
Am Gió nằm ở lưng chừng núi Do. Đường đi không dốc đá phủ rêu trơn thì cũng lùm bụi um tùm, cây huyết ma độc đan bện tầng tầng lớp lớp thành tấm thảm dày chắn lối. Vầu quảy gánh gạo muối lầm lũi đi trước. Người già dưới núi bảo không có hắn dẫn thì vô phương tìm. Phàn bước theo như bị thôi miên, mắt dán chặt vào tấm lưng vuông và khổ người ngắn đến kỳ lạ. Đôi bàn chân to bè nện vào đất thình thịch nhưng rất nhanh nhẹn, hai tay thòng có thể chạm đất đang dang ra lòng khòng. Dân gian kể hồi sinh ra Vầu dị hình dị dạng, người đầy lông lá, má Vầu chảy kiệt máu mà chết. Người cha làm nghề ăn gỗ trên miền sơn cước cũng bị cây đè thổ huyết chết tươi. Năm ấy chị Liêu mười sáu tuổi.
Mấy lần người chị ôm em bỏ trong núi, có đận giấu tận thâm sơn cùng cốc. Nhưng thể nào mà sáng ra lại thấy bầy sói lang thi nhau tha Vầu về. Giết em thì chị Liêu chưa dám vì cứ bị ánh mắt tha thiết khẩn cầu của Vầu nhìn xoáy vào lương tâm. Cũng may người thiếu nữ ngày ấy vẫn còn lương tâm nên đành nuôi nấng đứa trẻ.
Vầu sống thui thủi, nói ít, thường quan sát. Hắn có đôi mắt rất tinh. Mỗi khi đôi mắt ấy nhìn thẳng ai, nếu trong tâm kẻ đó chứa điều tà ác sẽ đứng ngồi không yên, chân tay bủn rủn. Nhưng ở với chị Liêu và thằng nhân tình ẻo lả mà chị đem về cung phụng Vầu luôn phải cụp mặt xuống, chị đe: “Hễ mày ngước nhìn lên tao sẽ móc mắt cho chó tha”.
Khi Phàn đến tìm, chị Liêu có nghề làm tàu hủ bỏ mối đang pha thứ bột trắng mịn vào cái gàu nhựa đóng đầy bợn đổ vào nồi nước đậu bốc khói, nói không nhìn đứa em: “Cơm trong chạn. Mày một nửa, con Ki một nửa”.
Vầu xuống bếp. Hắn bưng tô cơm nguội trộn lẫn xương xẩu ra cửa sau sớt vào chén con Ki. Chị Liêu hất nhẹ mặt về phía mâm đầy thịt cá thơm ngon âu yếm nhìn thằng ẻo lả, giọng cưng nựng: “Mình ăn cho nóng”.
Vầu nhai một loáng đã hết nửa tô cơm, phủi đít đứng lên. Nhìn những miếng đậu trong khay, hắn gằn từng chữ: “Đồ thất đức”.
Vớ được con dao lụt, chị Liêu phi về phía cơ thể đang cử động. Máu rịn ra. Đúng lúc Phàn bước vào. Chị Liêu xởi lởi: “Nhờ dẫn đi Am Gió hả?” Thoả thuận xong giá cả chị Liêu giật luôn mấy tờ giấy bạc cho vào túi: “Đưa đây. Nó không biết xài tiền”. Quay mặt về phía Vầu, chị nói khẽ: “Làm không được việc thì không cần về cái nhà này nữa”.
Mười ba tuổi Vầu đã thuộc núi như Phàn thuộc biển. Hắn thường vào rừng hái thuốc cho cơ sở nhân đạo chữa bệnh cứu người. Trong lòng núi đặc biệt là thổ nhưỡng vùng Am Gió là chốn sinh sôi của linh chi, bạch đậu khấu, ngọc cẩu và nhân sâm. Xưa cũng đông kẻ đêm ngày quần thảo xé núi Do, nếu không phải đôi mươi năm trước trên ấy xảy ra án mạng hẳn giờ này Am Gió đã thành đồi trọc.
Chuyện rằng có đôi nam nữ yêu nhau nhưng bị gia đình ngăn cấm. Trong lúc quẫn trí, họ rủ nhau lên núi gieo mình. Nhưng rồi chỉ thấy người con gái nhảy xuống. Còn anh người yêu của nàng, sau này có kẻ ăn rừng vừa lúc đi ngang qua kể lại: bắt gặp chàng rúm ró cắt không còn hột máu sau pha chới với tưởng đã xong đời. Chàng xoa ngực thở dốc tự trấn an: “Cũng may còn nắm kịp sợi dây leo”. Nhưng gần như ngay lập tức chàng bị một con rắn hai đầu cắn chết.
Người con gái sau cú rơi bị mắc vào tán huyết rồng xoè ra như nấm. Khắp người bị thương nhưng sau hai ngày bất tỉnh thì nàng thức giấc, từ từ bò xuống nơi có một am thất cũ nát của vị hạnh tu nào đó giờ bỏ hoang. Nàng cười phớ lớ gọi tên là Am Gió.
