những sáng tác của ông, chân thành ghi nhận cả những lời khen cả những lời “chê” (mà chắc gì đã đúng), và vượt qua những lề thói thông thường khen là bạn, chê là thù thường thấy xưa nay. Nếu có nhà văn nào đó đầy thành kiến với giới phê bình thì Ma Văn Kháng lại quả quyết: “Trái đất này mà không còn voi thì buồn lắm! Bắt chước câu nói của nhà bảo vệ môi trường, tôi cũng muốn nói rằng, sáng tác mà không có nhà lý luận phê bình thì buồn lắm. Cứ nghĩ mà xem. Buồn lắm, buồn thật đấy! Nhà lý luận phê bình, bạn đồng hành của nhà sáng tác!” (tr.190).     

 

Ma Văn Kháng trong bài “Bí thuật của nghề nghiệp”, cho ta biết, hồi những năm cuối 60 đầu 70 của thế kỷ XX, Chế Lan Viên đi Liên Xô về nói với những nhà văn trẻ đang tập tọng viết: “Hội Nhà văn toàn Liên bang Xô viết có 5000 hội viên, nhưng sẽ chỉ còn lại 4 – 5 ông là may mắn rồi. Nghĩa rằng, đặc thù của nghề văn là ở nơi xuất phát thì đông nhưng chỉ rất ít người tới đích” (tr.171). Nguyễn Đình Thi, năm 1970, nói với các nhà văn trẻ từ các tỉnh về họp Hội nghị Các cây bút trẻ, nói: “Cả đời tôi chỉ mong có được một truyện ngắn, một bài thơ được mọi người nhớ. Lúc ấy tôi thấy trong lòng đầy tự ái: Các ông này ra điều ta đây, cứ hay quan trọng hóa vấn đề!” (tr.171).

Khi đã thành nhà văn nổi tiếng, đã được tặng nhiều Giải thưởng văn học cao quý, Ma Văn Kháng thực sự thấm thía tâm sự của những cây bút đàn anh nói trên. Ông viết: “Bây giờ già rồi, trải nghiệm rồi, đọc nhiều rồi, nghĩ lại mới thấy đúng là viết văn đến độ nào rồi mới biết thế nào là nghề văn, là văn chương. Lại nhớ câu nói của bạn tôi, Nguyễn khắc Trường, nhà văn, tác giả Mảnh đất lắm người nhiều ma nổi tiếng: Nói thật là tôi đến giờ lắm lúc cũng chưa hiểu thế nào là văn chương […]. Bây giờ cuối đời rồi, viết cả mấy chục cuốn sách rồi, vậy mà viết tiếp một cái gì, vẫn thấy chả tự tin tẹo nào, vẫn thấy hoang mang lắm! Và thú thật, bây giờ mới thấy được, không phải chỉ là cái ngọt ngào, mà chính là cái cay đắng nghiệt ngã ở cái nghề văn của mình. Thú nhận này của tôi gặp cái khắc khoải của văn Chinh, một nhà văn kỹ tính và tinh quái khi nghe anh nói rằng: Tôi học viết văn vào lúc người ta dạy cho biết văn học có thể can dự vào thế sự và vào việc hoàn thiện con người. Giờ tóc đã hoa râm, tôi thấy hiển nhiên là ngòi bút mình bất lực… Ngước nhìn lên, thấy cụ L.Tolstoy già nua khóc bảo ông M. Gorky hăm hở rằng: “Anh cứ sống đi rồi thấy rằng, nó, con người vẫn thế”. Lại toát mồ hôi nhủ rằng, phát hiện thêm về con người là khó như tìm ra một hành tinh khác vậy” (tr.172).

