
Tháng Chạp, gió lạnh từ đỉnh Trống Páo Sang thổi về, trườn qua từng khe núi, rít qua vách đá tai mèo xám ngắt, mang theo cái rét sắc như lưỡi dao lùa vào da thịt. Trên con đường quanh co dẫn vào bản Tà Chí Lừ, một bản cheo leo giữa tầng mây. Sương sớm giăng mờ như khói bếp, phủ trắng lối đi, lẩn khuất những mái nhà mốc thếch nằm rải rác bên sườn núi. Khi mặt trời còn chưa kịp vượt khỏi đỉnh Trống Páo Sang sừng sững, vài cành tớ dầy đã bắt đầu bung nụ. Loài hoa ấy, mỏng tang, phơn phớt hồng, như thoa chút má hây hây cho núi đá. Hoa không nở rực, không dày đặc, mà lặng lẽ tỏa ra từng chùm thưa thớt, giữa những cành khô cằn như xương. Nhưng chính cái thưa thớt ấy lại khiến không gian thêm trống trải. Nó giống cái se lòng khi Tết về mà trong nhà chẳng có tiếng trẻ con, chẳng có mùi bánh dầy, chẳng có một hơi ấm chờ đợi.
Tớ dầy ở đây không cần ai chăm, không cần ai bón. Nó mọc từ kẽ đá, từ gốc cây khô, từ những chỗ tưởng như sự sống đã bỏ đi. Người vùng cao bảo: “Chỉ những thứ đủ dai dẳng, đủ gan lì mới sống được trên đất đá này. Cây tớ dầy là một trong số đó giống như người vùng này vậy.”
Ở cuối bản Tà Chí Lừ, nơi con suối nhỏ vẫn róc rách ngày đêm chảy qua khe đá, có một căn nhà nhỏ lụp xụp lợp ván pơ mu thâm xì, vách gỗ chuyển sẫm màu loang lổ vì mưa gió. Đó là nhà của Thào, người đàn ông đã gần bốn mươi, hắn sống với mẹ già. Hắn gầy, cao, da rám nắng. Trong bản, ai cũng biết hắn, nhưng không ai thật sự thân. Các bà vợ thường ngăn chồng không nên chơi với hắn. Cho dù Thào không bài bạc, không làm nhưng chuyện xấu, nhưng rượu thì gần như là số một của bản. Hắn lân la khắp bản, ở đâu có rượu là xà vào đến quên cả công việc gùi ngô, đốn củi… đến cái nhà nhỏ lụp sụp cũng không lên rừng vác gỗ về sửa… Có rượu, hắn quên cả việc dắt khách du lịch vượt dốc đầu bản đi thăm đồi hoa trên đỉnh Trống Páo Sang. Kiếm được đồng nào hắn ưu tiên mua rượu trước đã. Bảo sao, tuổi hắn, trên bản đã vợ con đề huề thậm trí có người còn có cháu rồi. Còn hắn, vẫn lang thang khắp bản, chẳng nhà nào dám gả con gái cho. Vì thế mà người ta gọi hắn là “thằng nghiện.” Có người bảo hắn “cô độc”. Cũng có người bảo: “hắn giống cây tớ dầy lặng lẽ và lạnh.”
Mẹ hắn hay nhắc chuyện lấy vợ. Hắn chỉ cười nhạt: “Giờ ai còn thèm lấy cái thân nghèo rớt mồng tơi này, quanh năm chỉ có đá và khói bếp.”
Có lần đi rừng về, Thào đứng lặng nhìn cây tớ dày mọc ven khe đá sau nhà, rồi thở dài: “Đời người cũng như hoa tớ dầy, nở rực đấy… nhưng gió thổi là rụng sạch, chả báo trước.”
Bản Tà Chí Lừ đang độ cuối năm. Nhà nhà bận bịu dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị giã bánh, dựng cây nêu. Tiếng chày giã bánh vọng ra từ sân đất mỗi chiều muộn. Trẻ con, chạy chơi giữa hoa tớ dầy và vài bụi ngô khô còn sót lại sau vụ. Thào vẫn đi về, bước đi nghiêng ngả như thể Tết chưa hề chạm vào mái hiên nhà hắn.
Sáng hôm ấy, trời đổ mưa rầm rì. Thào khoác chiếc áo khoác cũ, đội mũ nỉ bạc màu xuống chợ Ngã Ba Kim. Chợ tấp nập là vậy, nhưng với hắn, mọi thứ chỉ là cái nhìn lướt qua. Hắn không vào quán rượu như mọi khi, chỉ mua chai rượu, mấy lạng thịt, rồi quay về. Khi đến đoạn rẽ vào con dốc đầu bản, giữa những cánh hoa tớ dầy lả tả bay rớt xuống mặt đường, một điều lạ lùng đã khiến chuyến đi của hắn không còn là cuộc trở về như mọi ngày…
Gió núi thổi vùn vụt qua dốc, mưa thấm ướt mũ cả cái áo khoác. Thào bước chậm. Đường trơn, lạnh xuyên qua đế giày vải đã bị thủng gót. Hắn leo ngược gần hết con dốc đầu bản thì một cái áo che mưa, mảnh áo mưa màu trắng đã sỉn màu đất được gói chặt nằm dưới cái rãnh ven đường, vài cánh hoa tớ dầy mới rụng phủ lơ thơ trên mặt. Hắn cúi xuống nhặt lên che tạm cho khỏi ướt thêm. Nhưng khi mở ra, hắn khựng lại: “bên trong là một xấp tiền dày, toàn tờ năm trăm ngàn.” Hắn liền lẩn vào phía sau bụi cây, đếm sơ sơ, rồi giật mình vì thấy một tờ tiền còn bám vết đỏ của máu đã khô két vào. Lẫn trong đám tiền là một tấm ảnh. Một đứa bé trai người Mông, chừng sáu, bảy tuổi gì đó? Má lấm nhọ nồi, ánh mắt sáng nhưng buồn sâu hút. Cái buồn không phải của trẻ con, mà như từ đời trước dội lại.
Thào như mở cờ trong bụng. Cả tuần nay hắn đang đòi mẹ bán hai mẹ con con trâu để mua chiếc xe máy cũ. Có xe, sẽ tiện đi lại và chở khách du lịch kiếm thêm, đi xa không sợ lỡ đường… Trong đầu hắn chợt thoáng một ý nghĩ: “Phải chăng ông trời thương mình? Quà cuối năm cho mình đây ư!”
Hắn đưa mắt nhìn quanh. Không người! Không dấu chân mới. Chỉ có mưa, đá, cỏ cây và vài cánh hoa tớ dầy rụng ướt át giữa lối đi. Gió thốc qua, khiến cổ tay hắn lạnh buốt.
Thào lẩm bẩm: “Trời ơi, thương thì thương sớm sớm, để người ta khỏi còng lưng suốt bao năm!”
Rồi hắn nhét cục tiền vào túi áo, đi ra đường để về. Nhưng đúng lúc đó, tấm ảnh lại trượt ra. Hắn thấy, đứa bé nhìn hắn. Không trách móc. Không giận dữ. Chỉ buồn,.. buồn đến quặn thắt.
Hắn bỗng chửi thề: “Nhìn cái gì mà nhìn? Tao có ăn trộm đâu!” Rồi lại chửi thêm một câu mà không thành tiếng, như để dằn xuống thứ gì đang trào lên trong lòng. Nhưng ngón tay hắn run run, môi mím chặt. Hắn ngẩng lên, nhìn hoa đào đang bay lả tả như khói hồng giữa mưa. Có cánh mắc vào cổ áo hắn, lạnh ngắt. Nhẹ đến mức không biết là hoa, là mưa, hay là một lời gọi từ đâu đó.
Một bóng người đi ngược lên triền dốc. Hắn quay đầu. Bóng người đang tiến lại gần chỗ hắn. Là đàn bà. Người nhỏ thó, áo mưa làm từ túi nilon ghép lại, đầu trùm khăn Mông đã nhuốm màu đất núi, chân đất lấm bùn. Chị ta lầm lũi ngược dốc, mắt ráo hoảnh nhìn hai bên vệ đường, cả các gốc cây, khe đá, bờ cỏ…
Như đoán biết được, Thào liền bước ra giữa đường:
– Tìm gì mà như mất hồn thế?
Chị giật mình, ngập ngừng:
– Tôi… tôi đánh rơi một cái bọc…
– Bọc gì thế. Hắn hỏi xẵng!
– Bên trong có tiền…
– Nhiều không?
Chị gật đầu, giọng lạc đi:
– Gần ba mươi triệu.
– Trong bọc còn có gì nữa không?
– Có ảnh con trai tôi, nó bị ốm nằm dưới viện… Tôi vay mượn, bán hết gà lợn rồi chạy xuống bệnh viện. Bác sĩ bảo: “Còn nước, còn tát.” Mà… khả năng xấu cũng phải chuẩn bị…
Chị nói rồi cúi đầu. Hai tay run, môi tái dại. Thào lặng người. Một lúc lâu, hắn lôi bọc tiền ra, đưa về phía chị.
– Cầm lấy. Áo mưa thì… tôi mượn che tạm. Lạnh quá!
Người đàn bà gầy gò mừng rỡ, hai tay như chộp lấy gói tiền. Cô ôm ghì vào ngực. Nước mắt chan hoà. Miệng líu ríu không nên lời. Chị bất thần quỳ sụp xuống mặt đường, cầm bọc tiền vái lậy về phía hắn như con người vừa chết đi được sống lại lần hai: “Cảm ơn anh… cảm ơn trời đất…”
Thào vội đỡ chị ta dậy:
– Ai bảo chị lậy tôi? Tiền là của chị, tôi nhặt được thì tôi trả lại chứ!
Hắn quay mặt đi, hình như cũng muốn giấu đi sự xúc động đang trào dâng trong mình, giọng gắt khẽ: “Khóc ít thôi, ướt hết áo rồi…!”
Rồi hắn nói thêm, nửa đùa:
– Với lại… ánh mắt thằng nhỏ trong ảnh nhìn tôi ghê quá. Như bắt quả tang tôi đang làm điều xấu!
Chị cúi đầu chào bằng tiếng Mông, rảo bước xuống dốc. Dáng chị nhỏ dần trong sương mù và cánh hoa tớ dầy rụng như cánh bướm lìa cành.
Tối đó, Thào ngồi rất lâu bên bếp. Mưa lất phất. Cây tớ dầy trước sân nhỏ nước. Ngọn lửa cháy lép bép… Mẹ hắn khẽ hỏi:
– Nay mày lại đi uống rượu à mà về muộn?
– Không, con gặp chuyện bên đường.
– Mất tiền à?
– Không!
Hắn nhìn vào đống than cháy đỏ. Lâu lắm rồi, hắn mới cảm thấy trong ngực mình có một chút gì đang âm ấm. Như một mầm non bật lên từ đá lạnh. Như cánh hoa tớ dầy nở ra trong lòng, hắn định kể lại chuyện cho mẹ nhưng lại thôi.
Trên bàn thờ nhỏ trong nhà, ngoài cành tớ dầy cắm trong ống tre là tấm ảnh của bố hắn người đàn ông mất sớm trong một lần đi chợ về trượt chân rơi xuống vách đá… Bức ảnh cũ, mờ nhòe, nhưng trong ánh mắt vẫn còn lấp lánh điều gì đó rất giống ánh mắt của đứa bé trong bức hình mà hắn từng nhặt được. Thào rùng mình. Lần đầu tiên hắn thấy ký ức từ người đã khuất vọng lại gần đến vậy. Hắn ngồi thẫn thờ bên bếp lửa. Bên ngoài trời chưa sáng hẳn. Mùa xuân về trên đá, ồn ào không phải bởi tiếng người, mà bởi tiếng lặng của lòng.
Mấy hôm sau, Thào lên dốc đá phía sau nhà, nhổ mấy cây tớ dầy nhỏ định trồng thêm ngoài sân. Khi đào đất, hắn thấy bàn tay mình run run. Đất vùng cao cứng như gỗ, đá nhiều, nhưng chỉ cần chạm được lớp đất ẩm phía dưới là rễ có thể sống được. Giống như người vùng này chỉ cần một nơi neo lại, họ sẽ bám trụ.
Buổi tối, hắn cắm xong hàng tớ dầy mới trước cửa nhà. Mưa rừng cuối năm lất phất. Những cánh hoa đậu trên vai hắn, tan vào làn tóc đã lấm tấm bạc. Bà mẹ ngồi bên bếp nhìn ra, khẽ hỏi:
– Năm nay, có định xuống Mù Cang Chải chơi Tết không? Bà hỏi vậy ý muốn nó đi tìm vợ dưới chợ.
Thào gật đầu:
– Con tính xuống… có việc phải ghé qua bệnh viện. Hắn không nói thêm. Nhưng từ lúc nhặt được bọc tiền hôm ấy, ánh mắt thằng bé trong tấm ảnh cứ theo hắn mãi, như một câu hỏi chưa kịp trả lời!
Bà cụ nhìn con, không nói gì, chỉ gật đầu rồi xoay người nhóm lại lửa.
Sáng hôm sau, Thào không lên nương như thường lệ. Hắn gùi theo mấy chiếc bánh dày mẹ giã từ tối, một chai rượu ngô nhỏ và ít rau rừng còn ướt sương. Con đường xuống bệnh viện đông hơn mọi ngày. Người đi chợ Tết, người xuống viện, người gùi hàng. Thào đi lặng lẽ giữa dòng người, bước chân nặng như mang theo cả sườn đá trên lưng. Hỏi mãi, hắn mới tìm được khoa cấp cứu. Đứa bé nằm ở giường cuối, sát cửa sổ nhìn ra con suối Kim Nọi sau bệnh viện. Người nó nhỏ thó, thở yếu, môi tái. Người đàn bà ngồi bên, đầu cúi gập, hai tay nắm chặt mép chăn.
Thào đứng sững. Đứa bé trong ảnh… giờ nằm đó, thật hơn, nhìn nó mỏng manh hơn những đứa trẻ cùng tuổi.
– Tôi… tôi nhặt được tiền của chị hôm trước… Thào nói khẽ, như sợ làm đau không khí.
Chị ngẩng lên, nhận ra hắn. Mắt chị đỏ hoe nhưng không khóc: “Nó giờ yếu lắm rồi…” chị nói, giọng như gió thổi qua khe đá.
Từ hôm ấy, Thào ở lại viện. Ban ngày, hắn theo phụ hồ gần bệnh viện, khuân gạch, trộn vữa. Đêm đến, hắn thay người đàn bà trông con. Có khi đứa bé sốt cao, hắn ngồi ôm cả đêm, tay đặt lên trán, thì thầm những câu tiếng Mông vụng về mà hắn nhớ được từ mẹ ngày xưa. Những lúc thằng bé tỉnh, nó mở mắt nhìn hắn, ánh nhìn không còn buồn sâu như trong ảnh, mà yếu ớt nhưng có chút gì đó bám víu.
Người đàn bà ít nói. Chị chỉ lặng lẽ nấu cháo, giặt áo, lau người cho con. Thào dúi vào tay chị ta hơn một triệu, ban chiều vừa được chủ thầu trả công hắn mấy buổi xách vữa, vác gạch ở cuối chợ.
– Tiền công của tôi đấy! Cầm mà mua thuốc.
Chị lắc đầu:
– Anh đã giúp mẹ con tôi nhiều rồi.
– Tôi còn sức.
Thào nói tiếp: “Còn sống được thì còn làm được.”
Một tuần, rồi hai tuần. Tiền vơi dần, sức cũng vậy. Nhưng Thào không bỏ đi. Cho đến một đêm mưa nặng hạt, đứa bé tỉnh dậy nắm tay Thào, thì thầm: “Chú ơi, đừng cho con ngủ nữa…” Thế rồi, đứa bé cứ lịm dần,.. lịm dần. Bác sĩ đứng bên giường, lắc đầu.
Người đàn bà gục xuống, khóc không thành tiếng. Thào đứng như bị đóng cọc giữa hành lang trắng toát mùi thuốc sát trùng.
Đứa bé ra đi khi hoa tớ dầy ngoài sườn núi quê hắn chắc đang nở rộ.
Họ chôn thằng bé ở mảnh đất sau viện. Ở đó có một nghĩa trang nhỏ dành cho người mất ở viện mà không có điều kiện đưa về bản. Thào là người xắn đất, đặt nắm đất đầu tiên xuống. Người đàn bà quỳ bên mộ, tay bấu vào đất, vai run lên từng hồi.
– Nó chưa kịp nhìn thấy Tết… – chị nói.
Thào đặt bên mộ túi bánh dày và gói hạt giống tớ dầy mang từ nhà.
– Sang năm… hoa sẽ nở ở đây. – hắn nói.
– Trên đá, vẫn sống được.
Rồi mùa hè tràn qua bản Tà Chí Lừ. Thào trở lại với nương ngô, nhưng cây măng đã xanh lá trên ngọn. Mọi thứ vẫn vậy, nhưng hắn không còn lặng lẽ như trước, hắn không còn uống rượu như trước nữa. Đôi khi, hắn đứng rất lâu bên cây tớ dầy trước sân nhà, nhìn hoa rụng, rồi nhặt từng cánh khô bỏ vào túi áo.
Một chiều, có tiếng người trước cổng. Người đàn bà bước vào sân, gầy hơn, da sạm đen nhưng ánh mắt đã bớt hoang lạnh. Chị mang theo bó cải và chiếc bánh dầy đã khô.
– Em đi làm dưới Nghĩa Lộ. Đi thắp hương cho thằng bé, rồi… ghé thăm anh.
Thào mời chị ta vào nhà. Mẹ hắn nhóm bếp. Ba người ngồi lặng bên lửa, không ai nhắc chuyện cũ.
Khi chị đi, Thào đứng ở bậc cửa, nói chậm rãi:
– Nếu cô không chê… thì ở lại đây, núi quen hơi người rồi.
Chị không trả lời, chỉ cúi đầu. Mùa đông năm ấy đến chậm. Gió núi không gắt như mọi năm, chỉ lùa nhẹ qua hiên nhà, mang theo mùi đá ẩm và khói bếp quen thuộc. Cây tớ dầy trước sân nở muộn. Hoa không nhiều, cánh mỏng, rơi thưa thớt trên nền đất lẫn vào cỏ và lẫn sương núi.
Một buổi sáng, khi Thào đang sửa lại cái chuồng gà sau nhà, hắn nghe tiếng động khẽ ngoài cổng. Không phải tiếng gia súc, không có tiếng gọi. Chỉ là âm thanh rất nhẹ, như có gì chạm vào hàng rào gỗ.
Hắn ngẩng lên. Ngoài lối mòn dẫn vào sân, có một chiếc gùi treo trên bờ rào cạnh gốc tớ dầy. Trong gùi là ít rau rừng còn ướt sương, một tấm áo mưa cũ đã ngả sang màu của đất núi, một gói giấy nhỏ gói hạt giống tớ dầy. Không có ai ở đó.
Thào bước ra hiên. Gió thổi, một cánh hoa tớ dầy rơi xuống vai áo hắn, lạnh nhưng không buốt. Hắn cúi xuống nhặt chiếc áo mưa, nhận ra vết rách cũ ở mép tay đúng chỗ hắn từng che mưa hôm nào. Hắn biết ai đến, hắn không gọi, cũng không nhìn theo lối mòn xuống dốc.
Buổi tối, bên bếp lửa, mẹ hắn thấy chiếc gùi lạ đặt cạnh vách gỗ, bà khẽ hỏi:
– Nhà có khách à?
Thào chỉ lắc đầu, đưa thêm một thanh củi vào bếp. Lửa bùng lên, ánh hồng hắt lên loang lổ vách gỗ. Ngoài hiên, hoa tớ dầy vẫn rơi, chậm rãi, lặng lẽ.
Ở vùng núi đá lạnh này, có những cuộc trở về mà bước chân không cần chạm ngõ, không cần lời chào. Chỉ cần một chiếc gùi đặt lại, một cánh hoa rơi đúng chỗ, cũng đủ để người ta biết:
“Mùa xuân đã ở rất gần.”


Bài viết liên quan