10 ngày hành xác ở “xứ Thiên Đường” – Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng (bài 5)

 

Bài 5:         

“Chim thần” bị nhồi trấu, cắt cánh, vặt chân!

Càng khó tìm, khó tính, chim thiên đường đẹp lỗng lẫy kia dường như càng trở thành thứ vưu vật của “cõi xa xanh và sang chảnh” nhiều hơn. Cũng vì thế chúng bị săn lùng nhiều hơn, bất chấp luật pháp của quốc gia sở tại ngày càng nghiêm minh trong việc cấm săn bắn, bắt bẫy, buôn bán “mặt hàng” tai tiếng này. Trước khi đến Papua, chúng tôi đã đọc nhiều bài báo bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Một bài báo ở Việt Nam viết rõ: “Bộ lông có màu sặc sỡ là lý do khiến chim thiên đường trở thành mục tiêu hàng đầu của những người thợ săn, chính điều này đã dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng của một số loài trong họ thiên đường”.

Tùy theo vùng, có nơi như Việt Nam thì nạn nuôi chim cảnh đã kích cầu các đối tượng đi bắt “chim thiên đường” (họ chim đớp ruồi) về bán. Ở Úc, hai loài chim thiên đường nổi tiếng có tên là “Manucodes” và “Riflebirds”. Còn ở vùng New Guine mênh mông: “Các bộ tộc ở đây thường dùng lông của chim thiên đường trong trang phục và nghi thức. Trong nhiều thế kỷ qua, lông của loài chim này cũng được sử dụng phổ biến ở châu Âu, như một món trang sức dành cho nữ” (một tờ báo ở Việt Nam trích dẫn lời báo nước ngoài).

Xác chim thiên đường trên đầu các nữ thổ dân

Từ thông tin trên, chúng tôi đã kỳ công tìm cách tham dự trực tiếp một lễ hội ở Manokwari, trong cơn mưa chứa chan. Các vị trưởng bộ tộc lo lắng những người khác màu da và trang phục như chúng tôi sẽ không được phép tham dự. Sau khi nghe trình bày, các vệ sỹ bảo vệ một lễ hội quốc gia nháy mắt: chụp ảnh thì có mất gì của chúng tôi. Và, câu chuyện một bộ phim tài liệu lừng danh về nơi này hiện lên trong tôi: các mâu thuẫn đẫm máu mới chỉ vài năm trước, bi kịch của những người dân trong cơn tuyệt vọng nhớ về “cố quốc”… Từ bấy, tôi muốn gắn bó với họ bằng sự đồng cảm sâu sắc, cái bắt tay, ôm hôn, những lần cho họ tiền TIP và cả những lần mở lòng để họ “láu lỉnh” moi thêm.

Tất cả, nó đầy trắc ẩn và có cái gì đó như sương khói của kiếp phận con người. Các cô gái trong lễ hội cười lỏn lẻn, mặt sạm đen, lấp lánh hàm răng trắng như ngô nếp non, vai trần, những vết vẽ vằn vèo đen trắng trên da thịt mới hoang dã làm sao. Và ôi thôi, một bộ phim tài liệu nữa lại hiện ra, lời bình đay đả: “Mỗi thổ dân, dù nam hay nữ, đều có thể hoặc đồng loạt đội những cái mũ với cả vài trăm, cả vài trăm chiếc lông chim thiên đường vắt vẻo. Đây, có thể là phong tục cổ xưa của họ, nhưng đây, cũng là hình ảnh buốt lòng với những người yêu thiên nhiên hoang dã, muốn bảo vệ “kinh đô” của các loài chim thiên đường mà cả thế giới đang đang vinh danh”.

Quả thật, chưa bao giờ tôi gặp thiên la địa võng những sắc dân lạ lẫm mà ai cũng đội mũ gắn lông chim thiên đường (hoặc đính cả tiêu bản chim thiên đường y như thật trên đầu) nhiều đến thế. Tiếng loa dội lên, bằng thứ ngôn ngữ tôi không hiểu, nhưng niềm vui của hàng nghìn người trong đại lễ, sự phất phơ, khi vàng óng, khi trắng toắt, lúc tím than lộng lẫy toàn lông chim thiên đường kia thì khỏi cần… ngôn ngữ. Ai cũng hiểu. Tôi sờ vào tận đỉnh đầu một cô gái. Chú chim thiên đường với đầy đủ lông, đầu, cổ, mỏ, thậm chí không lẫn đi đâu được hai cọng lông ở đuôi cong vút và to bản như hình số 8. Mới hôm qua, chúng tôi đã tràn đầy cảm hứng, sau khi nhóm bỏ tới vài trăm triệu đồng, quăng quật qua một hành trình dài vất vả, để rồi “gặp mặt” một vài chú chim thiên đường trống y hệt thế này.

Xem các bạn chim thiên đường ấy múa trong trạng thái hoàn toàn hoang dã, giọng hót của bạn ấy, cái yếm xanh ngọc ngà to bản bùng nhùng như ai đó đang lay động một bức trướng bằng gấm xanh lượt là ngay sát tầm mắt chúng tôi (tất nhiên là tôi nhìn qua ống tele 600mm). Đẹp kì ảo, đẹp sửng sốt.Vậy mà, chỉ qua một đêm, vẫn trên chiếc bán tải của Zeth, tôi phải chứng kiến biết bao con chim thiên đường bị sát hại, rồi ngự trên đầu các cô gái kiều diễm trong một lễ hội giữa mênh mông cỏ ướt xứ này.

Có bao nhiêu con chim thiên đường đã bị giết, để họ đội lên đầu ngần ấy các bó lông sặc sỡ của chúng? Giết thiên đường, đội lên đầu, rồi lại đi xem thiên đường múa trong một lễ hội to lớn và vui vẻ không kém. Có gì đó khó hiểu ở đây không? Vẫn biết lịch sử và văn hoá tộc người là cái cần tôn trọng; vẫn biết, nhiều nghìn năm trước chim thiên đường đã gắn bó với lễ hội, phong tục, các cuộc đi săn chim thiên đường không ai cấm; vẫn biết việc bảo tồn thiên nhiên (nhất là các loài chim) mới chỉ được khởi xướng cách đây chưa lâu; vẫn biết, ở Papua New Guinea, cờ của quốc gia họ với biểu tượng chim thiên đường, tức là họ rất trân quý “báu vật thiên nhiên” này. Các vấn đề lịch sử, các câu chuyện quá khứ khó mà “xét lại” được. Nhưng, nỗi buồn tàn sát chim thiên đường không vì thế mà không đeo bám chúng tôi.

Có cách nào để xử lý văn minh tiến bộ nhất cho câu chuyện này không? Ở Việt Nam, lễ treo trâu và đánh chúng đến chết, gây phản cảm, chúng ta đã bỏ hoặc “giảm tông”; lễ chém lợn đầy máu me giữa đình làng, trẻ em xem rất phản cảm, đưa lên mạng xã hội là vi phạm tiêu chuẩn cộng đồng; họ không bỏ cái phong tục nghìn năm, nhưng rút vào “trảm” kín đáo trong khuôn viên thờ Thành Hoàng. Lễ “Linh tinh tình phộc” ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, nhiều người ngại đưa lên tivi báo chí vì đúng là âm hộ và dương vật sơn son thếp vàng đâm vào nhau giữa lúc nửa đêm tại miếu Trò Trám, người ta dã khéo léo duy trì nét son văn hoá phồn thực cổ xưa đó mà vẫn giảm được cái khía cạnh “dâm tục” của nó thông qua việc chỉ “đâm” âm dương trong “diện hẹp” là mật thất của miếu mà thôi…

Và tại đại lễ tôi trực tiếp tham dự kia, tôi thấy quá nhiều bạn trẻ đã cắm lông chim bằng nhựa, bằng vải, bằng tua rua thổ cẩm đầy màu sắc. Vẫn quá đẹp và đầy nhân ái – Tại sao không? Zeth, vị trưởng làng than phiền rằng: 36 năm ông làm người dẫn đường, tổ chức cho khách vài chục quốc gia đến ngắm chim thiên đường. Đã có những ngày họ giết chim làm thức ăn, người nước ngoài đến bán súng săn, bán bẫy cho họ “bắn đâu chết đó, bẫy đâu trúng đó”. Phải vận động lâu lắm bà con mới giảm cái việc “cải thiện” bữa ăn bằng thịt chim quý.

“Đơn giản là họ nghĩ, không ăn một con chim bé bằng một phần hai mươi con gà, thì chẳng lợi lộc gì nhiều. Để cho chúng sống, hót, múa thì khách khắp thế giới tới, thu rất nhiều tiền. Hợp đồng nhiều nghìn đô la mỗi lần, lại cả làng có được công ăn việc làm, từ vác hành lý, đưa đón, nấu nướng, phục vụ lều trại trên núi, làm bird guide, làm phiên dịch, thu tiền site (vào khu đồi núi họ quản lý, vào các lều họ đã dựng để ngắm chim)…

Sự giác ngộ vì mưu sinh đó là dễ hiểu. Nhưng đến bao giờ thì bà con dám dũng cảm bỏ cái thói quen coi việc đội cả bó lông chim thiên đường lên đầu là cầu may, là tử tế với tổ tông và truyền thống lịch sử? Điều này, chắc chắn cần các chiến dịch mưa dầm thấm lâu và sự “giác ngộ” của chính quyền sở tại, cũng như các tổ chức bảo vệ môi trường chân chính.

Nguồn gốc đau khổ của tên gọi “Chim Thiên đường”

Chim thiên đường được nhà thám hiểm, nhà văn nổi tiếng Alfred Russel Wallace dành nhiều năm miệt mài tìm hiểu và viết thành sách, sau các chuyến ông gắn bó với nhiều ốc đảo ngày nay thuộc vùng Papua. Sách ra đời năm 1869, mang tên “The Malay Archipelago”. Tôi chưa hiểu căn cứ vài tài liệu nào, chỉ biết là sách báo đều trích dẫn một câu “Chim thiên đường là một trong những loài chim biết hót cổ xưa nhất thế giới”. Chỉ biết, chắc chắn, loài chim này mải yêu, mải chải chuốt để quyến rũ bạn tình tới mức, tài liệu dẫn tiếp: “Chim thiên đường trống dành phần lớn thời gian trong đời chúng để thu hút bạn tình”. Có lẽ, điều này đồng nghĩa với việc hắn dùng hầu như cả đời để luyện giọng hót và chau chuốt bộ xiêm y lộng lẫy của mình – suy ra chúng đẹp, hót hay, múa đẹp là dĩ nhiên. Nếu một cá thể kém cỏi thì có thể nỗ lực cả đời vẫn chưa thể xuất sắc, nhưng theo tiến hoá: các con đực ưu tú (đẹp, khoẻ, múa đẹp, hót hay) sẽ được các con cái lựa chọn; con cái của chúng (nguồn gene) sẽ ra đời nhiều nhất; thì giống nòi của loài thích đẹp thích hót hay và khoẻ này (với điều kiện cả con cái và con đực đều thích theo hướng này!) sẽ được tiến triển đúng như những gì chúng ta đang biết hiện nay về loài chim thiên đường huyền thoại! (ngược lại, “giống” kém cỏi sẽ bị triệt tiêu dần).

Biểu hiện cụ thể của việc này, chúng tôi nhìn thấy hằng ngày khi đi rừng Papua. Các bạn chim thiên đường mái đều có bộ lông đẹp một cách kín đáo (khác xa với sự lộng lẫy của các “đức lang quân”), chúng là những giám khảo cao giá và kĩ tính nhất, chim thiên đường trống có khi múa may, hót nỉ non, kêu à ơi cả buổi, phô phang vẻ đẹp và sự khéo léo đến sững sờ. Nhưng, đứng xa xa, các bạn chim mái có khi ngó nghiêng ơ hờ rồi đột ngột bay vù lên giời, biến mất.

Cũng đáng đời thôi, các bạn “trai đẹp” dồn toàn bộ năng lượng cho các sự đẹp ấy rồi, tán tỉnh, “giao cấu” rồi, các bạn ấy lại đi múa may “xướng ca vô loài” với em khác. Chứ làm tổ, đẻ trứng, ấp trứng, nuôi con, “nữ nhân” (chim thiên đường mái) nai lưng ra làm cả. Phong trào nam nữ bình quyền ở đây có vẻ hơi kém. (Nói vụng, rất nhiều khi, chúng tôi quay phim chịp ảnh cả lúc lúc bạn “nam” ấy múa, hót, nhấm nháy, khoe tài, khoe khoẻ, rồi hai bạn chim “nữ” đến, rồi họ giao hoan…).

Chim thiên đường đẹp đến mức, nó là cảm hứng để người ta đặt tên loài hoa “thiên điểu” cực kỳ rực rỡ, với màu sắc và hình dáng giống như chú thiên đường đang tung cánh bay, uốn mình múa trong vũ điệu gọi bạn tình. Chim thiên đường được coi là loài có công lớn trong việc phát tán hạt quả (nhất là với một số loài gỗ gụ và hạt nhục đậu khấu), nhưng ít ai ngờ chúng còn ăn mật hoa, động vật chân khớp rồi cả động vật có xương sống nhỏ (vâng, phải có tí thịt cá mới có sức và múa chứ).

Giới khoa học thì viết về loài chim này với đầy thuật ngữ phức tạp, mô tả và phân tích vì sao chim thiên đường lại đẹp và lạ đến thế. Phần lớn các loài chim thiên đường có nghi thức kết đôi phức tạp, với các loài Paradisaea sử dụng cách thức kết đôi với tính nghi thức rất cao. Chúng cũng kết đôi kiểu “ngẫu trường” (từ nguyên văn này dùng trong tất cả các tài liệu, các bài báo nhưng hầu như không ai giải thích nó nghĩa là gì). Theo TS Lê Mạnh Hùng – chuyên gia nghiên cứu về chim của Viện Sinh thái Tài nguyên Sinh vật, kết đôi kiểu ngẫu trường là “tuỳ hứng” của các bạn trống mái, tuỳ mùa kết đôi, tuỳ theo độ “máu” của hai bên, thích là chúng nhích. Không theo một quy luật nào.

Chim thiên đường trống là đa thê ở các loài có dị hình giới tính (tức là sự khác biệt rành mạch “một trời một vực” về hình thức giữa con trống và con mái); nhưng là đơn thê (ý là sự chung thuỷ một trống một mái) ở ít nhất một số loài có hình dạng của con trống và con mái tương đối giống nhau. Chính vì sự “phong tình” của các con thiên đường trống dũng mãnh – siêu đẹp và lạ, siêu hấp dẫn từ tiếng hót đến vũ điệu, màu sắc như mổ tả ở trên – mà các nhà điểu học đã ghi nhận hiện tượng thú vị: nhiều dạng ghép (lai giống) giữa các loài thiên đường xuất hiện, khiến người ta thậm chí mô tả chúng như một loài mới.

Lịch sử các loài chim thiên đường được thế giới đặc biệt chú ý, buồn thay, lại là từ các mẫu vật loài chim này được nhồi bông làm đồ chơi, sau khi đã cắt bỏ cả hai cánh và hai chân của… tiêu bản. Mục đích của việc phi bảo tồn, phi nghệ thuật này là: có một vật trang trí tròn tròn, đôi lúc thả cả đồ vào để tìm lấy một tiện ích nào đó cho thứ mà họ gọi là “cái đẹp”.

Cụ thể, như Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đã viết: “Được biết đến nhiều nhất là các thành viên của chi Paradisaea, bao gồm cả loài điển hình Chim thiên đường lớn (Paradisaea Apoda). Loài được miêu tả từ các mẫu vật được các thương nhân mang về châu Âu. Các mẫu vật này được các thương nhân bản địa tạo ra bằng cách tháo bỏ cánh và chân của chúng, sao cho chúng có thể dùng như là vật trang trí. Các nhà thám hiểm thương mại đã không biết được điều này và dẫn tới niềm tin rằng chúng không bao giờ đậu xuống đất (vì không có chân) mà luôn được giữ lơ lửng trong không trung nhờ bộ lông. Đây là nguồn gốc cả tên gọi “Chim thiên đường” lẫn tên khoa học Apoda – không chân!”.

Điều này càng “sốc” hơn, khi ông Zeth Wonger đầy tâm huyết lôi trong tủ gỗ nhà mình ra một cuốn sách được xuất bản ở Mỹ, ở đó có viết về xứ sở chim thiên đường vùng Papua rộng lớn này rất kỹ, kèm theo một bức tranh được in trên giấy cút xê sang trọng. Bức tranh vẽ rừng cây rậm rịt, các thân gỗ to lớn, trên cành và tán cây cao có tới gần 10 chú thiên đường lớn, đuôi dài, thân to, con bay con đậu.

Trên hai chạc cây cổ thụ là hai tổ dân tốc xoăn, trang phục theo kiểu đóng khố ở trần, họ ngồi lưng ở chạc ba cây giữa chừng trời (để tiếp cận gần lũ chim nhất). Tay họ cầm cung lớn, có vẻ như tên của một anh thì nhọn, của anh còn lại thì tròn ở đầu, như kiểu họ bắn tên có nhựa dính hay nhựa độc gì đó.

Dưới tán rừng, có một thổ dân khác đang đen đúa hiện lên trong ánh nhìn ngược sáng, bởi anh ta đốt một đống lửa lớn. Chắc là hạ gục bạn chim thiên đường nào thì nướng luôn (?). Chú thích cho bức ảnh (tranh) còn đau đớn và cụ thể hơn cả một bộ phim hay những bài báo chân thực nhất, trích nguyên văn: “Natives of Aru Shooting the Greater Bird-of-Paradise” – from The Malay Archipelago (1869), suggests numerous adult males in a single lek. Such numbers in one lek are unheard of today because of hunting pressure”. Tạm dịch (thoát nghĩa): Người bản địa của vùng Aru (giờ thuộc về Indonesia, thuộc về khu vực gọi chung là Papua lâu nay) bắn chim thiên đường lớn” – hình ảnh này đợc mô tả ở Quần đảo Mã Lai (năm 1869), nó cho thấy rằng có rất nhiều con đực trưởng thành trong một khung hình (góc nhìn, không gian rừng nhỏ) duy nhất. Những con số và hình ảnh ấn tượng về một cõi thiên đường của chim thiên đường như vậy đã không còn tồn tại đến ngày nay, do do áp lực của nạn săn bắn và phá huỷ sinh cảnh sống của chúng.

(Trong một số cuốn sách đã xuất bản, cả trong thừa nhận của người các bộ lạc, họ chỉ rõ: kinh nghiệm khâu lá làm vòm nguỵ trang, năng lực dựng lều bằng lá cây tươi mà không loài chim thú nào cảm thấy phải “nghi ngờ và lo lắng” của bird guide hôm nay, chính là kinh nghiệm lập các điểm ẩn náu nhằm săn chim thú của người bản xứ.

Người dẫn đường ngắm và chụp chim giỏi, cũng chính là thợ săn giỏi trước đó hoặc ngay sau đó.  Những bức vẽ lưu lại và xuất bản từ hơn 200 năm trước của các nhà thám hiểm, nhà tự nhiên học về loài chim thiên đường bị săn bắn ở chính vùng núi mênh mông bí ẩn thuộc dãy núi lớn Arfak này; bây giờ đem so sánh với hình dáng các cá thể chim thiên đường đang kham hiếm và lộng lẫy ngoài thực tế núi rừng (vì bây giờ có công nghệ ảnh màu tối tân, trước đây là vẽ đen trắng), chúng giống nhau 100% về hình dáng, đặc điểm, sinh cảnh.

Chỉ khác là lá phổi rừng mưa nhiệt đới lớn thứ 3 thế giới trong khu vực huyền thoại này đã mai một trông thấy; và thậm chí, nhân loại tiến bộ đã đắng lòng lo lắng: chúng đang đứng trước quá nhiều hiểm hoạ tới mức suy tàn. Khác nữa là: một tán cây trước đây (trong bức vẽ gần 160 năm trước) có tới gần 10 con thiên đường lớn đậu đĩnh đạc trên đó, giờ đây, các chuyên gia lão luyện, đi cả tuần bầm rập trong rừng, có khi không gặp cá thể chim thiên đường nào!).

Vì sao “thiên đường” bỏ đảo Aru “di cư” sang châu Âu?

Một loạt các bài báo trên các cơ quan truyền thông uy tín của quốc tế, viết bằng tiếng Anh, đều đăng thông tin, trùng khít với những gì chúng tôi quan sát và cảm nhận trực tiếp được ở Đông Papua, rằng: Các đồn điền nông nghiệp, được quảng bá là phương tiện để cải thiện kinh tế đang nhanh chóng được mở rộng. Điều này có thể đúng về mặt kinh tế. Nhưng ở góc độ bảo tồn, chỉ thiếu thận trọng một chút trong tư duy và hành động sẽ là thảm hoạ với sinh thái, khiến rừng bị phá và các loài chim quý như thiên đường bị đẩy đến bờ tuyệt chủng. Một bird guide, người đưa khách quốc tế đi xem và chụp ảnh chim có uy tín, đã nói: Mối đe doạ lớn với các loài thiên đường, không chỉ là nạn săn bắn chim thú (như phần trên bài này đã viết) mà việc chuyển đổi diện tích rừng nguyên sinh sang trồng dầu cọ và ca cao mới thật sự là mối đe doạ lớn.

Số lượng chim thiên đường, dù bà con cố giữ để làm sinh kế phát triển du lịch, thu ngoại tệ về – vẫn đang bị suy giảm số lượng nhanh chóng. Cá loài chim khác (không ra tiền theo cách của chim thiên đường) thì hầu như vắng bóng – theo quan sát nhiều ngày của chúng tôi. Việc săn bắt, giết chóc chim thiên đường để phục vụ những kẻ ích kỷ và nhẫn tâm vẫn diễn ra bất chấp lệnh cấm. Đồng nghiệp của chúng tôi vẫn chứng kiến các tiệm tạp hoá bán chim thiên đường tiêu bản khô cong.

“Việc buôn bán chim thiên đường vẫn diễn ra vì nhu cầu quốc tế rất cao”, một bài báo đã dẫn nhấn mạnh. Nhân viên Chương trình Traffic (một Tổ chức phi chính phủ hoạt động quốc tế) tên là Serên Chng tiết lộ về việc các loài chim bị buôn lậu đến các vùng khác của Indonesia và vùng Đông Nam Á. Do thế, dĩ nhiên là giá bán sẽ vô cùng hấp dẫn giới săn bắt và buôn bán bất hợp pháp. Chúng tôi ghi nhận nhiều tiết lộ đáng sợ về đường đi của chim thiên đường lậu liên quan đến không ít quốc gia ở châu Á, vị này nhấn mạnh.

Trong cuốn sách nổi tiếng của Tim Laman về vùng Papua lá phổi xanh của thế giới, có đoạn: “A few days before, it was with great anticipation that Ed and I, with our Indonesian guide Shita Prativi, had boarded a small plane in Ambon for the fabled Aru Islands.They are no longer as hard to reach as in Alfred Russel Wallace’s day (Alfred Russel Wallace là nhà khoa học tự nhiên người Anh, SN 1823, mất năm 1913), but they still lie completely off the tourist track in a remote coner of Indonesia. Even before Wallace came, he knew that the Aru Islands were a source for birds-of-paradise. Because the islands were located on an ancient trade route, some of the earliest bird-of-paradise skins to reach Europe came from Aru. Both the King and Greater Bird-of-Paradise, the first two members of the family to given scientific names by Linnaeus in 1758, originated there. This was the place where Wallace saw bird-of-paradise displaying in the wind, the first Western naturalist to make such observations.

Tạm dịch: Vài ngày trước, tôi vô cùng mong đợi rằng Ed và tôi, cùng với hướng dẫn viên người Indonesia tên là Shita Prativi, đã lên một chiếc máy bay nhỏ từ Ambon để đến Quần đảo Aru huyền thoại – thuộc Indonesia. Vùng này, giờ đây (việc điều tra của Tim Laman bắt đầu từ năm 2004 đến năm 2012) không còn khó tiếp cận như thời ông Alfred Russel Wallace (ông Alfred Russel Wallace là nhà khoa học tự nhiên người Anh, SN 1823, mất năm 1913); nhưng chúng vẫn nằm hoàn toàn ngoài tuyến đường du lịch phổ biến (như kiểu Bali) và thuộc vào một vùng xa xôi của Indonesia.

Ngay cả trước khi Wallace đến Aru, ông đã ấy đã biết rằng Quần đảo Aru là nguồn cung cấp các loài chim thiên đường (dưới dạng tiêu bản, làm đồ trang trí, mang về châu Âu và các khu vực khác). Bởi vì các hòn đảo như Aru nằm trên tuyến đường thương mại cổ xưa khá nổi tiếng; nên một số bộ da chim thiên đường sớm nhất đến châu Âu đều có nguồn gốc từ Aru. Cả các loài thiên đường nổi tiếng và quý hiếm đang được bảo vệ đặc biệt hiện nay, như King và Greater Bird-of-Paradise, chúng – từ thế kỷ 18 -đã chung số phận, trở thành “hai thành viên đầu tiên” rời đảo Aru, được biết đến dưới dạng “mẫu vật” (sau khi bị giết hại, nhồi bông hoặc trấu) rồi được nghiên cứu và được các nhà khoa học đặt tên vào năm 1758…). Đây được xem là địa điểm đầu tiên mà các nhà khoa học ghi nhận được sự xuất hiện của chim Thiên đường lớn. Và từ năm 1801, những cuốn sách viết về lịch sử tự nhiên vùng núi Arfak đã được xuất bản ở châu Âu, ở đó họ vẽ hình các con chim thiên đường và diễn giải, phân tích về các tư thế chúng múa với sự “ngưỡng mộ” được đẩy thành cao trào.

Theo Mỗi ban mai thấy một khung trời lạ

(Tập phóng sự-bút ký-ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng)