Mỗi lần có dịp đi qua con phố đông đúc với những hàng quán san sát, người xe tấp nập ngược xuôi, tôi lại vô thức ngước nhìn lên tòa nhà năm tầng khang trang của một cửa hàng lớn nằm ngay mặt phố. Giữa sự sầm uất của hôm nay, ký ức trong tôi lại lặng lẽ quay về những tháng năm rất cũ.
Nơi ấy chính là căn nhà tôi đã sinh ra và lớn lên.
Tôi sống ở đó gần ba mươi năm rồi đi lấy chồng, chuyển sang một con phố khác. Còn bố mẹ tôi gắn bó với ngôi nhà ấy hơn nửa thế kỷ. Sau khi bố mẹ mất, em trai tôi tiếp tục sống ở đó thêm một thời gian rồi cũng chuyển vào khu đô thị mới để thuận tiện cho công việc và cuộc sống.
Chỉ còn ký ức là vẫn ở lại với con phố cũ năm nào.

Ngày ấy, nơi tôi sống chỉ là một thị xã nhỏ với ba, bốn con phố chính. Nhà tôi nằm trên một trong những con phố ấy. Hơn năm, sáu mươi năm trước, đây đã là tuyến phố trung tâm nên được trải nhựa, nhưng mặt đường vẫn gồ ghề, lồi lõm, không bằng phẳng như bây giờ. Hai bên đường là những dãy cống thường xuyên bật nắp. Mỗi mùa mưa tới, nước ngập trắng đường. Tan học về, lũ trẻ chúng tôi vừa đi vừa run vì sợ sa chân xuống cống.
Nhiều đứa đã từng ngã nhào giữa dòng nước đục ngầu.
Những ổ gà sau cơn mưa đọng đầy nước. Khu phố tôi có bác Chí hay uống rượu say. Có lần bác loạng choạng bước ra giữa vũng nước ngoài đường rồi ngồi xuống cười khà khà như đang tắm ao giữa mùa hè. Lũ trẻ con đứng nhìn vừa buồn cười vừa thương. Sau này bác mất vì cảm lạnh trong một đêm mưa rét.
Những chuyện nhỏ ngày xưa giờ nhớ lại vừa xa xôi vừa nhói lòng.
Hồi ấy, người đi đường chủ yếu là đi bộ hoặc xe đạp. Tôi chỉ cần ngồi trong nhà cũng biết ai vừa đi ngang qua cửa. Tiếng guốc dép, tiếng chuông xe đạp hay dáng người quen thuộc đều trở thành một phần ký ức. Còn bây giờ, ô tô xe máy nối đuôi nhau chạy vội vã, nhiều khi người sống cạnh nhau cũng chẳng còn nhận ra nhau như trước.
Ngày ấy, cột điện ven đường còn thấp, làm bằng xi măng, không cao lớn và sáng rực như những cột điện cao thế bây giờ. Mỗi tối mùa hè, dưới ánh đèn vàng hắt xuống mặt đường, lũ trẻ chúng tôi lại tụ tập quanh chân cột điện để chơi kéo co, nhảy dây, đuổi bắt… Những trò chơi giản dị mà đứa nào cũng chạy đến vã mồ hôi vẫn chưa muốn về nhà.
Ngày đó điện nước còn thiếu thốn lắm. Mất điện là chuyện thường xuyên, có khi kéo dài cả mấy ngày. Nhưng với trẻ con chúng tôi, đó lại là những ngày đầy háo hức. Mỗi lần mất điện, mẹ lại dẫn anh em tôi ra sông Trà Lý tắm mát. Dòng sông — một nhánh của sông Hồng — khi ấy mềm mại chảy qua thị xã nhỏ như ôm lấy cả tuổi thơ chúng tôi. Lũ trẻ vùng vẫy dưới nước, cười vang cả một khúc sông, còn mẹ ngồi trên bờ vừa giặt giũ vừa dõi mắt trông theo.
Đến bây giờ tôi vẫn nhớ cảm giác mát lạnh của dòng nước sông những chiều hè mất điện năm nào.
Chiếc cầu Bo nhỏ xinh bắc qua sông Trà Lý ngày ấy giờ vẫn còn đó, như một chứng nhân lặng lẽ của thời gian. Chỉ khác là cách đó không xa, một cây cầu mới rộng lớn hơn đã được xây dựng, xe cộ đi lại tấp nập ngày đêm, điện sáng rực cả một vùng sông nước.
Hai bên bờ đê ngày trước, mỗi tối mất điện hay trời oi nóng, bố thường đưa chúng tôi lên hóng gió. Khi ấy chỉ có bóng tối, gió sông và vài ánh đèn leo lét phía xa. Còn bây giờ, dọc triền đê đã sáng ánh đèn cao áp, những quán trà đá, nước giải khát mọc lên san sát phục vụ người đi dạo, hóng mát.
Thành phố đã khác xưa rất nhiều.

Nhưng ký ức về những đêm mất điện, về tiếng cười trẻ nhỏ bên dòng Trà Lý thì vẫn còn nguyên trong tôi.
Ngày ấy điện hiếm nên nhiều trường học cũng chưa có điện thắp sáng. Những mùa ôn thi chuyển cấp, chúng tôi thường cầm theo đèn dầu đến lớp học buổi tối. Trên những con đường nhỏ, ánh đèn lập lòe trong tay đám học trò nối nhau đi học trông xa như đàn đom đóm nhỏ giữa đêm. Khi bước vào lớp, những ngọn đèn dầu ấy lại làm bừng sáng cả căn phòng học đơn sơ.
Một ký ức nghèo khó nhưng ấm áp mà đến giờ tôi vẫn chưa từng quên.
Hai bên phố ngày ấy là những mái nhà lợp ngói, lợp lá xen kẽ. Cả dãy lâu lâu mới có một căn nhà mái bằng. Mùa mưa bão tới, chuyện tốc mái hay dột nước là điều quen thuộc. Có những đêm mưa to, cả nhà phải thức để hứng nước dột, tiếng gió lùa qua khe cửa nghe hun hút đến sáng.
Khu phố tôi ở gần ngôi chợ lớn nhất thị xã khi ấy, lại gần bến xe, trường học và trạm xá nên lúc nào cũng đông đúc hơn những nơi khác. Từ sáng tinh mơ đã nghe tiếng người họp chợ, tiếng xe khách vào bến, tiếng gọi nhau í ới vang cả một góc phố nhỏ.
Bố tôi gắn bó với khu phố ấy gần cả đời người. Sau mấy đời tổ trưởng dân phố, bố làm tổ phó rồi tổ trưởng suốt ba mươi năm, từ khi ngoài bốn mươi tuổi đến lúc nghỉ ở tuổi bảy mươi lăm. Mẹ tôi vẫn hay đùa bố là người “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”. Ngày ấy cán bộ khu phố vất vả mà chẳng có chế độ gì đáng kể. Sau này cuộc sống khá hơn mới có chút phụ cấp động viên.
Đó cũng là quãng thời gian thị xã bắt đầu đổi thay.
Hàng quán mở ra ngày một nhiều hơn. Những ngôi nhà cao tầng dần mọc lên thay cho mái ngói cũ. Đường sá được mở rộng. Người dân từ nhiều nơi đổ về làm ăn buôn bán khiến phố phường đông vui, nhộn nhịp hơn trước.
Vì gần chợ và bến xe nên khu phố tôi ngày ấy cũng từng xảy ra trộm cắp, nghiện ngập. Nhưng công an khu vực cùng cán bộ khu phố luôn rất nghiêm túc, trách nhiệm và gần dân. Nhờ vậy mà phường tôi nhiều năm liền vẫn là khu dân cư tiêu biểu của thị xã.
Bây giờ trở lại, tôi gần như không còn nhận ra phố cũ nữa.
Đường đã rộng hơn, sạch đẹp hơn. Vỉa hè lát gạch thẳng tắp, hàng cây xanh được trồng ngay ngắn dọc các tuyến phố. Những khu đô thị mới, khu công nghiệp, những tòa nhà cao tầng mọc lên nhanh chóng. Thị xã nhỏ năm nào giờ đã trở thành một thành phố trẻ đầy sức sống.
Người dân hôm nay có cuộc sống đủ đầy và hiện đại hơn rất nhiều.
Chỉ là đôi lúc, đứng giữa phố đông rực ánh đèn, tôi vẫn nhớ da diết thị xã nhỏ của những ngày xưa cũ — nơi người ta còn nhận ra nhau qua tiếng guốc dép ngoài hiên, qua tiếng chuông xe đạp mỗi sớm, qua những mùa mưa ngập nước và cả những mái nhà nghèo nhưng đầy ắp tình người.
Thành phố đã lớn lên cùng năm tháng.
Và tôi cũng đã đi qua gần hết một đời người cùng nó.
HẾT
5/2026

Bài viết liên quan: