Văn nghệ Quân đội, nơi kết nối văn chương – Tiểu luận của PGS.TS. Nguyễn Bích Thu

Ngày mới về Viện Văn học, tôi cứ nghĩ mình chỉ quanh quẩn trong khuôn viên của cơ quan, thực hành những công việc nghiên cứu mà phòng chuyên môn cắt đặt, giao phó. Nhưng dần dà, mở rộng tầm nhìn hơn, tôi nhận ra ngoài Viện Văn học còn có những địa chỉ văn chương khác như Báo Văn nghệ, Hội Nhà văn, Tạp chí Văn nghệ Quân đội… Trong số đó, với tôi, Tạp chí Văn nghệ Quân đội là nơi lưu lại nhiều dấu ấn và kỷ niệm, là nơi kết nối văn chương, nơi góp phần giúp tôi trưởng thành hơn trong chuyên môn: nghiên cứu, phê bình văn học, và là nơi thấm tình đồng nghiệp không chỉ với những nhà phê bình mà còn với cả các nhà văn ở số 4 Lý Nam Đế.

Năm 1978, tôi đã có bốn năm biên chế ở cơ quan, ngày ấy nhà thơ Hoàng Trung Thông là Viện trưởng đã động viên các nữ nghiên cứu của viện ra một số tạp chí dành riêng cho chị em. Khi nhận xét về số tạp chí rặt của “phái đẹp”, Tổng biên tập Hoàng Trung Thông hoan nghênh tinh thần nhập cuộc của chị em nhưng có một số bài vẫn còn “xanh”… Cái từ “xanh” ấy sao mà đa nghĩa, riêng với tôi, mới chập chững vào nghề, thật đáng suy nghĩ.

Và cũng năm ấy, nhà phê bình Ngô Thảo ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội (nguyên là người của Viện Văn đến cơ quan cũ, 20 Lý Thái Tổ, tặng tôi cuốn tiểu luận, phê bình đầu tay của anh, có nhan đề Từ cuộc đời chiến sĩ). Phải nói với một người còn “xanh” trong viết lách, bài vở lúc bấy giờ, được một nhà phê bình đàn anh tặng sách, thì xúc động đến cỡ nào. Từ ấy qua nhà phê bình Ngô Thảo, Tạp chí Văn nghệ Quân đội là địa chỉ thân quen của tôi và các đồng nghiệp Viện Văn như Lưu Khánh Thơ, Tôn Phương Lan, Mai Hương, Phạm Xuân Nguyên… Lúc nào cần trao đổi bài vở và cả lúc rảnh rang, nhà số 4 Lý Nam Đế là địa điểm chúng tôi tìm đến…

Từ đây, ngoài Viện Văn học, nơi tôi làm công việc nghiên cứu văn học, nơi đào tạo tôi thành nhà nghiên cứu chuyên nghiệp còn có Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi bồi đắp thực tiễn đời sống văn chương, đặc biệt là Ban Lý luận phê bình do anh Ngô Thảo làm Trưởng ban cùng các đồng nghiệp Vương Trí Nhàn, Hồng Diệu, Lê Thành Nghị, Ngô Vĩnh Bình đã tạo điều kiện cho tôi không chỉ sở trường về nghiên cứu, mà còn tiếp cận với phê bình, giới thiệu những tác giả, tác phẩm mới của các nhà văn mặc áo lính lúc bấy giờ. Nhà phê bình Ngô Thảo đã hơn một lần nhờ tôi giới thiệu cuốn Những tiếng súng đầu tiên, Biển gọi của nhà văn Hồ Phương trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội hay Tạp chí Văn học. Rồi khuyên tôi viết về nhà thơ Thanh Tịnh, Thu Bồn, nhà văn Lê Lựu. Ơ hay, Trưởng ban Lý luận phê bình nhà số 4 còn “giao việc” cho tôi nhiều hơn Trưởng ban Văn học hiện đại nhà 20 Lý Thái Tổ. Mà tôi thì “quân lệnh như sơn”. Hồi ấy, cứ viết về nhà văn nào là đến gặp nhà văn ấy, tạo sự gắn kết giữa phê bình và sáng tác.

Tôi nhớ căn phòng của nhà thơ Thanh Tịnh, nơi tôi được nghe ông kể những câu chuyện có duyên và hóm hỉnh mà ngậm ngùi, thấm thía về đời riêng của ông: Trải qua mười mấy năm trường / Ăn cơm tập thể nằm giường cá nhân. Khi biết tôi là người gốc Huế, nhà thơ lại rủ rỉ tâm sự về gia đình, về Huế thương, về những ngày diễn độc tấu phục vụ kháng chiến, tạo nên cá tính nghệ sĩ của riêng ông. Cũng như nhà thơ Bảo Định Giang với những câu thơ như ca dao Tháp Mười đẹp nhất bông sen / Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ, thì Thanh Tịnh cũng có Dễ trăm lần không dân cũng chịu / Khó vạn lần dân liệu cũng xong đã trở thành những phương ngôn mới của thời đại, lan truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác, đúng như mong muốn của ông: Ước gì để lại mùa sau / Một câu một chữ đậm màu dân gian. Bài về nhà thơ Thanh Tịnh của tôi in trên Tạp chí Văn học số 5/1981.

Ngày ấy Viện Văn học làm sách Nhà thơ Việt Nam hiện đại, tôi được phân công viết về Thu Bồn. Thế là nhờ anh Thảo, bạn thân của nhà thơ Thu Bồn, tôi gặp tác giả Bài ca chim Chơ-rao nổi tiếng, đã vài lần trò chuyện cùng “đối tượng nghiên cứu”, và nhớ những câu thơ bất chợt mà da diết của ông: Nhịp cầu cong và con đường thẳng / một đời anh tìm mãi Huế nơi đâu / con sông dùng dằng con sông không chảy / sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu. Bài của tôi viết về nhà thơ Thu Bồn in trong cuốn Nhà thơ Việt Nam hiện đại (Nxb KHXH, 1984). Sau này làm tuyển thơ Thu Bồn, nhà phê bình Ngô Thảo đưa bài về Thu Bồn của tôi làm lời tựa.

Cũng vào quãng ấy, các đồng nghiệp Viện Văn có cớ tái chế thơ truyền miệng, lúc đầu là Thu Vân giới thiệu Thu Bồn / Thu Bồn cảm động sờ tay Thu Vân, khi bài viết về thơ Thu Bồn của tôi ra mắt thì thành phiên bản Bích Thu giới thiệu Thu Bồn…

Trước khi tiểu thuyết Thời xa vắng ra đời, anh Ngô Thảo gợi ý với tôi, nhà văn Lê Lựu bên Văn nghệ Quân đội viết cũng được lắm, Bích Thu viết bài về sáng tác của tác giả này đi. Thế là tôi lại đạp xe sang nhà số 4 Lý Nam Đế làm quen với nhà văn đang có tiếng vang với truyện Người về đồng cói và tiểu thuyết Mở rừng mà Trần Đăng Khoa rất khen. Nhà văn Lê Lựu tính tình bộc trực, bình dị và chân thành. Trong thời gian tìm tư liệu và “tìm hiểu” tác giả, anh không chỉ thân tình với tôi mà với cả các bạn tôi như Vũ Tuyết Loan, người đồng bệnh dạ dày với anh lúc ấy, làm việc ở Viện Đông Nam Á; Chu Thúy Hoa, phóng viên Báo Tiền phong, là hàng xóm của anh ở dốc Tam Đa, Hoàng Hoa Thám.

Anh Lê Lựu và các bạn đã đến nhà tôi ở Khu tập thể Nguyễn Công Trứ, nhà D1 (gọi tắt là D nhất) cho dễ tìm. Nhà văn và bạn đọc chuyện ra chuyện vào sôi nổi, cái thời bao cấp nó thế, người với người là bạn, dân với quân như cá với nước, bài viết về sáng tác Lê Lựu của tôi in trên Tạp chí Văn học số 2 năm 1980. Năm tháng trôi đi, nhưng hễ có dịp họp ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội hay ở Hội Nhà văn, thoáng thấy tôi, anh Lê Lựu liền hoan hỉ bắt tay với nụ cười thắm đỏ quết trầu trên môi.

Thời ấy nhà phê bình Lê Thành Nghị đang làm nghiên cứu sinh ở Liên Xô, nên ngoài nhà phê bình Ngô Thảo đưa tôi đến với “cuộc đời chiến sĩ”, còn có nhà phê bình Hồng Diệu và Ngô Vĩnh Bình hay thường trực ở Tạp chí, lúc ấy anh Ngô Thảo đã sang lĩnh vực sân khấu, làm Giám đốc Nxb Sân khấu. Tôi và các đồng nghiệp cùng trang lứa lúc này đã quá tuổi “hồi xuân” và đang ở độ tuổi “heo may” nhưng tình quân dân đồng nghiệp với Ban Lý luận phê bình Tạp chí Văn nghệ Quân đội vẫn như bát nước đầy. Các đồng nghiệp bên ấy cần bài là chúng tôi cố gắng “trả bài”.

Thời gian nhà văn Nguyễn Khải đang được Nhà nước xét duyệt Giải thưởng Hồ Chí Minh, nhà thơ Lê Anh Xuân Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, anh Hồng Diệu gọi điện nhờ tôi viết bài về sự nghiệp sáng tác của hai ông. Là người đặt bài và cũng là người hay lo, mới vài hôm, nhà phê bình Hồng Diệu gọi điện nhắc, tôi trả lời: “Em đang ‘vật nhau’ với nhà văn Nguyễn Khải và nhà thơ Lê Anh Xuân đây”. Tôi nghe đầu dây bên kia, bật tiếng cười. Vài ngày sau, bài Nguyễn Khải và “vấn đề hôm nay” in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 1 năm 1999; bài Lê Anh Xuân nhập cuộc và sáng tạo có mặt trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 4 năm 2000.

Với nhà phê bình Ngô Vĩnh Bình, dẫu là Tổng biên tập Tạp chí, vì đồng lứa nên chúng tôi xưng hô với nhau thoải mái hơn. Ngô Vĩnh Bình thường gọi tôi là “tiến sĩ bạn” và tôi gọi anh là “đại tá bạn”. Hồi anh còn ở Lý Nam Đế, tôi và Lưu Khánh Thơ thỉnh thoảng qua nhà anh, hay đến vào giờ gần trưa nên nhìn thấy lọ lạc rang của nhà anh là dốc ra “nếm” nhiệt tình. Khi tôi có trong tay tập truyện Người đàn bà không hóa đá của nhà văn Nguyễn Thế Tường (bạn đồng môn khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp, Hà Nội) gửi tặng, tôi gọi điện cho nhà văn Ngô Vĩnh Bình nói: Thu có bài viết về tập truyện của Nguyễn Thế Tường, gửi tạp chí nhé. Ngô Vĩnh Bình trả lời: Tường cũng là bạn tôi, tôi thích truyện ngắn của hắn. Tôi đoán thế nào Ngô Vĩnh Bình cũng tủm tỉm cười khi nghe máy. Tập truyện xuất bản giữa năm 2005 thì cuối năm bài viết Nguyễn Thế Tường: Quá khứ đẹp như huyền thoại của tôi in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Giờ “đại tá bạn” Ngô Vĩnh Bình của chúng tôi đã đi xa, nhưng những kỷ niệm về anh còn đọng mãi trong ký ức của tôi và đồng nghiệp Viện Văn học.

Tôi nhớ khi anh Lê Thành Nghị về nước, là Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội, hằng tháng chúng tôi đến phòng anh xin Tạp chí. Anh thân với nhà văn Xuân Thiều, chúng tôi cũng thỉnh thoảng cùng nhà văn uống cà phê phố cổ. Năm 2000, tôi được kết nạp vào Hội Nhà văn thuộc bộ môn Lý luận, phê bình. Nhà văn Xuân Thiều, nhà phê bình Lê Thành Nghị và đồng nghiệp Lưu Khánh Thơ đã “mở” một bữa tiệc nhỏ, mừng tôi trở thành hội viên Hội Nhà văn. Anh Nghị đã tặng tôi một bó hoa hồng vàng thật đẹp và với tôi thời khắc ấy thật xúc động và ý nghĩa.

Còn một chuyện vui nữa, giờ mới kể. Thời nhà văn Nguyễn Bảo là Tổng biên tập, nhà thơ Lê Thành Nghị là Phó Tổng biên tập, tôi và Thơ không chỉ đến xin Tạp chí thành quen thân mà còn lên “kế hoạch” với mấy anh em, đều là cựu sinh viên văn khoa Tổng hợp đi đâu đó cho vui. Nhưng khi mấy đồng chí, đồng đội đang hồ hởi thiết kế chương trình thì bất thình lình hai đại tá có điện thoại của “nóc nhà”, tất cả lại trở về với hiện tại.

Theo quy luật tự nhiên, thời gian cứ vận hành và những đồng nghiệp của Ban Lý luận, phê bình Tạp chí Văn nghệ Quân đội và bên Viện Văn học chúng tôi đã đến lúc nghỉ hưu. Nhưng may mắn sao, tuổi bạc của chúng tôi vẫn được tiếp xúc với lứa tuổi xanh, với các cây bút phê bình trẻ, đầy hứa hẹn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội những năm đầu thế kỷ XXI. Đó là Phạm Duy Nghĩa, Đoàn Minh Tâm, Hoàng Đăng Khoa, Nguyễn Thanh Tâm. Không hiểu sao như cơ duyên, tôi và các đồng nghiệp của mình cũng đã có dịp quen biết nhau, tránh được sự bỡ ngỡ ban đầu giữa hai thế hệ.

Phạm Duy Nghĩa từng là nghiên cứu sinh, bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ tại Viện Văn học. Nguyễn Thanh Tâm trước đó đầu quân về 20 Lý Thái Tổ, cùng Phòng Văn học đương đại với chúng tôi. Đoàn Minh Tâm từng nghe cô Lưu Khánh Thơ giảng bài ở Đại học Sư phạm Hà Nội. Hoàng Đăng Khoa trong buổi đầu tôi gặp để tặng tập tiểu luận phê bình Văn học Việt Nam hiện đại – sáng tạo và tiếp nhận tại phòng của Phạm Duy Nghĩa ở nhà số 4 Lý Nam Đế cũng dễ thương và dễ mến.

Thời Phạm Duy Nghĩa là Trưởng ban Lý luận phê bình tôi cũng đã được in vài bài lúc thì do đặt bài, lúc thì tự gửi, hai bên tin tưởng nhau. Có kỷ niệm gắn với Nghĩa là lần đầu tiên tôi và một số đồng nghiệp cả già và trẻ được mời tham gia trại viết lý luận phê bình tại Đại Lải. Một trại viết để lại nhiều kỷ niệm giữa các nhà phê bình quân đội và dân sự đoàn kết và thân ái.

Đến lúc “tre già măng mọc”, tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa lên chức Phó Tổng biên tập, nhà phê bình Hoàng Đăng Khoa giữ chức Trưởng ban Lý luận phê bình Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Nếu hồi Phạm Duy Nghĩa phụ trách tôi có bài Các cây bút phê bình nữ sau 1975 (thế hệ thứ hai) thì sang khóa Hoàng Đăng Khoa tôi có Các cây bút phê bình nữ thế hệ thứ ba, điều ấy cho thấy Tạp chí rất quan tâm đến lý luận phê bình nói chung và nữ giới nói riêng. Mỗi lần Tạp chí ra số chuyên đề hoặc chuẩn bị Hội thảo, các thành viên trong Ban đều ân cần mời tôi cùng một số đồng nghiệp tham gia như các hội thảo: Viết về đề tài chiến tranh và hình tượng anh bộ đội Cụ Hồ (2024); Nhìn lại văn học viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước sau 50 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2025) năm 2025. Các bài tham luận của tôi đều hiện diện trong các kỷ yếu đầy công phu và dày dặn do Tạp chí biên soạn.

Như trên đã nói, lần đầu tiên tôi được mời dự trại sáng tác do Tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức tại Đại Lải (2017), lần thứ hai cũng do Tạp chí tổ chức vào tháng 8 năm 2025 tại Tuy Hòa, Phú Yên. Trại viết ở Đại Lải hội tụ những nhà nghiên cứu phê bình thuộc hai thế hệ ở các viện nghiên cứu, các trường đại học và hội văn nghệ địa phương. Mấy anh chị em cùng chuyên ngành nên dễ tiếp xúc và trao đổi chuyện nghề trong sự giao hòa thân thiết và tin cậy. Ở trại sáng tác Tuy Hòa, Phú Yên, về biên chế tham dự có cả lý luận, phê bình và sáng tác, bên cạnh những cây bút thâm niên, rêu phong là các cây bút mới vào nghề trẻ trung, tràn đầy năng lượng. Dự trại sáng tác thực chất là những chuyến đi, những cuộc gặp gỡ trước lạ sau quen, những trao đổi kinh nghiệm sáng tác, thực hành đọc và viết thật sự bổ ích và lý thú với tôi. Điều đáng nói là được tiếp xúc với sáng tác của các cây bút trẻ, lớp tuổi bạc như tôi càng kỳ vọng vào họ – lực lượng sẽ là chủ lực của văn học Việt Nam hiện tại và tương lai.

Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam nhưng tôi chưa bao giờ lọt vào danh sách dự trại sáng tác trong Hội của mình. Nói thế để thấy tại sao tôi lại gần gũi và yêu quý Tạp chí Văn nghệ Quân đội – nơi kết nối văn chương mọi miền, nơi gặp gỡ, gắn kết giữa người cầm bút trong và ngoài quân đội, giữa phê bình và sáng tác. Điều quý nhất mà 70 năm qua Tạp chí Văn nghệ Quân đội đã giữ được chính là sự kết nối ấy luôn tạo điều kiện khuyến khích và thúc đẩy những người cầm bút viết và đọc, đồng cảm và sáng tạo, giao lưu và hội nhập trong kỷ nguyên mới.

PGS.TS. Nguyễn Bích Thu