
“Ký ức là nghệ thuật của sự lãng quên.” (Memory is the art of forgetting)
László Krasznahorkai
Cuộc nổi loạn của đứa nhỏ xảy ra ở tuổi ba mươi.
Đứa nhỏ phát hiện trong suy nghĩ của mình có những dòng chảy khác biệt khi vẫn đang sống giữa gia đình, nơi lẽ ra phải là chốn an trú. Định mệnh bắt đứa nhỏ sống lệch tâm khỏi những truyền thống đã gắn định danh cho nhiều thế hệ cha truyền con nối, ông bà tổ tiên.
Nhưng đứa nhỏ đã trốn thoát một cách công nhiên, sau khi lập ra một kế hoạch đặc dị để đi Sài Gòn: viết một lá thư tay thật dài, để lại trong góc phòng riêng, rồi đi ra khỏi nhà, gọi điện thoại để người nhà đọc lá thư ấy, như thể mặc định rằng từ khoảnh khắc đó, ai cũng đã biết ý định của đứa nhỏ, rằng hẳn đã có một cú sốc nào đó xảy ra, và rồi, trong sự thản nhiên gần như vô cảm, đứa nhỏ quay về nhà, đón nhận sự lặng im gai góc thoát ra từ những tiếng thở dài, nhưng không có gì phải buồn, cũng không có gì đủ sức làm lung lay ý định ra đi đã được phát lộ từ vài tháng trước.
Ngày rời đi, đứa nhỏ mang theo hành lý và những mộng mơ. Một cuộc thể nghiệm kéo dài gần sáu năm, ở một nơi khác, cách nhà (nơi đã từng là nhà) vài chục cây số. Nhưng trớ trêu, cuộc sống không hề xảy ra đúng như kỳ vọng, âm ỉ nỗi đau của một kẻ ra đi và đến một nơi mình không thuộc về, sống thâm trầm bên cạnh những mối quan hệ hỗn độn mà đứa nhỏ cố gắng bấu víu. Kiệt sức, lời nói của người khác gọt dũa linh hồn của đứa nhỏ, khiến nó trở nên nhọn và sắc, như một lưỡi dao chỉ biết quay vào chính mình. Hạt ảo vọng vỡ tan vào thời điểm đứa nhỏ nhận ra mình đã bị quay lưng bởi chính người từng đưa tay cầm nắm. Rồi đứa nhỏ bắt đầu bỏ lại sau lưng một quá khứ mới…
Chuyến xe chất đầy đồ đạc của tôi rời Sài Gòn để về quê nhà Tây Ninh vào ngày 8 tháng 8 năm 2025. Không giống với lần chuyển chỗ ở gần nhất ở quận nội thành, chuyến xe này đánh dấu lần cuối cùng của việc sắp xếp, đóng gói, ép chặt đời sống vào những thùng giấy cũ kỹ. Sách là điểm chung lúc này qua những lần tôi tìm nơi ở trọ. Chúng theo tôi như cái bóng, nằm yên đó, trôi dạt cùng tôi qua những cơn phong ba. Lần này, chúng tôi không còn sợ hãi những lần gói ghém, không còn ám ảnh bởi những thùng giấy thiếu oxy, những lần thở dốc vì mang vác và chuyển di những món đồ đang nằm hỗn độn.
Ngoài ra, không còn gì để lưu luyến với Sài Gòn nữa.
Những tháng ngày ở nơi ấy, bản thân tôi tự do trôi theo những vòng xoáy của cuộc sống, nhưng đôi lần, những cuộc gọi điện thoại của ba mẹ ở quê nhà, một vài thời điểm ba mẹ tôi phải vào bệnh viện mà không có tôi ở bên cạnh, hoặc một sáng mẹ kể hôm nay đã mua được vài mụt măng ở trong xóm giá hơn mười nghìn để nấu canh, tôi chợt nhận ra mình chỉ là một kẻ lưu lạc mà không biết mình sẽ đi về đâu. Trong khi, ở chính nơi mình sinh ra, đang có một căn nhà nhỏ, những ánh đèn khuya còn thao thức, những bữa cơm ngon do mẹ nấu, những cây con ở mảnh vườn phía sau do ba đang trồng… Tất cả như đang có cùng một bài nhã ca: hãy trở về sau những ngày bôn ba nơi đô thị.
Cuộc trở về, ngoài đồ đạc, còn mang theo những chân trời ký ức. Nhưng ký ức không được ảo hóa như trong phim “Harry Potter”, nơi người ta có thể dùng một cây đũa khều ra một làn khói mỏng, cẩn thận thả vào chiếc hộp thủy tinh, rồi bước xuyên qua đó để hiện thân trọn vẹn vào khoảnh khắc đã qua, để nhìn lại, để hiểu hết, để truy nguyên đến tận cùng mọi nguyên do.
Tôi đã bước chân vào căn phòng mà thuở trước, “đứa nhỏ” đã để lại lá thư tay cho ba mẹ nó. Chân tôi giẫm lên dấu vết của đứa nhỏ. Lá thư năm xưa thì không còn. Tôi không biết ba tôi đã làm gì với lá thư đó, tôi chưa từng dám hỏi ông cảm nhận sau khi đọc, có giận tôi không, có mệt lả đi khi biết được ý định của con gái mình… Trong mắt tôi, ba thực sự là một người đàn ông can đảm nhất cõi đời này khi biết hết mọi việc nhưng vẫn chưa một lần trách móc và âm thầm ủng hộ tinh thần cho con mình.
Những câu hỏi tu từ mà tôi đã tự gửi cho chính mình trước khi quyết định trở về quê nhà: “Tôi có dám làm lại từ đầu khi đứng trước ba mẹ? Tôi có chấp nhận tha thứ hết những gai nhọn đã đâm loang lổ vào tim khi qua một mối tình? Tôi có dám sống với một đam mê mới là viết lách? Tôi có kịp làm vui lòng đấng sinh thành sau khoảng thời gian mình đã xây thành lũy với họ?”
Cuối cùng, mọi câu hỏi ấy đều dẫn tôi đến cùng một câu trả lời: “Tôi có thể.”
Tôi biết ký ức xưa vẫn còn đó, nhưng nó không phải là một kho lưu trữ trung thực để người ta mở ra bất cứ lúc nào cũng gặp lại sự thật nguyên vẹn. Tôi được quyền lựa chọn ký ức, lựa chọn quên đi phần lớn những gì đã xảy ra, không phải vì yếu đuối, mà vì nếu nhớ hết, tôi đã không thể sống tiếp. Những nỗi đau đã hoàn thành vai trò của chúng, những ký ức còn làm mình nặng bước, những hồi tưởng không còn dẫn đến bất kỳ hiểu biết nào mới. Tất cả đều cần được đặt xuống. Phần còn lại, tôi chậm rãi tái cấu trúc thành một câu chuyện có thể chịu đựng được, có thể chấp nhận, có thể học hỏi, và sau cùng, có thể tha thứ cho chính mình.
Trở về, vì thế, không phải là quay lại để đòi công bằng cho quá khứ, mà là học cách để quá khứ không còn làm tôi gục xuống trong hiện tại. Và tất cả sẽ làm hành trang cho con đường ở tương lai mà tôi muốn mình đi tiếp.
Trở về, tôi bắt đầu chạm vào phận tơ tằm của một đứa tôi ở thực tại, không còn là một đứa con quày quả rời khỏi nhà sau mỗi mùa Tết, không còn thổn thức tim mình khi nghe mưa ở Sài Gòn mà hình dung cơn mưa ở quê nhà mình có nặng hạt hơn không…
Chỉ đến khi trở về, tôi mới nhận ra rằng ai cũng có những chuyến đi, dù như mong đợi hay bất như ý. Nhưng khi biết mình là ai và muốn sống một đời như thế nào, ta sẽ tìm được ý nghĩa cho hành trình của chính mình.
Và chính tôi, giờ như một đứa trẻ đang mỉm cười vẫy tay chào đứa nhỏ của sáu năm trước, vẫn được ba mẹ dang tay đón mình trở về nhà sau những tháng năm đi học ở trường đời và không nhận thêm một bằng cấp nào khác.
Vì tôi đã thực sự trở về…


Bài viết liên quan