RƯỚC ĐIỂU QUY XÀ – Truyện ký của Vũ Thế Thược

Làng ấy có con đường chánh sứ đi qua. Hai đầu làng có hai tấm bia hạ mã.

Cổng qua làng ấy trình bằng đất thó Hương Canh, tường cao ba mét, dày hai mét, có hai cây tre chắn ngang để bảo vệ, nóc cổng xếp chồng hai lớp tre Đằng Ngà rồi phủ đất mịn có mái che vách đất thành cái chòi canh trộm cướp vào làng. Cổng nằm dưới tán cây đa cổ thụ gốc to cỡ mấy người ôm rễ buông tua tủa to như thân người nên người ta gọi là Cổng Tán vì nó nằm trong tán lá cây.

Đường Chánh sứ nối Yên Tử, Đông Triều đi Gia Lâm Bát Tràng qua quê tôi có rất nhiều chợ, nguyên làng này có hai cái, chợ phiên và chợ trâu. Chợ phiên tháng mười hai bận, chợ trâu bò dê ngựa tháng hai lượt. Phía Đông làng còn hai cái chợ nữa, phía Tây làng cũng hai cái, chợ họp so le nên quanh năm có chợ, mua bán trao đổi rất thuận lợi. Sát đường là giếng Cầu Táo có khu đất cao gọi là Đống Nổi, người đi chợ dù bên Đông hay bên Tây trước khi đi đến chợ đều ấp vào đó một hòn đất cầu may nó đã cao như núi cây mọc lên tốt như rừng, người đi đường qua đoạn ấy không khỏi chột dạ vì rậm rạp âm u.

Bà cụ Hội Ân làm cái lều tre, bày cái chõng tre, mấy cái ghế băng cũng bằng tre bày bán nước vối, bánh đa, kẹo lạc, thuốc lào, trầu vỏ, khi vài tấm mía dóc bỏ trong cái hộp thép Made in Prance có hương hoa bưởi hay hoa sen bán cho khách đi đường, người thiện tâm thì động viên: “Chân yếu tay mềm chịu khó ngồi đây ngày kiếm lấy bò gạo khỏi phải ăn xin.” Người ác cảm thì bảo: “Quân bán nước lười làm ham ăn.” Cánh dân quân trực ở cổng làng có bà cũng đỡ buồn, còn bà Ân thấy cánh trẻ không có thái độ coi thường nên cũng an lòng.

Một ngày mùa hè khi nắng đã xế, một cụ ông tóc bạc lại mặc bộ nâu sồng trông đặc kẻ sỹ cưỡi con ngựa màu lông bò như tráng sỹ đi từ phía Đông tới, thấy có tấm bia Hạ Mã thì vội thụp xuống, tay nắm dây cương, mắt quan sát và dắt ngựa đi. Gặp quán nước, ông cụ buộc ngựa vào một cái rễ cây đa xù xì gọi chủ quán cho bát nước vối và đĩa hạt sen. Người khách từ tốn đón bát nước và từ tốn ực mấy ực rồi dùng những ngón tay xoa xoa mặt và từ tốn hỏi:

-Thưa cụ Hành Cung có gần đây không ạ?

Bà Hội Ân tưởng ông khách hỏi ai nên không nói gì. Lần này ông cụ nhìn vào bà Hội Ngân hỏi:

-Thưa cụ Hành Cung có gần đây không ạ?

-Ông hỏi gì tôi không hiểu?

-Cụ có phải người làng Đại? Xin hỏi Hành Cung xưa có gần đây không ạ?

-Vâng. Tôi là con gái làng, Hành Cung là gì? Lần đầu tôi nghe thấy.

-Cụ không biết làng ta xưa có Hành Cung thật sao? Tôi đọc sách và đọc bia hạ mã, đây vốn là đất Hành Cung nơi Vua đi đường ngủ nghỉ đấy là nơi tối thượng đi xe đi ngựa qua làng đều phải xuống dắt qua hết mới được đi tiếp.

Bà Hội Ân bảo cụ biết chữ thì cụ hiểu chứ bọn tôi mù chữ thì không thấy thiêng liêng gì cả, không biết giá trị thì chả gì cao sang cả. Ông khách bảo cụ không biết thật sao? Đây xưa có Hành Cung cho Vua và triều đình ngủ nghỉ mỗi khi đi khảo sát Lộ miền Đông. Con đường này xưa là đường bộ nối từ Quảng Ninh đi Kinh Kỳ nhưng vua quan họ không đi đường bộ mà đi thuyền dọc sông Thiên Đức về sông Lục Đầu rồi tỏa đi sông Cầu, sông Thương, sông Thái Bình, làng có thủy bộ đi qua là phúc lộc đồng lai lớn lắm đó cụ à. Hành Cung có từ ngàn năm rồi và bị tàn phá cũng gần sáu trăm năm rồi. Đây là đất Huyền Vũ hình mu rùa ăn với mạch núi Thiên Thai, có mạch sông Thiên Đức là đại trạch sẽ trường tồn phát triển, điểm đến của nhiều sự kiện lớn. Cái tên Đại Lai tổng, Đại Lai xã đã sừng sững trong các văn bản Lý-Trần-Lê, trong Đại Việt Sử ký toàn thư và nhiều thi viên sẽ là miền đất “Rước điểu quy xà” nghĩa là đón chim về và là nơi quy tụ những đầu mối giao thương vĩ đại. Bà cụ nghe nuốt từng ý từng lời từng cử chỉ của một người nhỏ bé mà tri thức mênh mông, từ đó bà cụ không ngớt truyền bá lời tiên đoán tương lai quê bà sẽ vang danh khắp năm châu bốn bể chứ không chỉ trong quốc gia nhỏ bé Việt Nam ta

Bà Hội Ân tên là Lương, lấy chồng nên gọi theo tên chồng. Chồng bà có chân trong Hội đồng nên có danh là Hội còn tên cụ ấy là Ân, bố bà là hương sư hồi chưa xuất giá bà thường phải phục vụ cho cha tiếp đón khách thơ, khách của cha ai cũng nghiền trà mạn hảo, pha nước mưa hứng từ cây cau vào chum đất, hút thuốc lào Vĩnh Bảo có cả bàn đèn thuốc phiện, những vị khách nói nhiều về sự tích Vườn Đào, Vườn Vải, truyện Rắn báo oán, sự tích Con thạch sùng…bà cũng lõm bõm hiểu nhưng hình như nó trong cổ tích ở đâu đó xa xôi đâu biết rằng đó là chuyện ở ngay quê mình. Cải cách ruộng đất gia đình họ bị quy là địa chủ, tài sản ruộng đất trâu bò của ông chủ bỗng về tay con ở và kẻ làm thuê. Dậu đổ bìm leo, người ta cứ nói nhiếc rằng tưởng chồng tên Ân, vợ tên Lương thì chả đời nào thiếu tiền thiếu gạo vậy mà cô thôn nữ có cái dáng thanh tao, luôn vận váy lĩnh, thắt bao lưng hoa lý đeo xà tích mẫu của cô gái nhà giàu giờ đói thắt ruột. Gạo không có, ông chồng ngâm nước cả ngày ngâm tre thuê được trả công mấy đấu ngô. Đói quá đun chưa chín đã ăn nên bà bị chướng bụng, kêu la lăn lộn đất trời mà không dám đi mời thầy thuốc. Một vị khách đi đường trộm nghe mấy người đang nói về một trường hợp nguy kịch nào đó mà không được cứu chữa đã dừng lại tìm đến xin giúp đỡ, ông ta lấy mỡ lợn bôi quanh hậu môn dùng khăn và nước ấm vã vào hậu môn rồi dùng ngón tay ấn mạnh cục phân rắn chắc mấy cái vào trong thì cái đống ngô vón hòn trong bụng lâu ngày ục ra, thúi không thể tả cứu bà thoát chết. Vị khách nghĩa hiệp ấy chỉ dặn đúng một câu là phải cho ăn cháo gạo rồi lặng lẽ bỏ đi không kịp cho gia chủ thưa lời. Từ ấy bà Ân còn thấy miền tin và động lực sống. Giờ bà nghe ông lão nói chuyện cổ tích làng mình, bà vô cùng hưng phấn, bà mời ông ăn tấm mía ướp hoa sen và muốn ông kể thêm nhiều câu chuyện khác. Nhìn mặt trời đã chếch đằng Tây ông cụ đứng lên xin thanh toán, bà Ân tươi cười bảo tiền nhuận tai của cụ đấy, cụ nói chuyện hay lắm, cụ nhận cho em gói kẹo này ăn đường. Ông cụ cảm động quá, đón món quà đơn sơ bằng cả hai bàn tay rồi thân mật chào lên đường, bà Ân đưa tiễn một đoạn thấy có cái miếu và gò đất cao thì dừng lại. Giọng thân thiện:

-Cụ à, đây là miếu Đống Sành, sau khu Cửa Đền kia là chùa Ngọc Hoàng, trước chùa là Đình Rối, mùa thu hàng năm có múa rối nước ở ao đình, phía trên là chùa Phúc Linh, sát chùa Phúc Linh là Núi Chùa, khu Đống Sành này trong hệ núi Tam San là ba khu lò gốm mà phế liệu bỏ đi chất thành núi đó, trước mặt miếu đây là khu tập hợp đất sét chở từ Hương Canh về, màu đất vàng như sơn nên còn gọi là Khu Đồng Vàng, mỗi lò gốm đều có giếng ngọc, đền thờ thần gốm, tháp canh chống cướp, một cụm đồng cư, một khu mả cư, từ đây đến điểm Hạ Mã thứ hai mà cụ sắp đi qua còn ba cái giếng nữa, giếng Sen, giếng Cầu Táo, giếng Cầu Ngói, có đống nổi, có am đá, hổ đá chó đá, nghê đá, đến khu Tam Tòa, Cầu Ngói, chùa Long Ngo mới hết khu hạ mã…

Ông cụ mắt sáng long lanh vì cảm động trước cách ăn nói có duyên của người đàn bà Kinh Bắc, cụ bảo bà cứ nói hết cho tôi nghe, dẫu đường còn xa nhưng chuyện này tôi không thể vội, nó đang hiện hữu trước mắt tôi đây này, khu Tam Tòa là nhà Hành Cung đấy, còn chùa Long Ngo nữa sao? Làng có chùa Ngọc Hoàng lại còn chùa Long Ngo thì tuyệt nhỉ. Ao Rối tức ao để múa rối nước à? Rối nước xuất hiện từ thời nhà Lý đấy, những công trình cụ vừa kể có thứ từ nhà Lý, có thứ được bổ xung từ thời nhà Lê nhưng đầy đủ long lanh hơn là từ nhà Trần, nhà Trần đã đưa về nhiều nghề, nhiều cảng, nhiều điểm vui chơi để đưa quan viên về nghỉ ngơi, thương cảng thượng thặng các khu vui chơi nổi tiếng lễ hội đình đám quanh năm: “Thứ nhất hội Lai/Thứ hai hội Gióng” là thế. Sáng nay tôi đang ở Tây Yên Tử, chùa Vĩnh Nghiêm có lệnh về chùa Quán Sứ ngay hôm nay giờ tôi phải đi, hẹn cụ tôi sẽ quay trở lại, cụ chờ tôi nhé, tại cái Cổng Tán này nhé.

Ông cụ dắt ngựa vội đi, hai bên đường cây tre trúc um tùm mà hình bóng cụ xa dần và mất hẳn, cụ Ngân nhìn theo xao xuyến vô bờ, cảm giác như mình đang chia tay một ân nhân đó là chiều 25 tháng 8 âm lịch năm 1960.

Bà cụ vẫn ra quán mỗi ngày, vẫn đợi chờ ông lão trở lại nhưng cho tới lúc cụ Hội Ân về miền mây trắng vẫn không thấy ông lão trở về, không thấy loài chim mới mẻ nào về đồn trú.

10 năm sau, năm 1970, Giáo sư Lê Thước nhà nghiên cứu giáo dục về làng tìm đến bà bán nước ở Cổng Tán chẳng còn gặp được người, cảnh vật đều trơ trụi. Tôi nhớ hôm đấy sen ở ao Cổng Tán đã có hoa, cánh đồng tháng 5 đang hoe hoe lúa chín, sáng còn đi học qua Cổng Tán, trưa về thì Cổng Tán không còn, cả vườn cây un tùm bị đốn hạ ngổn ngang trống trơ trống hoác, tôi đã khóc vì chẳng nhận ra lối về. Cùng ngày ở chợ Trâu, mấy phiến đá xanh nguyên khối to hơn tấm chiếu đôi cũng bị đập vụn bán cho người nung vôi. Đống nổi, Tam San, các giếng, cả bia Hạ Mã di sản bao đời phút chốc đều bị vùi trong cỏ rác, cách mạng văn hóa là bạt cổ dựng kim. Đống Nổi, Tam San đều chặt trụi cây lấy đất đá trải đường, lấy gỗ làm nhà kho, làm kho phân, đóng xe cải tiến, chùa thì dẹp vợi tượng để thêm chỗ cho xã viên họp hành. Núi chùa san phẳng, ai đeo vàng bạc là cổ hủ, dân hò nhau kéo bia đá về bắc cầu ao, làm đường ngõ, di sản bị quy là cổ hủ thì không còn đất để tồn tại…Giáo sư ra xã trình báo ủy ban về kế hoạch của mình, xin địa phương tạo điều kiện nơi ăn chốn ở. Xã bố trí ở nhà cụ Thủ Trình, cụ Thủ Trình biết cả chữ nho và chữ Pháp, làm Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh, sắp đến ngày giải phóng Điện Biên thì bị địch phục bắt đưa đi tù ở Hỏa Lò, cuối năm 1954 được đưa về toàn thân bị phù, chữa một năm mới hết phù còn đôi chân voi đi từng bước khó khăn nên ông ở lại làng làm giáo viên vỡ lòng và Trưởng ban Bình dân học vụ. Qua tuần trà, Giáo sư đã vui sướng mê mẩn về trình độ uyên tâm của ông giáo làng. Trong vòng 10 ngày ông giáo đã đưa vị Giáo sư đi đến và giới thiệu từng điểm di tích, dịch các văn bia còn ít ỏi ở chùa, ở mấy cái miếu lẻ, may là các vật thể đã phi vật thể hóa qua tên gọi các sứ đồng nên vẫn chưa mất hẳn. Về Thăng Long, Giáo sư hoàn thiện sơ đồ và thuyết trình về Hành Cung, gửi cho ông giáo làng một bộ bản thảo. 5 năm sau, tháng 11 năm 1975 Giáo sư qua đời, mười năm sau ông giáo làng cũng theo về tiên tổ, bản di cảo quý giá cũng chôn theo, hình như bộ di cảo của Giáo sư cũng đã giao học trò nào quản giữ và thất lạc.

33 năm sau, năm 2003, một ngày tháng tư oi nồng, đường vào Ủy ban nhân dân xã ngập tràn tiếng ve, hai bên đường cây vải xum xuê trĩu quả, chim hót líu lo, cán bộ xã đã về nghỉ trưa vãn. Một ông cụ lọm khọm đi vào, cụ bước nhọc nhằn, cặp kính trắng có vẻ nặng nề, vai đeo túi vải cũ kỹ kiểu sắc cốt của cán bộ năm xưa cụ hỏi tìm gặp ông Chủ tịch xã tặng bản sao tờ báo Văn nghệ và giới thiệu:

-Tôi là nhà giáo Hoàng Đạo Chúc quê Hoàng Mai Hà Nội, là Hội Chủ Hội những người yêu kính Nguyễn Trãi-Nguyễn Thị Lộ muốn địa phương giúp đỡ để tìm hiểu di tích Lệ Chi Viên? Đề nghị địa phương giúp đỡ để Hội chúng tôi xây cho Lễ Nghi Học sỹ ngôi đền, không có đền thờ, công Lễ nghi đóng góp cho nước nhà to lớn thế mà chẳng còn ai hay biết, nay cụ Trãi đã có đền thờ ở di tích Côn Sơn mà cụ Lộ chưa có nơi nào thờ phụng?

Vị Chủ tịch xã bối rối, cầm tờ báo nghiêng ngó. Mặt ông khách sáng lên, ông bảo: “Tôi nằm viện buồn lắm đọc kết luận của hội thảo đăng trên tờ báo Văn nghệ này khiến tôi bàng hoàng thì Cụ hiển linh, Cụ đẹp lộng lẫy, ngự trên xe loan bảo tôi: “Người đã hiểu sự thật cay đắng của ta chưa? Với những chứng cứ thuyết phục qua sách vở, qua gia phả của các quan Thái giám họ Đinh ở Thanh Hóa ta là người bị vu oan mà nguyên do là mụ Thị Anh hoang thai trước khi về làm thiếp của Lê Thái Tông đã ra tay sát hại bịt đầu mối. Người là hậu sinh của ta, là đồng nghiệp của ta giờ là lúc người hãy đi tìm chân lý cho ta, Hội thảo do ta thiết kế đó, mình bị oan, không minh oan cho mình thì muôn đời mình là người có tội, mình đã chờ thời mấy trăm năm nay nhưng giờ này mới chín muồi, người đi đi, đi gặp dân ở đó giúp ta chứ cứ nằm viện mãi thế này thì 15 năm chứ 25 năm bệnh tiểu đường của ngươi cũng không khỏi.” Cụ giáo già cả đời dạy học cấp 1 ở Lào Cai, rừng thiêng nước độc khi nghỉ hưu chỉ còn cái thân tàn, năm 12 tháng thì 10 tháng lấy bệnh viện làm nhà.

Việc tái dựng một di tích đã mất dấu gần sáu trăm năm là quá sức với một cụ hưu già, nghèo lại bệnh tật, cụ không ngại gian khổ gian lao mà ngại nhất miệng người, họ bảo: nào háo danh tự phong mình là “hội chủ”, nào mượn gió bẻ măng lừa đảo để thu lạp kim ngân…xong cụ không nghĩ thế, cụ cứ lắng nghe và cần cù đi gặp gỡ các nhà khoa học để hiểu thấu đáo hơn, cụ khỏe ra, nhanh nhẹn hơn, làn da cứ hồng hào dần. Khó khăn cũng nhiều nhưng việc làm của cụ luôn có tiền nhân theo dõi giúp đỡ nên đều gặp thuận lợi, khu vườn vải rộng gần 10 ha được tái dựng thành khu đền thờ hai Cụ Nguyễn Trãi-Nguyễn Thị Lộ để nơi này duy nhất cả nước có song tượng là hai vợ chồng Đại công thần đất nước anh hùng dân tộc Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi. Năm 2009 khánh thành thì năm 2010 di tích được ủy ban nhân dân tỉnh tặng bằng công nhận Di tích Lịch sử Văn hóa cấp tỉnh, có đường ép phan nối đền với tỉnh lộ 285, có bến xe nối với trung tâm thành phố tạo chuỗi du lịch tâm linh Hà Nội-Đền Đô, đền Bà Chúa Kho-Tây Yên Tử, Chùa Ba Vàng-Đền Đức Thánh Trần-di tích Côn Sơn-đền Tam Phủ- đền Cao Lỗ Vương-đền Lệ Chi Viên-Đền Thái Sư Lê Văn Thịnh-đền thủy tổ Việt Kinh Dương Vương-chùa Bút Tháp-chùa Dâu trở lại Kinh đô là gần như trọn vẹn với di sản văn hóa đất Bắc và với Lý-Trần-Lê.

 

&&&

Tháng 9 năm Ất Tỵ 2025, làng Đại Lai mở hội lớn chưa từng thấy, cả làng vào vai rước cờ rước kiệu, cả làng làm cỗ, mời 60 đoàn rước từ khắp các miền văn hóa khác nhau trên miền Bắc dự lễ khánh thành trùng tu nâng cấp giai đoạn 1 chùa Ngọc Hoàng. Chi phí cho trùng tu và cho lễ hội gần ba chục tỷ đồng hoàn toàn do doanh nhân của làng tài trợ. Năm 2025, vùng đất Hành Cung cũng làm lễ động thổ Cảng hàng không quốc tế Gia Bình quy mô và hiện đại nhất Đông Nam Á. Điều gì đã đến với quê hương tôi đây? Chiều qua mồng 10 tháng 11 Phó chủ Tịch Thường trực UBND tỉnh Mai Sơn về đền Lệ Chi Viên dâng hương và kiểm tra để có kế hoạch nâng cấp mở rộng quy mô “Đền Lệ Chi Viên rộng thêm 90 ha”. Ồ, “rước điểu” không phải là chim trời mà là chim sắt, còn “quy xà” thì đúng rồi nơi này sẽ hội tụ cả đường không, đường bộ, đường thủy và đường sắt nối sân bay quốc tế với trung tâm thủ đô Hải Phòng, Quảng Ninh mà hành cung xưa nơi đây đã từng có các Bến Cả, Bến Trám, Bến Ngay. Được giải thích Bến Cả là bến chính, Bến Trám là bến xuất khẩu gốm sứ và nông sản, bến Ngay là bến đến nhập hàng và đi luôn những công trình to lớn ấy đang dần hiện hữu quanh Hành Cung xưa như một sự tiếp nối, kế thừa suất sắc từ con mắt Lý Công Uẩn, Trần Nhân Tông và con mắt thời Đại đã gặp nhau tại “kỷ nguyên vươn mình”.

Rồi đây bốn xã, mười làng, bảy ngàn hộ dân, hai ngàn ha đất, hơn hai mươi ngôi chùa, nhà thờ sẽ di rời nhường đất cho chiến lược quốc gia. Ông Nguyễn Văn Nghĩa ở làng Ngô Thôn là đồng binh 1972 của tôi là người công giáo, năm trước ông đã nhận tiền đền bù hơn bảy trăm triệu đồng làm sân bay, ông đã sửa sang nhà mới, năm nay lại nhận thông báo cả làng đi tái định cư. Ông bảo: Đất nề quê thói không ai muốn rời khỏi nhà mình, nhưng vì chiến lược quốc gia mà có chính sách tái định cư và bồi thường thỏa đáng thì dù có trời long đất nở gia đình tôi vẫn sẵn sàng.