Dẫu có chút khiêm tốn khi nói về mình nhưng cái “toát mồ hôi”, cái giác ngộ của Ma Văn Kháng “phát hiện thêm về con người là khó như tìm ra một hành tinh khác vậy” là một nhận thức đúng đắn, sâu sắc, muôn thuở, muôn đời về văn chương nghệ thuật. Là một yêu cầu, đòi hỏi nghiệt ngã nhất, cao nhất trong sáng tạo của nhà văn. Nó đòi hỏi nhà văn phải có tư tưởng riêng, phải tạo được cho mình một phong cách độc đáo mà biểu hiện then chốt, cốt lõi của phong cách là phải có cái nhìn riêng, có tính chất khám phá, phát hiện về thế giới và con người. Sự giác ngộ của Ma Văn Kháng đã bắt gặp quan niệm của nhà văn Pháp Marl Prust (1871 – 1922): “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập” (Thời gian tìm lại được). Phong cách, tính độc đáo của một nhà văn biểu hiện sâu đậm nhất ở cái nhìn, cách nghĩ hơn là ở văn phong. Với những nhà văn có phong cách, tác phẩm của họ luôn mở ra được cái gì đó về thế giới và con người mà trước đó, vẫn như là bị phong kín. Ma Văn Kháng cũng quả quyết: “Nhà văn, kẻ sáng tạo ra cái chưa hề có trong hiện thực! Chưa hề có trong hiện thực!” (tr.131). Nhà văn có tài năng lớn, có phong cách nghệ thuật độc đáo là người, qua tác phẩm của mình, tạo ra một thế giới nghệ thuật riêng, một xã hội riêng, theo quy luật riêng của nó. Vì thế, người ta thường ví những nhà văn lớn, những nghệ sĩ lớn như một tiểu hóa công.

Đúng vậy, những nhà văn lớn, những nghệ sĩ lớn là những tiểu hóa công. Đây là cái đam mê sáng tạo của nhà văn qua ngòi bút Ma Văn Kháng: “Đó là một quá trình nhà văn bị thiêu đốt bằng cơn nhiệt hứng để đi tìm một hình dạng có giới hạn có khả năng hàm chứa cái vô hạn. Đó là một quá trình bị mê hoặc bằng ảo ảnh thần thánh hóa trước cái kết thúc tối hậu. Đó là một cơn đam mê quăng mình vào cuộc phiêu lưu trong đám sương mù của chữ nghĩa để diển tả cho đúng cái điều mình định nói. Đó là một công cuộc theo đuổi tận lực kiệt cùng sự hoàn thiện, trong tinh thần luôn muốn vươn tới một cái gì đó đẹp hơn cái đang hiện tồn với ảo giác rằng mình đang làm công việc vĩ đại có thể thay đổi cả thế giới…” (tr.30). Ma Văn Kháng cho ta biết: năm 1976, đạo diễn Đặng Nhật Minh đi thực tấp ở Bulgari. “Hỏi, học được những gì về nghề trong thời gian đó. Nghệ sĩ nhân dân kể: Một lần trong khi một đạo diễn Bulgaria đang tập cho diễn viên, thấy bên ngoài có tiếng ồn ào, ông này bỗng bật hét: Có im đi không! Không biết là Chúa đang tạo thế à! Và những tiếng ồn ào nghe vậy liền im phắc. Đạo diễn ngoài hiện trường là Chúa Trời!” (tr.60 – 61).

Trong bài Tôi đã học viết như thế nào, M. Gorki viết: “Con người tưởng tượng Thượng đế của mình là đấng toàn tri, toàn năng, thần thông quảng đại, nghĩa là gán cho Thượng đế những khát vọng cao cả nhất của mình. Thượng đế chỉ là một sự “bịa đặt” của loài người nảy ra  từ “cuộc đời nghèo nàn cơ cực” và nỗi lòng khao khát mơ hồ của con người muốn dùng sức mình làm cho cuộc sống phong phú hơn, nhẹ nhàng hơn, công bằng hơn và đẹp đẽ hơn. Con người đã nâng Thượng đế lên trên cuộc sống, vì những phẩm chất và ước muốn cao cả nhất của con người nảy sinh trong quá trình lao động đã không có chỗ đứng trong thực tế, nơi đang diễn ra một cuộc đấu tranh khốc liệt vì miếng ăn”[3]. Những nhà văn, những nghệ sĩ vĩ đại, như trên đã nói, họ là một tiểu hóa công. M. Gorki cho ta biết về L. Tolstoy: “Xưa nay ông cụ vẫn ca ngợi hết lời sự bất tử ở thế giới bên kia, nhưng thật ra cái mà ông ham thích là sự bất tử trên thế gian này”[4]. Hãy nghe Gorki viết về cuộc trò chuyện của ông với Tolstoy. Tác giả  Chiến tranh và hòa bình nói với Gorki: “… Đấy anh vẫn nói đến cái đẹp. Nhưng cái đẹp là gì? Cái cao cả nhất và hoàn mỹ nhất là Thượng đế […]. Ông cụ ngồi trên đi – văng, hai chân gập xuống dưới gầm, trong chòm râu nở một nụ cười đắc thắng, giơ ngón tay lên dọa tôi:

– Chuyện này thì anh đừng hòng tảng lờ, không làm thinh được đâu!

Và tôi, người không bao giờ tin Thượng đế, không hiểu sao chợt ngước mắt lên nhìn ông một cách rất e dè, có phần sợ sệt nữa, lòng tự nhủ: “Con người này chẳng khác nào Thượng đế!”[5]. Quả đúng vậy, những nhà văn vĩ đại, những thiên tài văn học cổ kim đông tây không phải là Thượng đế nhưng họ chẳng khác nào Thượng đế!  

Tập Phút giây huyền diệu nhà văn và quá trình sáng tạo là tác phẩm của một nhà văn đạt đến trình độ hoàn toàn tự giác, luôn có ý thức về quá trình sáng tạo của nhà văn. Qua tập sách đặc sắc này, Ma Văn Kháng hầu như đã bao quát được những bước, những khâu cơ bản của quá trình sáng tạo của nhà văn. Đây là tập tiểu luận và bút ký xuất sắc về nghề văn, với nhiều nhận xét tinh tế, sâu sắc, dẫu quen mà vẫn lạ, vẫn đầy bất ngờ, vì nó không chỉ có tầm bao quát mà còn bổ sung, khắc sâu thêm một vấn đề cốt lõi nào đó trong quá trình sáng tạo của nhà văn. Nhiều đoạn văn viết tràn đầy cảm hứng, nghiêng ngả trong cơn hưng phấn, như là lên đồng, như là sự thăng hoa của cảm xúc. Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo không chỉ cung cấp những kiến thức sâu sắc, bổ ích cho bạn đọc thông thường mà còn là tư liệu quí cho những nhà lí luận, phê bình văn học; đồng thời cũng có ý nghĩa gợi mở cho các nhà văn trẻ trên con đường tìm một lối đi riêng trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Đây là một cuốn sách hay, góp phần làm phong phú thêm sự nghiệp văn học của Ma Văn Kháng.

                                                            Đại Mỗ, Hà Nội, ngày 24 – 11 – 2025.

                                                                                    T.Đ.S

[1] Ma Văn Kháng, “Thay lời nói đầu: Tôi đã viết Phút giây huyền diệu như thế nào?”, in trong Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2025, tr. 7 – 8. Từ đây, những trích dẫn số trang được ghi đều lấy từ tập sách này.

[2] Xuân Diệu, Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1978, tr.17.

[3] Gorki, Bàn về văn học, tập I, Nxb Văn học, Hà Nội, 1970, tr.240.

[4] Gorki, Bàn về văn học, tập II, Nxb Văn học, Hà Nội, 1970, tr.390.

[5] Gorki, Bàn về văn học, tập II, Nxb Văn học, Hà Nội, 1970, tr.425.