BẦU TRỜI HÌNH VUÔNG – Truyện ngắn của Nguyễn Vũ An Hòa

Trời vào thu thường mưa nhiều. Bầu trời khoác lên mình bộ mặt xám xịt và khóc sướt mướt cả ngày như một cô gái mới lớn nhiều phiền muộn.

Tôi không ghét mưa. Nhìn những giọt nước chảy thành dòng trên bầu trời hình vuông của ô cửa chớp trong nhà vệ sinh, tôi luôn thấy an yên và cầu mong khoảng thời gian này sẽ kéo dài mãi.

Thường thì trời mưa, khách đến hiệu sách thưa hơn một chút. Có điều, giờ là mùa thu – mùa của năm học mới bắt đầu, khách mua sách và học cụ, bất kể trời mưa hay không vẫn đến và đi nườm nượp, đến nỗi không khí se lạnh của cơn mưa bên ngoài chỉ mới vừa chạm chân vào cửa đã lập tức “bốc hỏa”, trở nên nóng bức kinh hồn.

Mà cũng phải thôi, hơn hai mươi mấy con người – có người còn mặc áo mưa, cùng chen chúc trong cái sảnh nhỏ diện tích chỉ hai chục mét vuông thì không nóng mới lạ!

Tôi không bao giờ quên cái cảm giác mồ hôi nhớp nháp da chẳng khác bôi mỡ ấy. Nó rin rít khó chịu và bốc một thứ mùi chua lòm – càng về tối càng nồng hơn, khiến những lúc bán hàng tôi tự thấy xấu hổ với khách, nhưng không cải thiện được. Đứng bán từ sáu giờ rưỡi sáng đến sáu giờ rưỡi tối, nghỉ trưa một tiếng, ăn vội ăn vàng rồi chợp mắt một lúc, mệt đến chẳng còn sức để tắm táp, mà có tắm, đến chiều mồ hôi lại rịn ra như cũ, không tắm vẫn hơn.

Tôi ghét mùa thu giống như cánh học trò không ưa ngày khai giảng. Đành rằng hiệu sách tấp nập đồng nghĩa với thu nhập cũng tăng, nhưng sức lực là thứ có hạn, ngày nào cũng bị vắt kiệt như một cái giẻ rách, thật tình là tôi chẳng ham.

Nhớ cái hồi mới chập chững xin việc – khi đó tôi vừa tốt nghiệp cấp ba xong, không có điều kiện để học lên Đại học nên đành phải đi làm, mà ở cái tuổi đó, đi làm cũng chỉ muốn chọn một việc nhàn hạ, thế nên tôi đã chọn công việc bán hàng.

Làm rồi mới thấy, có được đồng tiền không phải là một chuyện dễ dàng. Nào phải cứ đi về tám tiếng một ngày thì tức khắc sẽ có tiền đâu! Sáng, đến hiệu sách bằng cửa sau, nuốt trộm nuốt vội mấy cái bánh mang theo ở bãi xe, hớp chút nước rồi theo lịch trực của ngày hôm đó, nếu trực quầy tôi sẽ đi lau nhà, mở cửa hàng, bổ sung sách và học cụ từ kho, sau đó thì quần quật ra ra vào vào vừa chào hàng, vừa đi lấy đồ, vừa tính tiền cho khách. Trực quầy những ngày vắng khách thì nhàn ghê lắm, nhưng đổi lại, vào lúc cao điểm thì cực trăm bề. Như ngày hôm qua, khách ra vào không ngớt, trời lại mưa – ẩm ướt và bức bối, những đứa phải trực quầy như tôi, không ngừng tắm trong những giọt mồ hôi, đứng liên tục từ sáng đến tối, chân khi bước nhói như giẫm kim, còn giọng nói thì trở nên khàn đi, đau rát mà chẳng có chút thời gian để hớp một miếng nước. Camera được gắn khắp nơi, nếu để khách hàng phàn nàn vì đợi, nhóm trực quầy sẽ bị khiển trách, nặng nhất là trừ lương. Ấy thế nên khi ngày mới sang, được đổi ca, tôi nhẹ nhõm vô cùng.

Song song với việc bán lẻ, nhóm đóng hàng sẽ ở lại kho, nhận đơn hàng từ các khách sỉ, soạn hàng, đóng gói, viết hóa đơn rồi gửi đi giao. Trước đó, công việc đầu tiên trong ngày bao giờ cũng sẽ là vệ sinh nhà cửa. Khác với bên trực quầy, theo ca đóng hàng, chúng tôi sẽ cọ rửa nhà vệ sinh nhân viên.

Hôm nay, có mấy lô hàng mới sắp sửa được nhập về nên chị chủ bảo tôi quét dọn kho, tranh thủ sắp xếp chỗ. Công việc cọ toa lét thường ngày được giao cho Dân – chị nhân viên mới vừa vào làm tuần trước.

Không hiểu sao tôi mến chị Dân lắm, một con người hiền lành và thanh thuần như suối. Tôi luôn có cảm giác chị thật khác so với đám người làm chúng tôi. Đôi lúc tôi bỗng thấy, chị giống như một nàng tiên bị đọa, rõ ràng hơn người nhưng vì điều gì đó mà phải lâm vào cảnh ngộ này.

Tôi thi thoảng lại bắt gặp khóe mắt chị ươn ướt, vào những lúc chị tưởng rằng chẳng có ai xung quanh.

“Chị Dân ơi! Chị Dân…”

Sợ rằng chị vẫn chưa quen việc, và lo rằng khi cửa kia đóng lại, nước mắt chị sẽ bất giác rơi, nên chị chủ vừa rời đi, trở vào nhà chính, tôi liền tạt qua nhà vệ sinh, gõ cốc cốc lên tấm kính mờ phía trên cửa toa lét. Được vài giây thì Dân mở cửa ra. Chị cầm cây cọ bồn cầu, hỏi: “Gì thế Linh?”

Khóe mắt chị chưa ướt. Tôi hỏi nhanh: “Chị làm một mình có được không?”

Ánh mắt người đối diện dâng lên sự cảm kích. Và đến lúc này, tôi mới thấy khóe mắt chị long lanh. Chị dụi đi rồi gật đầu. “Được mà. Cảm ơn em. Ở nhà chị cũng có cọ mà.”

“À.” Tôi thở ra như trút đi gánh nặng, sau đó ôm cây chổi trước ngực rồi chống cằm lên cán, tôi úp mở hỏi:

“Chị này, em hỏi cái này chị đừng giận nhá. Không phải xâm phạm đời tư gì đâu, chỉ là em thắc mắc, cao nhân như chị sao lại xuất hiện ở cái nơi sách dư bụi độc này chi thế? Không lẽ chị xâm nhập thực tế, điều tra viết bài về… bóc lột lao động à?!”

“Giời! Mới sáng ra đã nói tào lao thế, nhỏ này.”

Dân giơ cây cọ toan hắt nước về phía tôi, giỡn chơi, nhưng sực nhớ xung quanh toàn là sách nên chị rụt tay lại, tiếp tục phần công việc của mình. Tôi cũng vội đưa nhẹ cán chổi, động tác khoan thai chẳng khác mấy tiên nữ quét đường. Cả hai chuyển sang trạng thái rì rầm, trong khi vẫn chứng tỏ với mấy cái camera trên trần bản thân là những nữ nhân viên mẫu mực.

“Hồ sơ của chị… em xem rồi. Xem lén thôi.”

Tôi nhỏ giọng nói tới, trong khi người lom khom cúi xuống, quơ lấy mấy cái mạng nhện đang giăng đầy dưới kệ.

“Chị học Đại học mà, đúng không? Còn tốt nghiệp xuất sắc nữa! Thế tội gì chị phải như em, lận đận ở cái xó xỉnh này?! Chỗ này… tốt nghiệp cấp ba là làm được rồi.”

Tôi không thể học lên Đại học, nên tôi ghen tị mà cũng ngưỡng mộ vô cùng những người có thể khoác lên mình tấm áo sinh viên. Mỗi lần bán học cụ cho khách, nhìn những cô cậu học trò đang háo hức chuyển mình thành những cô nàng, anh chàng sinh viên năm nhất, năm hai, tôi lại ước: Giá mà mình được đổi chỗ với họ thì hay biết mấy! Không cần phải ngày ngày bươm chải, nghe chị chủ mắng, tôi có thể được tự do sải bước trên giảng đường, học bao điều hay, làm bao điều mới, và sống với một tương lai thênh thang, rạng rỡ.

Đại học như thể một “vùng đất thánh”, mà nếu bước vào, có lẽ cuộc đời tôi đã khá khẩm hơn.

Tôi luôn nghĩ như vậy, và luôn tiếc nuối.

Thế nhưng, kể từ lúc gặp Dân và biết rằng chị xuất phát từ “vùng đất” mà tôi luôn ao ước, tôi lại bắt đầu thấy hồ nghi về giấc mơ của mình.

Rõ ràng Dân học rộng hơn tôi, chị được đào tạo bài bản, có ngành nghề đàng hoàng và tốt nghiệp xuất sắc! Vậy, cớ sao giờ chị lại ở đây, nhận một công việc chân tay với đồng lương ít ỏi, và làm cùng tôi – cái đứa chỉ tốt nghiệp được cấp ba thế này?!

Tôi thấy sợ.

Sợ rằng giấc mơ bấy lâu tôi luôn dùng để huyễn hoặc chính mình sẽ vỡ tan đi giống như bọt nước.

Không còn cái nếu như “tôi được vào Đại học”, “tôi tốt nghiệp ra trường”, “làm một công việc bàn giấy êm ả”, “cuộc sống sẽ tốt hơn”, mà chỉ có hiện thực. Một hiện thực tàn nhẫn trong hình hài của một người con gái yếu đuối vừa tốt nghiệp ra trường, ngơ ngác trước đời, đập vào đôi mắt tôi.

“Chị, chị có thấy tiếc bốn năm Đại học dài đằng đẵng ấy không? Biết bao công sức, tiền của đã bỏ ra, để rồi chị xem… công cốc cả! Chị trở lại cái vạch xuất phát của bốn năm trước, chẳng khác gì em. Ôi, mỉa mai làm sao, đi học Đại học để làm gì chứ?”

Sự thất vọng khiến miệng lưỡi tôi trở nên độc địa, lẫn đâu đó là chút hả hê khi nhìn thấy những kẻ được sung sướng hơn mình lâm vào cảnh khó khăn. Nhưng chỉ một ít thôi. Tôi đã không thốt lên những lời đó. Trong thâm tâm, tôi cũng đã phần nào tự hiểu: Chẳng ai muốn lâm vào bước đường này, kể cả là chính tôi.

Dân né tránh ánh mắt tôi, chị ngập ngừng nói:

“Mới ra trường nên chị không có nhiều kinh nghiệm, người ta không nhận, cũng không quen biết ai, thành ra…”

Nói đến đây, tự dưng chị nghẹn ngào. Có lẽ vì đã phải giải thích nhiều lần với rất nhiều người trước đây, cũng những câu như thế, nên câu từ mà chị phát ra từ lúc nào đã bị biến đổi, trở thành một thứ chất độc vô hình bám dính nơi đầu lưỡi khiến cho chủ nhân nó là Dân không thể nào nói tiếp thành lời. Thay vào đó, chị ngượng ngùng quay sang, vặn nước vào xô chứa, để mặc cho dòng chảy vô tư của nước vỗ về bầu không khí. Hay chăng, chỉ đơn giản là muốn át đi… tiếng lòng chua chát của một cô gái mới chập chững vào đời.

“… không thể nào ở nhà mãi được, việc gì chị cũng phải làm thôi.”

 

Vì có Dân vào làm nên nhóm đóng hàng hôm nay có ba người. Bình thường, tôi và chị Thanh – bà chị già thâm niên nhất ở đây, mỗi người nhận một đơn hàng rồi theo đó soạn hàng, đóng gói, viết hóa đơn, cuối cùng là gọi thằng Thiên, đưa nó đi giao. Nhưng giờ có Dân rồi, chị sẽ thay chúng tôi làm công việc soạn hàng – nghĩa là chị sẽ chạy khắp các kho, có khi trở vào nhà chính, ra đến quầy, chỉ để lấy cho đủ danh sách món mà khách yêu cầu. Gọi là khách sỉ, chứ đơn hàng cũng chỉ cỡ chục món trở xuống, vài quyển sách, vài hộp màu… lẻ tẻ nhưng tốn sức kinh khủng. Thì tại, hiệu sách nhỏ thường lấy công làm lời, chỉ khổ nhân viên thôi. Tôi thì tôi ngán đi lấy hàng hóa lắm, đến gần chiều là con mắt muốn “tẩu hỏa nhập ma”. Có điều, Dân thì hăng hái như gió, chị luôn chân luôn tay hằng giờ thật tương phản với đám người cũ rề rà chúng tôi.

“Chị, này chị, chậm lại một chút đi. Hết đơn hàng rồi, khéo làm nhanh lại bị giao thêm việc bây giờ…”

Tranh thủ vài bận Dân lướt qua chỗ tôi, tôi liền kéo chị lại, thấp giọng đề nghị.

Dân cười, rồi thể theo lời tôi, chị như cái quạt đã được giảm tốc, chỉ hoạt động ở mức cầm chừng, vừa đủ để mát lòng chị chủ, vừa đủ để đám nhân viên chúng tôi câu giờ.

Mưa vẫn còn rả rít trên mái. Nhìn vai áo ướt đẫm mồ hôi và cả mưa của Dân, tôi thấy chị tội mà cũng lạ vô cùng. Từ một người có thể gọi là thuộc về tầng lớp trí thức của xã hội, nay phải hạ mình gạt kiến thức đi, làm một công việc đòi hỏi sức lực hơn dùng trí óc, nếu là tôi, tôi sẽ thấy ngượng ngùng và xấu hổ như kẻ bị đày ải. Nhưng Dân thì khác, chị cũng ngượng ngùng, cũng xấu hổ đó, có điều chị chẳng hề khinh rẻ hay xem thường công việc chân tay chị đang làm chút nào. Ai trong hiệu sách đều có thể nhận ra, Dân hết lòng hết sức với mọi việc như thể đây chẳng phải loại công việc chị bất đắc dĩ mới phải xin vào.

Là đứa thắc mắc thì phải hỏi, đợi chị soạn hàng xong, quay trở lại nơi tôi đóng hàng, tôi liền hỏi chị về chuyện đó. Dân ngồi xuống phụ tôi dán thùng, chị trả lời thế này:

“Muốn có kinh nghiệm thì mình phải làm thôi. Thầy chị dạy, mới ra trường thì đừng quá chú trọng tiền lương, phải tranh thủ học hỏi xã hội này càng nhiều càng tốt. Chị nghĩ, thầy ấy nói không sai chút nào. Như hiệu sách này, cứ tưởng công việc bán hàng chỉ có đứng và bán hàng thôi, ngờ đâu đằng sau lại có rất nhiều việc liên quan đến thế. Thật sự rất mở mang tầm mắt!”

Tôi phì cười. “Gì mà ‘rất mở mang tầm mắt’ chứ? Chị làm như nơi này vĩ đại lắm không bằng. Nhưng việc bán hàng thì chị đã nói đúng rồi đấy. Hồi đó, em cũng ‘bé cái lầm’ y thế!”

Dân dán đáy thùng trước rồi xếp sách và học cụ vào, trong khi đó tôi viết hóa đơn. Hóa đơn gửi cho khách sỉ thuộc dạng “nhà làm”. Trước tiên, kẹp tờ giấy than vào dưới trang giấy trắng, sau đó liệt kê danh sách món hàng, tính thành tiền, tổng cộng, ký tên rồi xé ra. Bản gốc được gửi theo hàng, bản sao được lưu lại vở. Mỗi nhân viên có một quyển riêng, tiện truy cứu trách nhiệm sau này. Tôi khoái viết hóa đơn lắm, lúc ký tên cảm thấy rất “oách”, rất chi là thành đạt.

Dân thì nhìn tờ hóa đơn tôi viết bằng một đôi mắt khác.

“Chị chưa từng nghĩ hóa đơn ngoài đời lại hoạt động như này.” Chị trầm trồ. “Ở trường và lúc đi thực tập, bọn chị đều thao tác trên máy rồi in ra, không thì viết vào loại in sẵn, có nhiều liên. Hóa đơn chỗ mình đúng là… sáng tạo thật đấy.”

“Ôi dào, cái chị này…!” Tôi xua tay, cảm giác ngượng ngùng hệt như một gã gù vừa nhận lời khen tặng. “Đã bảo là, chị đừng tung hô cái nơi trần tục này bằng ánh mắt ngưỡng mộ như thế! Có chăng là mỗi nơi mỗi kiểu, hóa đơn cũng vì vậy muôn hình vạn trạng thôi. Chị đi học là học cái chung, còn ra đời thì nó phải khác chứ!”

“Ờ. Em nói phải.” Chị gật gù như cô học trò vừa được khai sáng, sau đó tủm tỉm cười. “Đúng là thực tế và lý thuyết khác xa nhiều lắm. Hồi xin việc vào đây, chị nộp cả CV lẫn thư giới thiệu bên cạnh hồ sơ gốc, nhưng chị chủ lại hỏi: Mấy thứ đó là gì?”

“Thật ra, CV… là cái gì vậy chị?”

Tôi cũng mù tịt về cái tên này. Là một loại giấy khám sức khỏe “cao cấp” chăng?

Dân giải thích ngắn gọn: “Là một loại sơ yếu lý lịch, dùng để giới thiệu nhanh chóng bản thân thông qua những từ khóa.”

“Ơ… Nếu vậy, đã có sơ yếu lý lịch kia còn gì, sao phải tốn công thế?”

Dân nói: “Các công ty lớn đều yêu cầu CV. Khác với sơ yếu lý lịch thường, CV tập trung vào kinh nghiệm làm việc, các kỹ năng mềm và thành tích đạt được – điều mà các nhà tuyển dụng quan tâm, qua đó quyết định chuyện chúng ta có được mời phỏng vấn hay không. Thầy chị bảo, CV chẳng khác gì bộ mặt người ứng viên, cần phải chăm chút và không thể thiếu được.”

“Nhưng mà,” tôi lựa lời. “Mấy chỗ như hiệu sách này, người ta chỉ cần bộ hồ sơ chuẩn thôi: Đơn xin việc này, sơ yếu lý lịch, giấy khám sức khỏe, ảnh, bản sao hộ khẩu, chứng minh thư, thế là hết.” Ở trường chị, toàn dạy trên trời thôi.

Câu cuối cùng tôi chỉ nói trong lòng.

Dân cười buồn. Có lẽ chị cũng hiểu điều này hơn ai hết:

Giữa trường và đời, thật sự là một khoảng cách xa.

 

Như tôi đã dự đoán từ trước – vì đơn hàng trong ngày đã hết nên thể nào cũng bị giao thêm việc, theo yêu cầu của chị chủ, ba người chúng tôi nối đuôi nhau trở vào nhà chính, sắp xếp lại học cụ ở các tầng.

Khác với kho – phần lớn để chứa sách, vở, ba lô và cặp xách các loại, ở nhà chính, những thùng hàng chứa học cụ như bút, sáp màu, keo, hồ, com-pa, nhãn vở… đều để hết ở đây. Nhà có năm tầng thì tầng nào cũng chật kín đồ, thậm chí còn phải mở rộng gác lửng, đến chiếu nghỉ của cầu thang cũng chất đầy đồ đạc. Mang vác nặng, đặc biệt là mấy thùng sổ hay thùng giấy A4, đi lên đi xuống giữa mấy tầng lầu, thật sự rất cực. Nó cực không chỉ vì độ nặng trong tay, mà còn bởi cái cầu thang xoắn với những bậc gần như tam giác khiến việc di chuyển càng khó gấp bội, sơ sẩy nghiêng người hay hụt chân chút thôi là cả người lẫn đồ sẽ tức khắc đổ ập xuống như con thác và lăn mòng trên những bậc cầu thang. Bình thường, thi thoảng lên xuống một, hai lần thì không sao, chứ giờ đã kéo dài thành ba tiếng không nghỉ, tôi thật sự không thể nào chịu nổi.

Vừa bê được cái thùng sổ cỡ vừa – khổ 12x17cm, chuyển lên trên tầng năm, tôi mệt lả nằm bò ra sàn, giọng uất ức rên:

“Giời ơi, cái nhà gì không biết… Muốn chứa đồ thì làm ơn đập cái cầu thang xây lại giùm tôi đi. Rụng chân rồi, làng nước ơi! Bà Ngọc độc ác đó, sổ đã nặng lại còn bắt bê lên tận lầu năm, bán ế thì thôi chứ, chuyển đi chuyển lại hoài. Sáng nào cũng tụng kinh niệm Phật mà hành hạ người ta thế hả? Đồ bóc lột!”

“Còn cô… Cô nằm đó ngáng đường bọn chị đấy. Có biết nặng lắm không hả? Tin chị mày đặt cái thùng xuống bụng cô luôn không?”

Bị chị Thanh dọa, tôi miễn cưỡng như con sâu đo rướn người trườn lên trên. Khung cửa chớp phía mạn Bắc đập vào mắt cho tôi biết, trời ngoài kia đang mưa như trút nước. Mấy tán phượng bên nhà hàng xóm đang oằn mình xuống trông chẳng khác gì chúng tôi bây giờ – không thể kháng cự, phải nhận lấy hết sức nặng của giọt đời. Lúc này, tôi bỗng nghĩ, khi tôi đang nằm ca thán cho số phận hẩm hiu của mình thì ngoài kia, cũng dưới cơn mưa này, ba tôi vẫn đang cần mẫn lát từng viên gạch, hay mẹ, với đôi bàn tay chai sần, nứt nẻ vẫn cặm cụi rửa từng cái chén, cái tô cho người ta dưới cơn gió cắt da ở quán phở lề đường. Tất cả mọi người, vào thời khắc này – bất kể mưa nắng, đều phải lao động. Nếu không lao động, con người sẽ không có cái ăn. Nhưng vì cái ăn mà phải chịu đựng bị bóc lột quá mức thì liệu rằng… điều đó có đáng hay không?

Tôi ngồi dậy, sờ cái áo đầm đìa mồ hôi đến mức có thể vắt ra được cả nước, bần thần cất tiếng:

“Hai chị này, cứ có tiền, cứ làm chủ thì muốn làm gì cũng được hết sao? Đành rằng họ bỏ vốn ra, nhưng người lao động chúng ta cũng phải có cái quyền lợi gì, ngoài lương chứ? Chúng ta có ngồi không đâu. Tiền họ có cũng phần nào từ sức lao động của chúng ta mà ra. Đây là mối quan hệ đôi bên cùng có lợi, cớ sao… chỉ chúng ta là khốn khổ thế này?”

“Hầy, kể khổ làm gì hả Linh? Cũng có thay đổi được gì đâu. Mình uất ức, mình xin nghỉ thì cũng chỉ mỗi thân mình chịu thiệt. Những kẻ như mình có đầy ra đó, mất ai thì phút chốc sẽ lại có kẻ khác trám vào. Phận lao động nghèo, ít học thì đành phải chấp nhận. Như chị này, dù đã làm ở đây được chục năm đi nữa, nhưng đến tận ngày sinh chị vẫn phải đi làm, rồi ở cữ chưa được ba tháng đã phải dựng đầu dậy – nghỉ lâu người ta cho nghỉ luôn thì sao? Quay lại, làm đầu tắt mặt tối, đôi lúc mồ hôi với sữa lẫn cả vào nhau, chị cũng uất lắm chứ! Nhưng nghĩ cho con, chị vẫn phải làm, không làm thì lấy gì mà nuôi chúng nó? Ai bảo… chúng ta rẻ mạt đến như thế!”

Thanh cay đắng thốt một tràn rồi quay đi, chị hầm hầm bước tới camera – cái camera màu trắng gắn phía trên kệ tủ, đối diện với con mắt lạnh lẽo nãy giờ vẫn ghi hình chúng tôi, chị khua tay múa chân rồi mắng xối xả vào đó.

Dân đặt cái thùng sổ cuối cùng xuống ngay cạnh chân tôi, chị thở dốc hỏi:

“Camera đó… có ghi tiếng được không?”

“Hên xui.” Tôi bật cười chua chát.

Cả hai trầm ngâm nhìn người chị lớn trút bỏ bực dọc, cảm thấy chị như đang phần nào thốt lên giùm những tiếng lòng ai oán giúp cho hai chúng tôi.

“Ở chỗ mình… đâu có được đóng bảo hiểm đâu ha? Nếu được làm cho xí nghiệp hay các công ty lớn, giờ chắc chị ấy vẫn còn ở nhà, nhẹ nhõm đôi phần nhờ số tiền thai sản. Những lao động như mình… thật tội biết bao.”

Giọng của Dân nghẹn lại. Tôi không nhìn chị nhưng vẫn biết rõ nước mắt chị đang rơi. Chị nói, nếu tốt nghiệp ra trường rồi dễ dàng tìm được một công việc ổn định, được hưởng bảo hiểm, trợ cấp đầy đủ, chắc chắn chị sẽ không bao giờ hiểu được cảnh ngộ của những lao động phổ thông như chúng tôi. Chúng tôi không được đóng bảo hiểm, tai nạn lao động thì tự lo, còn nghỉ việc thì chẳng có gì cả. Giờ Dân thấy rồi, cũng hiểu rồi, nhưng làm gì được đây? Chị chỉ có thể bất lực thương xót cho chính mình, cho chúng tôi và cả hàng triệu con người cũng ở trong cảnh ngộ như thế.

“Một ngày nào đó…” Dân vừa thút thít vừa nói. “Nếu chị trở thành chủ, thành một người chị luôn muốn trở thành, chị chắc chắn sẽ không bao giờ quên những người như chúng ta. Chị sẽ đóng bảo hiểm, trợ cấp cho mọi người đầy đủ, cho nghỉ có lương mỗi tháng một lần rồi còn tổ chức đi du lịch nữa…”

“Ái chà, vậy khi đó, chị nhớ phải thuê em vào làm đấy!”

Tôi dặn trước, cũng tự nuôi trong mình một giấc mơ, một giấc mơ không nhất thiết phải vào Đại học nữa, chỉ cần được nhận vào làm ở một công ty có đầy đủ chế độ, được nghỉ ngơi đàng hoàng, như vậy là đủ rồi. Rồi sau đó… tôi hối hả đứng dậy. Chưa gì mà đã nghe giọng chị chủ oang oang phía nhà dưới:

“Mấy chị em, ai rảnh thì xuống bê mấy cây vở ở cổng vào kho nha! Thằng Thiên bận đi chở hàng rồi.”

“Dạ!!!”

Tôi thay mặt nhóm ló mặt xuống đáp ngọt xớt, sau đó quay đầu lên, cười thâm sâu với hai người chị rồi hào sảng đề nghị:

“Thôi. Để em đi cho. Hai chị nghỉ chút đi. Thanh, có muốn vắt ‘sữa bò’ thì giờ là lúc đó!”

“Con nhỏ kia.” Thanh mắng. “Chị mày vắt từ nãy rồi nha! Sữa ngon ngọt thế mà dám ví với bò là sao hả?”

“Ôi dào, xem mèo khen mèo kìa…”

Tôi làm bộ giễu Thanh cho khây khỏa rồi quay sang nói nhỏ với Dân, thấy chị nãy giờ vẫn thở không ra hơi, sắc mặt tái nhợt nên tôi đành tiết lộ: “Chị trốn ra sau mấy thùng bút lông dầu mà ngồi. Chỗ đó khuất tầm camera nên chị chủ không nhìn thấy đâu. Không thì vào toa lét. Bật mí cho mình chị biết thôi, mỗi lần mệt quá là em cứ vào đó trốn…”

“Ờ, phải rồi.” Gọi là nói nhỏ nhưng Thanh đứng bên vẫn nghe rõ mồn một. Chị khoanh tay mắng: “Lần nào vô đó, cô chẳng ngồi ở trỏng cả tiếng. Đập cửa phát mệt có chịu mở ra đâu, chờ mà muốn hư cái bàng quang luôn!”

“Chị này, mất vệ sinh quá đi! Em ngồi có mấy phút chứ mấy! Em đâu dám để chị ôm việc. Chị phải biết ơn, em là đứa trốn việc có tâm đấy…”

“Ờ thì… có tâm. Có tâm thì mang luôn mấy cái giấy thùng này nhét vào kho giùm đi.”

Sau khi chất hàng lên kệ, số thùng chứa sẽ được xếp gọn, cất vào kho và được tái sử dụng khi đóng hàng cho khách. Theo lời Thanh, tôi nhanh chóng dạo quanh tầng, thu lấy mấy cái giấy thùng đang bỏ ngổn ngang rồi ôm lại toan mang xuống dưới. Dân không nghỉ mệt mà phụ tôi một tay. Bà chị này lúc nào cũng hăng hái như thế!

Đúng lúc tôi vừa dứt khỏi cái suy nghĩ ấy thì Dân đột ngột ngã ầm xuống mấy thùng hàng đằng sau, đầu chị đập mạnh vào kệ bút gần đó khiến chục lon bút ào ào rơi xuống.

“Trời, sao thế Dân?”

“Chị…”

Tôi và Thanh nhanh chóng len qua mấy thùng hàng ào đến chỗ Dân. Thanh nâng đầu chị lên, trong khi tôi vội vã rút mấy hộp sáp màu bên dưới đang bị cơ thể chị đè lên, để sang bên, tránh móp méo hay bị xổ ra, không bán được phải đền. Than ôi! Giây phút đó chúng tôi thật mau lẹ mà cũng quyết đoán đến lạnh lùng, từ lúc nào sinh mạng con người lại ngang bằng với những hộp sáp màu như thế?!

“Không sao đâu chị…”

Dân yếu ớt mở mắt ra. Mồ hôi trên trán chị trượt qua kẽ mắt rồi rơi xuống dưới, lan thành một vệt tròn màu nâu sẫm trên nền thùng các-tông.

“Em… chỉ hơi choáng tí thôi.”

“Vậy hả?” Thanh thở phào nhẹ nhõm. “Làm chị hú hồn à. Mà ăn sáng chưa? Khiêng mấy cái này mà không ăn là tiêu luôn đó!”

“Chị bị tuột huyết áp rồi.”

Tôi tiếp nối lời Thanh với chất giọng chắc nịch của người giàu kinh nghiệm.

“Hồi mới vào làm, ngay ngày đầu tiên là em đã ngất rồi. Chị trụ được tới giờ là… giỏi lắm đó!”

“Ở đó mà khen!” Thanh gõ trán tôi. “Mọi chuyện ổn rồi, xuống dưới nhanh đi, khéo ‘Ngọc nữ’ lại cất giọng nữa đấy!”

“Ôi, đến khổ với cái chỗ này…”

Tôi ôm mớ thùng các-tông đi, lại vẩn vơ nghĩ: Nếu giờ tôi ngất ở đây thì chị chủ có cho phép nghỉ có lương không nhỉ? Nhưng dào ôi làm gì có chuyện đó. Bao lâu nay, chúng tôi váng vất đầu, ngã xuống, bần thần một lát rồi lại tự đứng lên, làm tiếp. Dân ấy, rồi chị cũng sẽ quen với chuỗi mệt mỏi này giống chúng tôi thôi.

Nhưng không, hóa ra… tôi đã lầm.

Dân ngất đi ngay sau đó. Chị không mở mắt nữa, không tỉnh nữa.

Và tôi nhìn thấy, chiếc xe cấp cứu trắng sáng đỏ đèn ngay trước cửa hiệu sách, dưới làn mưa căm… đưa chị đi.

 

Sau một tuần đóng cửa vì sợ bị chỉ trích, hiệu sách đã hoạt động trở lại. Mọi công việc tuần tự như trước, không có gì đổi khác, điểm khác duy nhất là Dân đã không còn.

Chị mất rồi. Mất vì kiệt sức.

Còn chúng tôi – những nhân viên ở lại, vẫn phải tiếp tục với phần việc mà chị không thể làm, và sợ hãi – sợ cho chính mình, cho người thân của chúng tôi, sợ rằng ai đó sẽ trở thành cái tên kế tiếp bị Thần Chết cướp đi, đột ngột và bi thương, nhưng lại chẳng thể nào tránh khỏi.

Thật xót xa, thật đớn đau khi chúng tôi đã ca thán nhiều lần, nhưng thực lòng lại chẳng hề tin làm việc quá sức có thể lấy đi sinh mạng của con người. Ra sức lực không phải thứ vô hạn, nó chỉ có thể cầm cự đến một khoảng nào đó, rồi giống như giọt nước tràn ly, con người ta ra đi mà không hề báo trước. Đau thương. Day dứt. Nhưng cũng thật bất lực – biết rồi cũng đâu làm khác được! Chúng tôi – những người lao động nhỏ bé trong cái xã hội này, thật yếu đuối khi không thể nào từ bỏ cái thòng lòng chết chóc vì đồng tiền mưu sinh.

Hôm nay, tôi lại trốn vào nhà vệ sinh, ngước nhìn bầu trời vuông nhỏ bé ướt sũng mưa của khung cửa chớp, lại thêm một ngày mưa, một ngày ảm đạm bị vắt kiệt sức như bao ngày trước đó, chẳng thể kêu ca…

Nhưng tôi không buồn nữa.

Chẳng còn chút cảm xúc nào cả.

Khi nhìn lên bầu trời hình vuông ấy, tôi như thấy mình trong bóng dáng của một con ếch, một con ếch khác với truyện cổ, biết rõ bầu trời chẳng phải hình vuông, biết rõ nơi này bóc lột thế nào, và biết rõ, bầu trời ngoài kia rộng lớn mà gian khó ra sao. Thế nhưng…

Tôi không thoát ra được.

Chưa thể thoát.

Con ếch phải nhảy, nhảy đến khi vượt qua được miệng trời hình vuông ấy mới thôi, hoặc không, nó sẽ chết…

… chết ngay trong bước nhảy cuối cùng.