Cũng từ đó nàng thành ra ngớ ngẩn. Không còn nhớ mình là ai, đến từ đâu. Nhưng nhờ vậy nàng cũng quên luôn bi kịch tình yêu và cái chết. Nàng sống vui vẻ trong căn lều dưới gốc cây, bầu bạn cùng con rắn hai đầu.
Nghe chuyện, dì gọi Phàn, bảo: “Không quỷ sứ cũng hồ ly tinh. Cỡ nào cỡ mày cũng phải tìm cho được dượng”.
Ba năm trước, sau khi ra tù ít lâu, dượng bỏ nhà đi biệt. Không mang đồ đạc nên ai cũng nghĩ chỉ đôi ba bữa rồi về. Nhưng một ngày hai ngày rồi một năm hai năm, một con người dường như đã biến mất khỏi mặt đất. Vài lần để đối phó điều tiếng dì tìm kiếm qua quýt rồi bảo: “Chắc chết mất xác đâu đó rồi”.
Chuẩn bị khai tử cho chồng thì dì nghe có người nhìn thấy dượng đến am thất của sư thầy trên đỉnh núi Do để uống trà và bốc thuốc dưỡng thai. Họ nói: “Mặt mày tướng tá đó không sai đâu, hình của ảnh đầy trên mặt báo”. Lần dò theo lối xuống thì thấy dượng đi khuất vào trái núi mọc đầy huyết ma. Đó là hướng về Am Gió.
Nhìn dì sốt sắng đòi tìm người về, Phàn thấy thương hại. Tưởng sau chuyện thằng Đôn, đứa con trai độc nhất trở nên điên loạn, dì cảm thấy cô độc cần tình thân. Nhưng trước lúc đi nghe dì bảo: “Với dì bây giờ dượng mày như quả bóng xì hơi, dì có thể không chơi nhưng cũng đừng hòng ai mó đụng vào. Giá kể ổng chết thì không nói”. Thở dài, dì ra vẻ khổ sở: “Dì không muốn có hai ba dòng giống con rơi con rớt lẹo tẹo về sau. Của nả đất đai dì giữ cũng là để cho anh em mày hưởng”.
Những lời ngọt như mật vậy mà khiến kẻ lạc loài côi cút đắng ngắt cổ họng. Đó là khi Phàn chợt nhớ ra bà ngoại anh đâu phải là mẹ ruột của dì. Cũng muốn mặc kệ, nhưng nhìn thằng Đôn một thời ngang dọc giờ lại bóc phân ăn đất càu mày cấu mặt thành đứa ngớ ngẩn, Phàn quảy túi ra đi.
Nhưng đường đến núi hiểm trở xa xôi. Nữa là sau sự sống sót thần kỳ của thiếu nữ năm xưa cùng lúc rắn độc hai đầu xuất hiện không bình thường khiến dân gian đồ rằng người đàn bà điên chính là bà chúa rắn, là nữ thần Naga: Am Gió bỗng dưng trở thành thánh địa. Mà người trần ai cũng sợ cái chết và sự quở phạt của thần linh. Họ bảo nhau: “Đừng nên bén mảng phạm đến nơi ở của ‘bà’, ‘bà’ sẽ sai rắn cắn”.
Đường mòn thiếu bước chân người lần hồi mất dấu. Chưa kể loài huyết ma từ đâu sinh sôi, tiết ra dịch độc chết người khiến không còn ai dám bén mảng tới lui. Chỉ có Vầu mỗi tháng một lần gánh gạo muối lên ngọn Mây Mù trên đỉnh núi cho thầy Huệ Chân, đường về quải gùi quàng qua hái thuốc. Nhiều kẻ lấy làm lạ khi Vầu cứ đi đi về về mà không hề hấn mảy may. Chị Liêu bảo: “Tại nó đâu phải người”.
Vầu khè hàm răng thưa tấm thớt vàng nhớt, rít: “Không sợ rắn. Người độc còn hơn rắn”.
*
Dù mặt trời đã huốt ngọn buông nhưng đường lên núi vẫn le se lạnh. Không gian tĩnh mịch, những con dơi treo ngược thò mắt tò mò. Càng lên cao càng tối bởi um tùm cây bụi chen chúc. Hơi ẩm đặc quánh khiến loài lan dại ven vách đá co ro. Bấy giờ mới nghe Vầu lên tiếng: “Ngoài người ở Am Gió, trong núi không gì có sức sống mãnh liệt bằng thứ lan quét này”.
Phàn nhân đó hỏi: “Ở trên ấy người điên được phong thánh, phải không?”
Vầu nhếch môi: “Nói liều! Trò đó chỉ gạt được con nít”.
Cúi xuống hái nắm cỏ, Vầu bảo: “Món bệnh vặt của người đàn ông cần thứ thuốc này”.
Phàn lân la hỏi, Vầu kể ông ấy đến núi vào một chiều mưa. Như kẻ mất hồn ông tha thẩn đi như là để hành xác mình cho đến chết. Nửa khuya thì ông kiệt sức ngã khuỵu trước cửa Am Gió trong tình trạng mặt đầy vết cấu, da thịt tươm máu vì gai bụi đâm. Người đàn bà điên nghe tiếng động choàng dậy, lọ mọ đốt lửa lên. Bà cười khanh khách: “Người! Người!”.
Khi bà cầm đuốc tiến lại gần thì người đàn ông sợ hãi, lùi ra xa. Không phải ông sợ một bà điên mà sợ bị soi tỏ mặt. Ông vừa xua tay vừa hét: “Đừng nhìn tôi, tôi từng là một tù nhân”.
Người đàn bà ngồi xuống, dập tắt đuốc, lại cười khanh khách, hỏi: “Tù nhân là gì, có phụ tình không?”
Trong đêm tối, mặc dù toàn thân đang đau đớn, nhức buốt nhưng người đàn ông thấy mình như được hồi sinh. Ông cười mà hai hàng nước mắt ròng ròng, lặp đi lặp lại một câu: “Thì ra là vậy”. Ông mò mẫm trong không gian mênh mông đen ngòm lần tìm bóng dáng người đàn bà. Ông gục đầu vào ngực bà mà khóc, miệng không ngừng cảm động: “Người điên không nhận ra tôi”.
Phàn bảo: “Ông ấy là chồng của dì tôi”.
Mắt Vầu trợn trừng: “Sao đến nỗi tội tù rồi thành ra như thế?”
Đó là chuyện hơn mười lăm năm trước. Khi ấy Phàn về sống với dì chưa lâu. Mỗi ngày đều thấy dì nhìn dượng mà như nhìn ai, buông nhẹ một câu: “Cái mặt dòm phát chán”. Ngước lên di ảnh kẻ mà Phàn giống như tạc đã hy sinh trong một cuộc chiến không cân sức ngoài biển, dì bảo: “Hổng bằng cái móng chân người ta. Không được tích sự gì”.
Nửa đêm dậy đi tè, Phàn thấy dượng ra ngoài hiên hút thuốc. Biết Phàn đang lù lù rón rén, dượng ngoắc anh. Dượng nói: “Làm thằng đàn ông bất tài nhục lắm”.
Cách ngày dượng đi thả câu, lúc nhoài ra biển sâu, khi chỉ ở cửa sông lớn. Từ nhà ra bến Dốc gần chục cây số; dượng lọc cọc xe đạp, lủng lẳng cần câu, vùa mồi đến bãi rồi dong thuyền ra khơi. Nếu đi từ non trưa hôm trước thì xế chiều hôm sau vào bờ.
Một bữa dượng về với chỉ mấy con cá mú sao ngoe nguẩy như cá cảnh trong xô. Dì bảo: “Câu thời câu vận đấy”. Mắt dượng vằn lên những tia đỏ vừa giống giận dữ vừa như chực khóc, miệng bật ra những lời tưởng chẳng liên quan gì: “Tôi biết em lúc nào cũng ngầm so sánh tôi với kẻ ấy, trong mắt đã bao giờ có thằng chồng này chưa?”
Dì liếc nhìn Phàn khiến anh điếng hồn, nói như để lợi gan: “Cả bà ngoại và má nó đều là quân ăn cướp”. Lia mắt về phía dượng, giọng dì lạnh lẽo: “Có giỏi thì mang thật nhiều tiền về”.
“Vì phẫn uất nên khi nghe lời thách đố, nghi phạm đã giết người cướp của phải không?” Lúc đưa dượng về cơ quan điều tra, nhà chức trách lạnh lùng hỏi. Dượng sững sờ, thấy câu chuyện thật xa lạ nhưng vô vọng để khẳng định điều ngược lại rằng kẻ chất phác lương thiện thường nghèo khó chính vì nhát gan.
“Thế thì tiền ở đâu ra?”
Dượng kể lúc cãi nhau với vợ xong, không ở lại nhà một tối như thường khi mà đạp xe trở lại bến Dốc. Nhưng cả đêm đó đến tận sáng hôm sau khi mặt trời đứng bóng vẫn không câu được gì. Chán chường và mệt nhọc, dượng định thu dọn ra về thì cần động đậy. Chật vật lắm dượng mới giật được dây lên kéo theo con cá óng ánh vàng.
Vừa lúc có một chủ tàu buôn đi qua cửa sông. Biết là đồ quý đã ngõ lời mua với giá ngất ngưỡng vì bóng loài cá này được ví ngang nhân sâm: Thuốc tiên của cái sự tăng cường sinh lực. Đàn ông muôn đời là giống chinh phục nên các hãng dược chuyên về bồi bồ chức năng này thời nào cũng ăn nên làm ra.
“Vậy còn vết máu, dấu chân, hai cái răng bỏ lại hiện trường đặc biệt là dấu vân tay rành rành trên cục đá được xác định là hung khí thì phải giải thích thế nào?”
Với tất cả bằng chứng đều bất lợi, dượng tuyệt vọng: Sẽ không bao giờ thắng nỗi họ đâu. Mặt hằn sâu như vết cứa, dượng ôm đầu rồi liên tục lắc đầu bảo không phải.
Dượng nhớ lúc vô bờ thì chiều đã xuống. Cứ nghĩ đến cảnh tượng được một lần hào phóng ra lệnh cho vợ: Em muốn mua gì thì mua mà lòng dượng sung sướng vô cùng. Mọi giận hờn tan đi khi dượng tự vẽ ra gương mặt hớn hở của dì với hai mắt rưng rưng nhìn chồng một cách trìu mến.
Nỗi phấn khích khiến những vòng quay xe đạp như nhanh hơn trên đoạn đường vẫn thường vắng vẻ. Thình lình một chướng ngại vật kềnh ra chắn lối, xe vẫn thẳng trớn lao tới: dượng ngã chổng gọng, xe đổ đánh rầm. Một bên chân gãy rắc, mặt đập xuống đường va vào đá. Máu từ trong miệng xối ra, dượng phun bọt cùng hai cái răng. Dượng cầm cục đá chết tiệt ném vào lề cỏ. Nhừ tử đau đớn, đầu óc quay cuồng, dượng nằm thở dốc sau đó gượng dậy lết đến chỗ chiếc xe. Dượng ngồi lên yên, dùng một chân còn lại chống xuống đường nhích từng chút một.
Dượng về đến nhà thì đã khuya khoắt. Nhìn chồng máu me bê bết, chiếc xe đạp xiêu vẹo, dì sa sả: “Đi đứng mà mắt mũi để đâu?”
Không còn sức chống chịu, dượng đổ xuống, tiền xổ ra. Đúng lúc ấy lực lượng chức năng cũng vừa ập tới.
Sau này, chính xác là mười hai năm kẻ hung đồ thật sự mới nộp mình tự thú. Đó là một gã với thân hình bé choắt, mới ngoài bốn mươi đã bạc trắng mái đầu. Gã kể mình là bạn thuyền cho một tàu cá. Chuyện bắt đầu lúc mẹ gã ở quê bệnh nặng hấp hối, gã xin về bờ, thằng chủ bảo: “Chưa được mẻ nào đã trở vào chỉ có nước bán ghe”. Gã nấn ná đến xong chuyến biển thì kẻ ở nhà mồ đã nhú cỏ. Buồn chán nên chiều tối đó gã đi uống rượu. Trên đường về, gã bước xiêu vẹo, một chiếc xe máy không biết đường tránh đã đâm sầm vào. Cả hai đều ngã, tiền cũng tuôn xuống xối xả. Thằng đi xe máy vừa kiếm được món của hời. Mẹ nó, sao sự giàu có và may mắn luôn đến tìm kẻ khác, gã chửi. Rất nhanh, một ý nghĩ chết chóc chế ngự; gã tỉnh táo lượm một tấm ni lông trùm tay, nhặt cục đá trong đám cỏ rồi dùng hết sức giáng xuống đầu kẻ đang nằm sõng soài. Thằng đi xe máy ngắc ngoải, miệng thều thào: “Lấy hết đi, tha mạng cho tôi”. Gã chắc chắn cái con người sau đó không chấp nhận sự van xin, vẫn đập nát sọ kẻ xấu số không phải là gã thật. Nó là thằng nào đấy đang bất lực vì lòng đầy thù hận mà không biết rõ dạng hình mặt mũi thứ mình đang hận thù. Xong chuyện, gã ráo hoảnh gom tiền vào túi bỏ đi.
Mấy ngày sau đọc báo, biết có kẻ xui xẻo thành ma thế mạng, gã còn nhơn nhơn. “Ông trời bù đắp cho ta đấy”. Nhưng cảm giác đó không tồn tại lâu khi đêm nào gã cũng mơ thấy thằng đi xe máy nhìn chòng chọc mình. Mở lại tờ báo với hình tên nghi phạm bị bắt quẳng ở xó nhà, gã thấy hai hốc mắt hắn ròng ròng máu. Gã vung tiền truỵ lạc, sáng xỉn chiều say để quên. Sau rồi tiền núi cũng bị nướng sạch sành sanh; không thể tiếp tục sống như vậy được nữa, gã ra mặt đền tội.
Tưởng đã mục thây trong nhà ngục, một ngày dượng được phóng thích sau buổi gặp mặt được tổ chức gọn nhẹ để cải chính án oan. Một khoản đền bù nho nhỏ. Còn món tiền dượng bán cá năm xưa đã đền bồi cho người bị hại không thể truy đòi.
Hình như có tiếng Vầu chửi tục. Hắn lầm rầm: “Bao giờ cho hết bất công”.
*
Huyết ma đang dần bịt lối đi. Vầu bảo đó loài thực vật có căn tính. Chúng vô hại với cây cỏ đồng loại và sự yếu thế nên cách để đi qua dễ dàng là cởi hết áo quần. Lúc trần trụi là lúc con người không có khả năng phản kháng hay phòng vệ.
Trong khoảnh khắc của khoảnh khắc, sượt qua tâm trí Phàn là hình ảnh Lê trần truồng trôi giữa muôn trùng sóng. Lúc ấy, thằng Đôn thấy trước, bảo: “Yêu nữ biển khơi”. Nhìn người con gái yếu ớt cầu cứu nhưng thuyền đã bỏ đi xa, cám cảnh ánh mắt tuyệt vọng, Phàn bảo: “Cứu người”. Đôn gắt: “Đàn bà đấy, đồ xui xẻo. Mày không sợ ghe mắc phong long?” Giọng Phàn rắn chắc: “Ngoài chuyện đưa tàu về bờ an toàn, nhuộm lại lưới, dọn rửa và cúng ghe thì tôi nợ anh thêm một mạng”.
