Chiếc đồng hồ bếp – Truyện ngắn của Wolfgang Borchert (Đức) 

Nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ sân khấu Wolfgang Borchert

Wolfgang Borchert sinh ngày 20/5/1921 tại Hamburg (Đức), mất ngày 20/11/1947 tại Basel (Thụy Sĩ), là nhà văn, nhà thơ và là nghệ sĩ sân khấu.
Tác phẩm của ông ngày nay được đưa vào giảng dạy trong các trường trung học ở Đức, là những ví dụ tiêu biểu cho dòng văn học hoang tàn “Trümmerliteratur” (hay Kahlschlagliteratur) sau chiến tranh.
Năm 1941, ngay khi vừa tốt nghiệp trường nghệ thuật sân khấu,
Borchert bị động viên vào Lực lượng Vệ quốc của Đức quốc xã và bị điều về mặt trận miền Đông. Tại chiến trường Smolensk, ông bị thương ở bàn tay trái. Ngón tay giữa bị phẫu thuật cắt bỏ. Tháng 7/1942, Borchert bị đưa ra tòa án binh Nümberg với tội danh “Tự hủy hoại thân thể” cùng mức án tử hình.
Borchert được tòa án tha bổng nhưng sau đó lại bị truy tố về tội chỉ trích chống đối chính quyền bằng nhiều hình thức: thơ, văn, thư từ, kịch bản sân khấu.
Ông bị chính quyền phát xít bắt giam nhiều lần và bị đưa trở ra chiến trường trong tình trạng thương tật và bệnh hoạn. Tháng 3/1945, tại phòng tuyến ở Frankfurt (Đức), ông bị quân đội đồng minh bắt làm tù binh. Borchert đào thoát khỏi trại giam, lê tấm thân suy kiệt và bệnh tật trên suốt con đường bộ dài 600 cây số để trở về lại thành phố quê hương.
Trong quãng đời ngắn ngủi còn lại sau chiến tranh, bằng một nỗ lực kiên cường và một khát vọng sống mãnh liệt, Borchert không ngừng cố gắng vượt qua bệnh tật và đau đớn để đến với công việc. Các tác phẩm văn chương nổi tiếng của Borchert được sáng tác vội vã trong những ngày từ sân khấu chuyển sang giường bệnh, từ giường bệnh về lại sân khấu. Ngày tháng cô đơn cuối cùng ở nhà thương Babel, trong những cơn động kinh và tình trạng xuất huyết nội tạng, Borchert vẫn miệt mài viết. Dann gibt es nur ein là tác phẩm phản chiến nổi danh và cũng là tác phẩm cuối cùng của ông.
Ngày 21/11/1947, tin buồn đến với khán giả thành phố quê hương Hamburg ngay trong đêm vở kịch Draußen vor der Tür lần đầu được trình diễn trên sân khấu và thành công rực rỡ đó là Borchert đã qua đời một ngày trước đó, ở tuổi 26.
Wolfgang Borchert viết về bộ mặt thật tàn khốc của chiến tranh và thân phận bi thảm
của con người. Câu văn đơn giản ngắn gọn, bỏ qua những ràng buộc ngữ pháp, đôi lúc vỡ vụn. Tác phẩm mang dáng vóc của một bài thơ vận chuyển theo nhịp điệu, tốc độ và sự dồn nén. Như những tác phẩm thuộc dòng văn học đổ nát khác, chúng thường không có khởi đầu và cũng không có kết thúc, chúng mang bộ mặt phẳng lì vô cảm trên một thân thể thương tật. Tạp chí Sông Lam xin giới thiệu tác phẩm “Cái đồng hồ bếp” của tác giả do dịch giả Phạm Đức Hùng dịch tới ban đọc. 

 

Từ xa họ đã nhìn thấy anh đang đi về phía mình. Anh có khuôn mặt rất già, nhưng qua dáng đi của anh, người ta nhận ra rằng anh mới hai mươi tuổi. Với khuôn mặt già nua của mình, anh ngồi xuống ghế băng cùng họ. Sau đó anh cho họ xem thứ anh đang cầm trên tay.

“Đó là chiếc đồng hồ bếp của gia đình cháu”, anh nói và nhìn tất cả những người đang cùng ngồi tắm nắng trên chiếc ghế băng, “cháu nói thật đấy, cháu vừa mới tìm thấy nó. Nó là thứ còn sót lại.” Anh giơ ra trước mặt một chiếc đồng hồ bếp hình tròn, màu trắng, có mặt to bằng cái đĩa và lấy ngón tay nhẹ nhàng phủi bụi trên những chữ số được sơn màu xanh.

“Cháu biết”, anh phân trần, “nó chẳng còn giá trị gì nữa. Và nó cũng không thật đẹp, nó chỉ giống như một cái đĩa có màu sơn trắng. Nhưng cháu thấy các chữ số màu xanh trông vẫn rất đẹp. Tất nhiên, các kim đồng hồ chỉ được làm bằng tôn. Và giờ đây chúng cũng không quay nữa, không bao giờ quay nữa. Chiếc đồng hồ đã bị hỏng máy, điều đó là chắc chắn. Nhưng trông nó vẫn như mọi khi. Ngay cả khi nó không chạy nữa.”

Anh cẩn thận vẽ một vòng tròn theo mép mặt đồng hồ và khẽ nói: “Thế là chỉ có nó còn sót lại.”

Những người ngồi tắm nắng trên ghế băng không nhìn anh. Một người đàn ông nhìn xuống giày của mình, còn chị phụ nữ nhìn vào chiếc xe nôi. Sau đó có ai đó nói:

“Chắc là anh đã mất tất cả rồi chứ?”

“Vâng, đúng thế”, anh vui vẻ nói, “như bác thấy đấy, nhưng cũng là mất tất cả! Chỉ có cái đồng hồ này còn sót lại.” Và anh lại giơ cái đồng hồ lên cao, như thể những người khác chưa nhìn thấy nó.

“Nhưng đúng là nó không chạy nữa”, chị phụ nữ nói.

“Đúng rồi, nó không chạy nữa. Nó đã bị hỏng, dĩ nhiên là em biết điều đó. Tuy nhiên, trông nó vẫn như mọi khi với hai màu sơn: trắng và xanh.” Và anh lại cho họ xem cái đồng hồ của mình. “Còn điều tốt đẹp nhất là gì”, anh xúc động nói tiếp, “thì quả thật cháu vẫn tuyệt nhiên chưa nói cho các bác và các anh chị biết. Điều tốt đẹp nhất là ở chỗ, nó dừng lại vào lúc hai rưỡi. Đúng hai rưỡi, các bác và các anh chị thử nghĩ mà xem…”

“Thế thì chắc chắn là nhà của anh đã bị trúng bom vào lúc hai rưỡi”, người đàn ông bĩu môi nói, “điều đó thì tôi đã thường xuyên được nghe mọi người kể. Khi bom rơi trúng nhà, những chiếc đồng hồ đều bị dừng lại. Đó là do sức ép.”

Anh ngắm nghía chiếc đồng hồ của mình và lắc đầu: “Không phải thế đâu, bác ạ, không phải thế, bác nhầm rồi. Chuyện này chẳng liên quan gì đến bom cả. Không nhất thiết lúc nào bác cũng phải nói về bom đạn. Không nhất thiết. Vào lúc hai rưỡi, ở nhà cháu đã xảy ra một chuyện hoàn toàn khác. Chuyện đó bác không biết được đâu. Vì việc nó đã dừng lại vào lúc hai rưỡi là một câu chuyện vui. Và nó không dừng lại vào lúc bốn giờ mười lăm hay bảy giờ. Vì cháu luôn về nhà vào lúc hai rưỡi, vào ban đêm. Gần như hôm nào cháu cũng về nhà vào lúc hai rưỡi. Đó quả thật là một câu chuyện vui.”

Minh họa: Hữu Tuấn

Anh nhìn những người khác, nhưng họ không nhìn anh. Anh không bắt gặp ánh mắt của họ. Khi đó anh gật đầu nói với chiếc đồng hồ của mình: “Đương nhiên là lúc đó tao đang đói, đúng không? Và lần nào đói bụng tao cũng đi vào bếp. Gần như lần nào cũng vào lúc hai rưỡi. Và sau đó, như mày biết đấy, mẹ tao xuất hiện. Tao đã cố gắng mở cửa thật khẽ, nhưng lần nào bà cũng nghe thấy. Và nếu tao mà cố tìm thứ gì đó để ăn trong phòng bếp tối tăm thì đèn bất ngờ bật sáng. Sau đó bà đứng quanh quẩn ở đó trong chiếc áo len đan, cổ quàng khăn màu đỏ, đi chân đất trên nền bếp được lát gạch vuông. Mắt bà chỉ mở he hé vì ánh sáng quá chói đối với bà. Đơn giản là vì bà đã ngủ. Vào ban đêm mà. Sau đó bà nói: “Con lại ăn quá muộn rồi.” Không bao giờ bà nói nhiều hơn. Chỉ một câu: Con lại ăn quá muộn rồi. Sau đó bà dọn ra cho tao những món ăn nóng hổi và nhìn tao ăn, hai bàn chân luôn xoa vào nhau vì nền nhà rất lạnh. Không bao giờ bà đi giày vào ban đêm. Và bà ngồi thật lâu bên cạnh tao, cho đến khi tao ăn no. Sau đó, tao còn nghe thấy bà thu dọn bát đĩa khi tao đã tắt đèn đi ngủ. Đêm nào cũng thế. Và gần như lần nào cũng vào lúc hai rưỡi. Đến nỗi tao thấy việc bà nấu ăn cho mình vào lúc hai rưỡi đêm là hoàn toàn hiển nhiên. Đúng là bà đã luôn làm việc ấy và lần nào cũng chỉ nói mỗi câu đó. Và tao nghĩ, mọi thứ sẽ mãi mãi như thế, như thể điều đó đối với tao là rất bình thường. Tất cả mọi thứ đã luôn luôn như thế.”

Anh buông tiếng thở dài não nuột trong khi mọi người im lặng. Sau đó anh khẽ nói: “Còn bây giờ thì sao?” và nhìn những người khác. Nhưng không ai nhìn anh. Anh lại khẽ nói với chiếc đồng hồ: “Bây giờ, bây giờ tao mới hiểu được rằng đó là thiên đường. Một thiên đường đích thực.” Mọi người vẫn im lặng. Sau đó chị phụ nữ hỏi: “Thế còn gia đình anh thì sao?”

Anh mỉm cười gượng gạo: “À, chị muốn hỏi về bố mẹ em phải không? Họ cũng mất cả rồi. Em đã mất tất cả. Chị hãy hình dung xem. Mất tất cả.”

Anh cười gượng và nhìn từng người một nhưng họ không nhìn anh. Khi ấy anh lại giơ cao chiếc đồng hồ, cười và nói: “Chỉ còn lại duy nhất cái đồng hồ này. Và điều tốt đẹp nhất là nó đã dừng lại đúng vào lúc hai rưỡi. Chính xác vào lúc hai rưỡi.”

Sau đó anh không nói gì nữa. Nhưng anh có một khuôn mặt rất già. Còn người đàn ông ngồi cạnh anh thì nhìn giày của mình. Nhưng ông ta không nghĩ về giày mà đang miên man nghĩ về từ “thiên đường”…

PHẠM ĐỨC HÙNG (dịch)

Theo Tapchisonglam