Tàu cá từ từ quay lại. Khi xốc người con gái lên, thân thể nàng mềm oặt, lạnh run. Phàn cởi áo quấn quanh thiếu nữ. Đôn cười nham nhở: “Ngư phủ đều thế này thì chỉ có cám mà ăn”.
Người con gái được cứu là Lê. Neo ghe lại vũng nước sâu, khi bạn thuyền vào đảo để ăn nhậu xả hơi, Phàn cũng theo cùng để sắm mấy bộ quần áo. Nhìn gã đàn ông rắn chắc lực lưỡng, làn da rám nắng lúng túng hỏi mua đồ lót, cô chủ tiệm còn son cứ tủm tỉm cười.
Lúc Phàn về, ghe có tiếng động bất thường. Anh ra lái tìm Lê thì thấy nàng áo quần xộc xệch cố ra sức chống cự cái thân hình to lớn của thằng Đôn đang vồ tới. Đôn tức tối xé hai đùi khép chặt, chửi: “Đồ đĩ mà làm phách. Đừng quên là tao cứu mày”. Lê gắng hết sức súc chân vào chỗ hiểm tên dê xồm, khinh: “Độc ác mà hở ra nói đạo đức”.
Phàn cúi người, tháo dây lưng, định tuột quần dài xuống. Mặt Vầu không đổi sắc: “Vẫn còn cách thứ hai”.
Ngắt một bông huyết ma trắng muốt ngậm vào miệng, Vầu ra hiệu cho Phàn làm theo. Hắn nói: “Chất nhờn của thứ dây leo này gây ra giấc ngủ sâu như chết lâm sàng, nhưng hễ cây độc thì hoa không độc”. Phàn hỏi: “Người dưới núi biết không? Sao không nói họ hay?” Vầu nhăn mặt: “Người đời chỉ tin điều họ muốn tin. Bộ chú em tưởng một cá thể tỉnh táo có sức mạnh lắm à?”.
Qua khỏi tấm thảm xanh gây ngủ dài dằng dặc là rừng thưa. Mặt đất lô nhô phủ đầy lá mục. Vầu đi xiên xẹo theo đường dích dắc, giải thích: “Thấp là hố, cao là đá. Hố thì dơ đá thì trơn. Đừng ham lối tắt. Ngoằn ngoèo cũng là một kiểu thăng bằng”.
Phàn hỏi: “Có rắn hai đầu không?”. Vầu bảo: “Không. Nhưng đầu lục đuôi đỏ, cắn một nhát cũng đi chầu ông bà ông vải ngay, thì nhiều vô kể”. Vầu nhếch môi: “Sợ à?”
Phàn lắc đầu. Đời hạ bạc, cái chết đâu phải là cái gì quá ghê gớm. Phàn đã cận kề nó không biết bao nhiêu lần. Nhưng nhớ nhất có lẽ là chuyến đi gần một năm trước, tàu bất ngờ bị phá nước. Phàn chỉ kịp tháo được miếng ván gỗ, thằng Đôn ôm thùng phuy bị sóng đánh tuột cứ ngụp ngửi đòi một mạng ngày nào. Phàn đẩy ván về phía nó còn mình buông trôi, may mắn vớ được tấm xốp. Thằng Đôn sống sót nhưng thành điên loạn vì tất cả bạn thuyền đều chết mất xác, không một ai trở về.
Phàn lênh đênh rồi dạt vào hòn đảo quá nhỏ để có tên. Đó là một bãi đá hoang vu, mọc đầy xương rồng tai thỏ. Không nước, không lương thực, không ghe tàu lại qua. Phàn nằm dài dưới nắng từ từ chờ lão thần chết anh coi là bằng hữu đến. Giá có một ngụm nước mời khách thì tốt. Phàn thè lưỡi liếm môi khô khốc lại không buồn đi vệ sinh. Tấm áo thấm muối khô cong, tưởng chỉ cần bóp nhẹ sẽ vụn ra từng mảnh. Hẳn Phàn sẽ đón nhận cái chết như một ơn huệ vì có thể đoàn tụ với cha mẹ nếu như trong từng sợi ý nghĩ không có sự xuất hiện của Lê.
Phàn mơ màng nhớ lại cái hôm ghe cập bờ, Lê cứ lẽo đẽo theo anh. Phàn nạt: “Về nhà đi, đừng có ám”. Lê bảo: “Nhà đâu. Mồ côi mà”.
Thấy Phàn dẫn thêm người về, dì bảo: “Cái thân mình lo chưa xong”. Phàn lẳng lặng ra nền đất cha mẹ để lại dựng một căn chòi lá. Phàn không nói, nhưng Lê cũng tự biết dọn ra. Ngày nào Phàn cũng ghé qua, nghe kể bâng quơ dăm ba chuyện. Chuyện về đứa bé gái bị vứt bỏ, lê la xó chợ đầu đường. Mười lăm tuổi đã bị lấy mất đời con gái. Sau quen được một thằng tốt mã, đến khi chán chê nó lừa bán qua biên giới cho đám quỷ ma. Hai mươi mốt tuổi đầu nhưng đã đi qua bảy tám nhà chứa. Phàn hỏi rồi sao mắc nạn giữa biển, Lê giật những nút bóp của chiếc áo bà ba: Trên cơ thể trắng muốt là cơ man vết sẹo lờ mờ. Lê bảo: “Tụi chó nó đánh người như đánh thú vật. Bữa đó ngủ trên du thuyền, nhân lúc thằng khách già mê man, em phóng xuống nước lặn trốn đi”.
Phàn cởi áo, trên ngực và lưng cũng chi chít sẹo cũ sẹo mới, có vết chỉ vừa lên da non. Anh không nhớ đâu là vết roi tre gai mỗi lần dì nỗi xung thiên, đâu là vết roi cá đuối khi làm bạn thuyền cho biết bao chủ ghe kể từ năm mười ba tuổi. Lê đưa tay sờ những đường kẻ ngang dọc, rướn người hôn lên. Dưới ánh đèn chong họ nhìn nhau, mỗi khắc lại xích gần thêm, Phàn như con sóng nhấp nhô xô vào bờ cát. Phàn hỏi: “Không giận những kẻ đã bỏ rơi mình sao?”. Lê dúi đầu vào bầu ngực gã trai lần đầu biết mùi vị ái tình, thỏ thẻ: “Được sống đã là quá tốt”.
Câu nói của Lê khiến Phàn giật mình, choàng dậy đi tìm nước. Sương đêm đang xuống, Phàn cởi áo trải xuống đá hứng, vắt lấy uống mà chẳng thấy thấm vào đâu. Gió biển từng cơn thổi rát khiến cái lạnh càng thêm tê tái.
Trời sáng, Phàn bẻ một tai xương rồng nhai ngấu nghiến. Đã có một chút sức, anh gượng đi quanh, may mắn tìm được một nhúm lưới vụn cũ nát chắc trôi ra từ một tàu chìm. Phàn thả cạnh bờ cầu may. Giữ lưới bằng một hòn đá mà trong sức còn có thể khênh được.
Mỗi ngày vài con cá nộp mạng. Những miếng thịt sống tanh ngòm. Nhưng vẫn hơn những bữa không được cái vẩy nào, khi những cây tai tượng đều đã bị bới tận gốc, Phàn bỏ sỏi vào miệng nhai đến khi hàm mỏi thì khạc ra. Lúc nào rình mò hốc đá bắt được những con nha bàng sơ sinh thì nhai rau ráu rồi tưởng tượng đang ăn gân cá đuối.
Bữa nọ, tấm lưới biến mất. Một con sóng nào đó nặng hơn đá đã tha đi. Đến nguồn sống cuối cùng là tấm vải che người để hứng sương đêm cũng bị gió giật mất. Phàn trần trụi với đá, sắp hoà vào đá, hơi thở mỗi lúc một ít chỉ chờ đến lúc ngừng hẳn cái công việc hô hấp mệt nhọc này. Vào đêm cuối cùng chuẩn bị đón cái chết thì Phàn mơ. Anh thấy một người đàn ông mặc áo lính, tay bồng súng sắt trông rất giống mình buồn bã nhìn chằm chằm vào khẩu súng thịt mà anh đang giữ. Người đàn ông bảo: “Ta là con cá trắng dưới khe. Con hãy ăn thịt ta để giữ mạng rồi sẽ có thuyền đến cứu”.
Phàn thoi thóp, hai mắt đã mờ không còn nhìn rõ. Tay anh quều quào tìm hố nước, có thứ gì đó cứ ngoe nguẩy bám vào. Bắt con cá lên, một màu trắng khiến Phàn nhức mắt. Nhớ lại giấc mơ, anh thả con cá trở lại mố nước rồi nằm vật ra. Con cá nhỏ dùng hết sức nhảy lên người anh, lúc này nó đã chết.
Phàn trườn người qua hết bãi đá đến thẻo đất nhỏ, bới cái hố và chôn con cá. Vừa lúc đó xa xa có bóng lá cờ. Phàn không chắc có đưa tay không nhưng chiếc tàu vẫn lù lù hiện ra. Anh được bốc lên thuyền, kết thúc ba tháng sống đời hoang đảo.
Khi phục sức, Phàn được gã thuyền trưởng mặt sẹo xung vào đội bạn thuyền làm công coi như để trả ơn. Đó là một người đàn ông chưa tới bốn mươi có phần cay nghiệt. Như bữa đứa lính mới lo việc bếp núc lỡ làm rớt con dao xuống biển, gã đá thằng nhóc chừng mười ba mười bốn tuổi rơi tỏm, bảo: “Nhặt được dao thì lên”. Chờ hoài không thấy đứa lính trồi đầu, gã nhảy xuống mò được dao nhưng cũng ôm cùng đó một thi hài tím ngắt, giọng lạnh lẽo: “Mẹ cái thằng mồ côi. Mới sáng đã cho tao ăn thịt người”. Hắn lầm rầm chửi: “Mắc chỗ thằng đầu nậu cả nùi, giờ vì nó mà về bờ thì lỗ thặt họng”.
Gã sai Phàn lui thuyền thúng đưa thi thể vào một hòn vắng chôn cất. Chuyến biển lại tiếp tục như cuộc giành giật miếng ăn với tử thần.
Hôm ấy, sau gần tháng trở về đời ngư phủ, Phàn thấy vẩy tê tê. Bằng dạn dày kinh nghiệm, anh cảnh báo: “Bão”. Gã mặt sẹo nói bão lớn thì cá lớn, quyết không cho ghe quay đầu.
Và đó đúng là cơn bão thất kinh. Sức gió hãi hùng, liên tục đổi hướng, có vẻ như không cơ quan thời tiết nào dự báo được. Gã thuyền trưởng bị quật vào máy tàu rơi xuống biển; Phàn lèo lái chiếc ghe chống chọi đến hồi bão tan thì cũng xác xơ. Xác người nổi lềnh bềnh, gã mặt sẹo ăn sóng nói gió nằm im lìm, bắt đầu biến dạng. Phàn vớt gã lên, tu hết xị đế, dùng rượu rửa mặt mình cho tỉnh táo rồi lia dao rạch bụng moi sạch nội tạng gã để giữ lại nhân dạng cho người nhà nhìn mặt lần cuối vì đã không còn nhiều muối ướp trên tàu.
Lúc về bờ Phàn được tự do. Chỉ mới vắng nhà gần nửa năm nhưng dường như thời gian đã qua nửa thế kỷ. Khi Phàn lù lù xuất hiện, dì hỏi: “Mày là người hay ma?”.
Phàn chạy ra chòi không thấy Lê, hỏi: “Vợ con đâu?”. Dì bảo: “Đồ phản trắc, nó cắm miếng đất cha mày để lại cho tao, ôm tiền đi rồi”. Phàn thất tha thất thểu. Giọng dì cay nghiệt: “Bài học lấy đĩ và cái giá của sự cả tin”.
*
Am Gió không còn xa. Đã thấy thấp thoáng nương rẫy và căn nhà lợp lá buông ẩn giữa trập trùng hoa tím. Vầu hỏi: “Đã được minh oan sao ông ấy còn bỏ nhà đi?”
Phàn không biết. Không ai biết.
Giờ nhớ lại ai cũng sẽ bảo tất cả đều bình thường. Sự bất thường duy nhất có lẽ là khi dượng mang món tiền bồi thường về, dì không lấy mà còn bảo: “Giữ để hút thuốc rồi ốm đau lặt vặt. Nhà giờ đâu thiếu tiền”.
Cái đó dì nói đúng bởi mấy lần khách xa tới chơi đều khen nhà cửa bề thế, chắc vợ chồng thu hay vén khéo, ăn nên làm ra. Dì phẩy tay bảo nhờ mình cắm đất vay mượn sắm tàu bè mới gây dựng được cơ ngơi, chứ ổng bị bắt oan, đi tù chục ngoài năm nay…Chợt dượng từ phòng đi ra, dì và khách im bặt. Chờ người khuất xa ngoài ngõ, khách nói: “Giết người cướp của, nhớ rồi”.
Ra bến thuyền, gặp thằng Đôn điểm mắt ghe, dượng bước gần hỏi han. Hỏi con đang làm gì, Đôn gắt: “Không thấy sao mà còn hỏi?”. Mấy lần nhìn Đôn dọn dẹp sân kiểng nhưng càng chỉnh trang càng rối mắt, đặt máng xối nước vẫn rỉ xuống trần, phun cửa chẳng bao lâu thì sơn tróc lổ chổ, dượng bảo phải thế này, thế này, con. Đôn không mấy chú tâm, bảo: “Hồi ba đi tù tôi cũng phải tự làm lấy. Có ai dạy gì đâu”.
Dượng câm nín, căn nhà dần dà chìm trong im lặng, chẳng còn ai nói gì với ai. Hễ có khách là dượng tránh mặt. Mỗi lần ra cửa sông, gặp bạn bè trước kia, dượng chèo thục mạng bỏ hết câu bọng khi nghe ai gọi một tiếng: “Thọ ơi”. Ra chợ bán cá, dù luôn cúi mặt nhưng chỉ cần cô hàng hỏi một tiếng “chú Tư” là dượng cắm đầu chạy biến. Có thứ gì đó đè trĩu cổ khiến dượng không thể ngẩng đầu lên: nó đang ở đâu đó ngoài bãi sông, ngoài chợ, ngoài quán nước nơi trước đây dượng thường tới lui và ngay trong ngôi nhà mà dượng phải gá thân gửi xác hàng ngày. Dần rồi dượng cũng nhận ra nó: những ánh mắt. Và nó nữa: ký ức dân gian không bao giờ chết về kẻ sát nhân tội tù.
Nỗi ám ảnh sự đề phòng, nghi ngại của người đời khiến dượng rúc vào bóng tối, không dám nhìn ai. Gặp một nụ cười, dượng nghĩ là cái nhếch môi; thấy ai đó đưa tay, dượng lấm lét trốn vào góc khuất, tim đập thình thình: nó đang chỉ trỏ mình đấy. Nhiều lần dượng bước nhanh trên con đường vắng ngắt, vừa đi vừa nhìn về phía sau. Bị vấp phải đá, dượng co rúm người rồi thốt nhiên bỏ chạy. Đến một ngã rẽ, dượng nấp vào đó, rồi tự thấy không an toàn, dượng trở ra chạy tiếp để cuối cùng ngồi xuống, đưa hai tay ôm lấy đầu và hét: “Đừng bắt tôi”.
Mắt Vầu tái dại, đám lông trên người dựng ngược, toàn thân rung lên. Thoắt cái hắn đã chạy biến vào rừng sâu nhưng ngàn đá như vẫn còn lưu lại lời hắn căn dặn: “Đừng xuống núi nữa. Dưới đó sợ lắm”.
*
Trong nhá nhem hoang vắng buồn bã, dưới hiên mái tranh đơn sơ có một người đàn ông đang ngồi chải tóc cho người đàn bà. Khi ngước lên và trông thấy Phàn, đôi mắt người đàn ông vụt sáng nhưng rất nhanh lại u sầu tái tê. Người đàn bà không khanh khách cười gọi ‘người’ mà lẳng lặng vào pha một ấm trà quạo. Trời tối, bà thắp những ngọn đèn mù u.
Họ nói chuyện rời rạc, chẳng được mấy câu. Giọng dượng buồn: “Thần thánh làm gì để suốt bao nhiêu năm người thân cũng không tìm kiếm”.
Nhắc về quá khứ, dượng bảo mình chỉ là con chuột xui xẻo. Bẫy rập hiểm sâu thì đầy rẫy trên đường. Ba năm ở thâm sơn cùng cốc, ngoài trồng trọt, săn bắt, dượng chỉ chú tâm gỡ tóc và những ký ức rối. Dượng nhìn người đàn bà âu yếm: “Cô ấy vẫn vẹn nguyên là một con người”.
Dượng còn nói về tương lai, họ sẽ sinh đứa con ra và tiếp tục ở lại đây. Thứ họ cần ở đời này, rừng cho đủ. Là tự do, ấm no và lẽ công bình.
Đêm đó, người đàn bà xoay trở làm chiếc sập tre cứ răng rắc kêu rên. Cách một tấm phên mỏng Phàn không cách gì ngủ được. Dưới ánh sáng khiêm tốn phập phồng của ngọn mù u, cách chốc lại thấy bóng người bật dậy, khẽ hỏi: “Đau ở đâu”. Và nhẹ nhàng: “Em phải nghiêng về bên trái”.
Phút giây đó, Phàn nhớ Lê da diết. Nhớ chuyến biển gần nhất, khi đặt chân lên một hòn đảo xa xôi nơi biên giới, đã nhìn thấy người phụ nữ trẻ gương mặt cháy nắng nặng nề na chiếc bụng vượt mặt tấp ghe mua đồ ăn thức uống cho một hành trình dài. Nhớ khi nàng nặng nhọc bước đi rồi, cả khu chợ ai nấy lắc đầu: “Chồng đi biển mất tích nhiều tháng nay vẫn không chịu tin là người đã chết. Bán hết đất đai sắm chiếc ghe, bảo không thể ngồi chờ, phải chủ động tìm. Một thân một mình lại bụng mang dạ chửa mà sắp đi hết cái vịnh biển mấy trăm hòn lớn nhỏ. Thật tội nghiệp”. Và khi đối diện Lê, nhìn nàng trút bỏ lớp vỏ bọc tưởng là đồng là đá không cần ai hiểu chuyện mình làm để trở về tấm thân bồ liễu yếu ớt đầy sợ hãi thì Phàn đã hiểu ra cái gọi là lòng người bạc đen phản trắc chẳng qua là lời nguyền rủa của kẻ vừa một lần hứng chịu khổ đau đã vội sinh lòng ngờ vực hết thảy giống người.
Đêm đã xuống sâu. Ngoài kia là thanh âm của gió núi và mưa rừng xào xạc. Phàn nằm co ro, quay quắt nhớ thằng cu con với tiếng oe oe thơ trẻ nghe thật đáng yêu. Trước khi đi dì có bảo nếu đưa được người xuống núi sẽ trả lại miếng đất. Nghĩa là nếu cuộc trở về không có dượng, Phàn sẽ chẳng còn nhà. Chỉ còn chiếc ghe. À thôi, ghe cũng được. Chỉ cần nơi ấy có Lê và con.
Gõ vào đêm lại là tiếng xoay trở, lại là giọng nói êm êm. Giờ này ở nhà dì có đang ngon giấc. Phàn bất giác nhớ thằng sở khanh. Nhớ có lần nói với Lê: Giờ mà em muốn, anh xẻo thịt róc xương thằng chó đẻ đó cũng được. Lê cười nhẹ tênh bảo biết đâu với thầy cô, cha mẹ họ chẳng là trò giỏi, con ngoan. Bằng ánh mắt yêu đời thiết tha, Lê tha bổng cho quá khứ bởi với nàng được sống đã là điều thật tốt.
Cũng may Phàn còn có đôi mắt của Lê để nhìn vào.
Sau một đêm mưa, rừng như được thay áo mới, xoá mọi dấu chân ngày hôm qua. Không có tín hiệu nào cho thấy Vầu sẽ trở lại. Lối xuống núi thăm thẳm mù mịt, không người dẫn, nhưng Phàn biết mình sẽ không dễ gì lạc đường.
H.T.L.X


Bài viết liên quan: