Đợi anh về – Truyện ngắn dự thi của Ngọc Thanh Trà

 

“Hãy đại diện một cách xứng đáng dù chỉ một lần cho cái giống loài mà sự bất hạnh đã đẩy ta vào.”

(Samuel Beckett – Trong khi chờ Godot)

“Sự thật là ký ức vẫn chưa quên chúng ta.”

(Ocean Vuong – Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian)

Khi mũi kim đầu tiên đâm vào da, đột nhiên tôi nghĩ anh đã chết rồi.

Hẳn phải là như thế, trong một thế giới mà con người không ngừng chuyển động và bốc hơi. Sự biến mất của anh chỉ như một nhịp hẫng giữa điệu luân vũ của hàng triệu bước chân quay cuồng trong thành phố. Một giây trước anh hiện ra giữa vòng người hối hả, rồi ai đó lướt qua, che khuất, va chạm rồi tách ra; giây sau anh đã không còn ở đó. Trong chớp mắt, anh chỉ còn là một cái tên, mấy dòng chữ, vài con số, khoảng trống, một tàn ảnh.

Nhiều lúc tôi cũng muốn đi tìm kẽ hở của thực tại. Giữa những nếp gấp của thường nhật tất phải ẩn giấu thứ gì đó như thế – một cánh cửa kín đáo mà khi bắt gặp, ta chỉ cần buông mình vào đó như Alice chui tọt vào hang thỏ. A lê hấp! Biết đâu vòng tay dang đón ta phía dưới không phải là cái chết. Nhưng đó là chuyện bất khả tri. Ở thế giới này, giả thiết khả dĩ nhất vẫn là cái chết.

Tiếng người khách chợt cắt ngang âm thanh rè rè của đầu máy. Máy xăm vẫn rung đều, truyền những xung động vào bàn tay tôi. Ý thức kéo giật tôi về vị trí của một thợ xăm đang hành nghề. Nói “xin lỗi”, tôi nhìn trên tablet bức vẽ chẳng mấy chốc sẽ hiện hữu lên da khách hàng. Mũi kim vô cảm, qua tay tôi, sẽ khảm khoảnh khắc này vào thời gian trường cửu. Khi đầu kim bập vào làn da lần nữa với ảo tưởng về sự đúng đắn và dịu êm, những tia mực như túa ra từ chính đầu ngón tay tôi.

Anh chợt hiện lên trong tâm trí tôi như một ý nghĩ chệch nhịp mà người ta vẫn gặp phải khi tập trung cao độ. Dẫu vậy, tôi mơ hồ cảm thấy thực tại đã rạn ra một vài vết nứt.

2.

Đôi khi tôi vẫn trở về ngôi trường ấy trong tâm tưởng. Trường tiểu học vào buổi tối luôn hiện lên với vẻ lạ lùng.

Ban ngày, hành lang lúc nào cũng đông đúc, từng ngóc ngách đều náo nhiệt và sáng sủa, tiếng ồn của đám trẻ chói lói đến nhức tai. Nhưng từ lúc nhập nhoạng, trường học mang một diện mạo hoàn toàn khác. Khi mấy đứa trẻ cuối cùng ra về theo ánh dương tàn, tôi và dăm đứa khác mang lích kích họa cụ đến phòng Câu lạc bộ Vẽ. Cột cờ vươn lên trên nền trời chập tối trông hệt một ngọn hải đăng trơ trọi. Lác đác vài phòng học sáng đèn, chặn bóng tối dừng lại ngoài cánh cửa. Khuôn viên trường vốn chật chội tựa hồ đã đồng lõa với mịt mùng để mở rộng đường biên của nó; những góc sân nhòa nhạt như váng sữa.

Học sinh lớp Ba, Bốn, Năm được đăng ký các câu lạc bộ, học từ năm rưỡi đến bảy giờ. Luôn luôn tôi chọn ngồi dãy ngoài cùng bên trái, gần cửa ra vào, bởi lúc ấy tôi hẵng chưa thích vẽ. Lắm lúc chán nản, bỏ mặc toan tranh mà nhoài ra cửa sổ, tôi nhìn như bị hút về vài ô cửa sáng của dãy phòng đối diện. Từ Câu lạc bộ Âm nhạc văng vẳng tiếng hát một bài ca quen thuộc nhưng chẳng bao giờ biết tên. Ở Câu lạc bộ Cờ, tiếng người lúc rộn lúc im, chỉ có tiếng quân cờ đập xuống là đều đặn. Tôi thao thiết chờ đợi. Tôi chỉ muốn về nhà. Mấy cái cây ngoài sân trông thật yếu ớt trong tối ngày Lập hạ. Thời gian trôi qua rất chậm với một đứa trẻ đói bụng và không biết phải làm gì.

Càng về khuya, ngôi trường càng rợn ngợp. Gần đến giờ tan lớp, lũ trẻ ríu rít gọi nhau đi rửa họa cụ. Hành lang tối tăm như kéo dài ra làm chúng tôi hãi hùng, liền thi nhau xem ai chạy nhanh hơn. Những bước chân trẻ con rầm rập vụt qua dãy phòng đóng kín, đậm đặc bóng tối. Cả nhà vệ sinh cũng tối và lạnh lẽo; chúng tôi nói to quá mức như muốn đẩy lùi đi cơn lo hãi. Làn nước tráng sạch cọ vẽ và pallete. Trong xô nước rửa cọ, những vệt màu dù tươi sáng đến mấy khi trộn vào nhau cũng hủ hóa thành một màu trầm đục.

Đột nhiên, để trêu đùa, lũ bạn kéo nhau lao đi trước, bỏ lại mình tôi ở cuối hành lang. Tiếng cười nói, tiếng bước chân nhỏ dần từ phía xa. Trong giây lát tôi bất động, thấy đau đớn lạ lùng, như thể lần đầu tiên trong đời biết đến nỗi cô đơn. Nhưng cô giáo của tôi – bác M. – đang đợi ở phòng học ấy. Bằng những sải chân nhỏ bé, hít thở, tôi chạy thật nhanh, về phía ánh sáng.

3.

Từ trục đường chính rẽ vào phố nhỏ, rồi ngoặt vào một con đường hẹp hơn, tiếng xe cộ liền tắt lịm như xuyên qua lớp màng lọc âm. Lướt dọc những cửa hàng thưa khách, qua khu chợ nép bên gốc bàng già, tìm đến con ngõ nọ, gặp ngã rẽ thứ hai thì rẽ phải rồi đi thẳng tới, sẽ thấy studio xăm – “cứ điểm” của chúng tôi.

Ở tầng một khu tập thể, những cụ già, sống với nhau hoặc một mình, vẫn neo lại chốn cũ dù con cháu và xóm giềng đã dọn đi nơi khác, nén mình thành lớp hóa thạch của thời gian. Từ tầng hai đến tầng bốn, người thuê nhà thay đổi liên tục, các cửa tiệm đóng rồi mở lại với chủ khác; hàng xóm hiếm khi chạm mặt, không ai hỏi người trước đã đi đâu. Hiện tại, tầng hai có quán bar “Jolly Roger” sáng đèn từ tối đến khuya, người pha chế bảnh bao sau lớp kính, những nốt jazz len lỏi ra hành lang vẫn còn thơm mùi hạt phỉ. Tầng ba là “Tạp hóa Tinkerbell” bán các tặng phẩm thủ công; nhân viên, chủ tiệm và khách hàng đều là những cô nàng mộng mơ, tẩm ngẩm tin rằng con người bay được. Trên căn gác tầng bốn, “Lost-and-found” chẳng mấy khi có khách, cửa sổ mở toang để gió cuốn đi tiếng guitar, là kiểu quán café mà người chủ mới thành niên dốc hết vốn liếng mở ra nhằm vuốt ve giấc mơ thời niên thiếu. Cách quán café ấy hai nhà là nơi chúng tôi sống – ban ngày là tiệm xăm, đêm xuống lại thành chỗ ở.

Hai năm trước, tôi quen Kỳ Anh qua thầy dạy nghề của mình. Kỳ Anh hơn tôi sáu tuổi, khi ấy vừa rời khỏi một cửa hàng xăm và xỏ khuyên để mở tiệm xăm riêng, ngỏ lời mời tôi đến làm cùng. Kỳ Anh bất cần, duyên dáng và sầu muộn. Chưa bao giờ thấy Kỳ Anh nhắc đến quá khứ, như thể cuộc đời chị mới bắt đầu từ ngày chuyển tới đây.

Thời gian đầu, tôi nhận đặt lịch, tư vấn và vẽ thiết kế. Theo lượng khách dần đông, Kỳ Anh để tôi cầm kim xăm. Qua vài tháng học nghề và “thực tập”, tôi đã có quyền lưu lại dấu vết vĩnh viễn trên cơ thể người khác – thứ quyền lực đến quá dễ dàng, gần như bất cẩn.

Khu tập thể cũ như một sinh vật già cỗi thu mình trong ngõ nhỏ, song thân thể kềnh càng khiến sự hiện diện của nó chình ình và lạc lõng. Tôi luôn cảm tưởng đây là nơi trú ẩn của những kẻ trôi dạt, không muốn lớn lên, khước từ khả năng thuộc về thế giới “bình thường”. Một Neverland trong thành phố.

4.

Mùa hè đã chết – đó là lý do tôi đến nơi này.

Những sáng chủ nhật trước ngưỡng cửa trung học, tôi ngồi sau xe bố trên con đường ngập nắng. Lớp học vẽ ở Cung thiếu nhi, đầy ánh sáng và màu sắc, đã định hình mùa hè của tôi: Mải miết vẽ và vẽ. Tiết điệu ấy kéo dài mãi về sau, như thể mỗi mùa hè đều là sự lặp lại của mùa hè năm ấy.

Cho đến ngày bố ngã bệnh. Như mọi bất hạnh, biến cố xảy đến bất ngờ: Bố tôi đột quỵ ở tuổi bốn mươi lăm. Từ một nhà báo khỏe mạnh, thích đi đây đó và tập thể thao, ông bị liệt nửa người bên phải, chỉ có thể ngồi một chỗ. Gia đình phải trở thành nửa thân trái của ông. Nhiều khi nhìn người đàn ông lẩn thẩn, tiều tụy ấy, tôi muốn hỏi ông rằng bố tôi đã đi đâu rồi. Ông ở ngay trước mắt, nhưng dường như bố tôi không còn ở đây nữa.

Sau khi nhờ được người bác đến chăm sóc ông, ngỡ cuộc sống sẽ trở lại bình thường, nhưng một phần nào đó trong tôi đã chết theo một phần nào đó trong bố. Tôi chẳng thể cầm bút nữa. Mùa hè đã chết, những bức tranh cũng chết theo. Mỗi lần ngồi trước trang giấy vẽ, sự trống rỗng trong tôi lại quằn quại soi mình vào cái vực thẳm trắng xóa vô biên trước mặt. Rốt cuộc, tôi bỏ ngang khi đang học năm hai ngành Hội họa. Một người bạn ở trường Mỹ thuật nói xăm là nghề hái ra tiền, vậy là tôi nhắm mắt mua khóa học, đồ nghề bằng số tiền làm thêm và đi vay.

Dường như trẻ con có thể ước mơ làm bất cứ công việc gì khi lớn, song không đứa nào nghĩ đến việc trở thành thợ xăm. Thợ xăm là ước mơ của những đứa trẻ đã lớn, nhưng không bao giờ đủ lớn – những đứa trẻ bị mắc kẹt trong thời niên thiếu.

Nhưng người ta phải làm gì đó để sống.

Có công việc rồi, điều đầu tiên tôi làm là chuyển ra khỏi nhà. Cho đến lúc ấy, tôi chưa từng biết mình khao khát đào thoát khỏi nó nhường nào để trốn tránh dáng vẻ tàn tạ của bố, nỗi nhọc nhằn của mẹ, sự im lặng đinh tai nhức óc của căn nhà tù túng, và có lẽ, cả một tôi-không-thể-vẽ. Với tâm thế của một kẻ chạy trốn, tôi rời đi, tự nhủ đôi khi đó là cách cuối cùng để yêu thương ai đó.

5.

Hôm nay khách của tôi là Ly – một cô bé trẻ măng. Kỳ Anh tuân theo luật bất thành văn trong giới: Không nhận khách dưới 18 tuổi nếu không có người bảo hộ. Tôi hỏi Ly muốn xăm ở đâu, em vén áo, cẳng tay chồng chéo những đường cắt như một bản phác thảo bị gạch bỏ nhiều lần. Tôi buột miệng: “Đã lành chưa?”. Ly trả lời: “Sáu tháng rồi, xăm đè lên được rồi”. Nhưng Ly không biết rằng tôi hỏi về những vết thương không nhìn thấy được.

Trong phòng, Kỳ Anh đang xăm cho một khách hàng khác. Tôi ngoái nhìn, chực hỏi, chị đã lẳng lặng lắc đầu. Tôi quay lại, trông thấy ở Ly ánh mắt của một cô bé đang sợ rằng mình sẽ biến mất.

Trong cơn xung động, tôi nhận lời. Tôi lấy các lọ mực cơ bản, đổ vào những chiếc cốc nhỏ bằng móng tay rồi pha màu trên tấm pallete vừa lòng bàn tay. Nước đựng trong cốc giấy để rửa kim xăm, bên cạnh là miếng bọt biển thấm khô. Những loang màu khi nhúng đầu kim vào cốc mang sắc độ trầm đục thật giống màu nước. Dụng cụ xăm tựa như mô hình thu nhỏ của họa cụ.

Mũi kim chạm vào những dải mô lồi lõm trên da khiến Ly giật thót. Xăm trên sẹo nhói buốt hơn da thường, bởi lớp mô xơ ấy che phủ những dây thần kinh nhạy cảm sau thương tổn. Nhưng đến ngay sau đó là khoái cảm của cơn đau. Đợt công phá li ti khi đầu kim liên tục đâm xuyên qua biểu bì vừa chạm đến ngưỡng đau đã rời sang vùng da khác, khiến ta kích thích, lưu luyến, ham muốn nó. Đau đích thị là cảm giác đầy khoái lạc – ta cảm nhận cùng lúc mình sống động và tê dại.

Lau đi lớp bọt mỏng ở công đoạn cuối, những lằn sẹo như biến mất dưới một vùng tinh tú. Các đường lồi lên là dấu gạch nối đan kết mấy tinh cầu thành một chòm sao lấp lánh. Tôi ngắm nghía, thầm cảm khái cách nỗi đau trở thành một chỉ dẫn vĩnh cửu để tìm ra ánh sáng.

Khi Ly đã về, Kỳ Anh thở dài: “Em biết điều đó là không tốt ”.

6.

Trước khi có ngôn từ, đã có cái nhìn. Người dạy tôi điều ấy là bác M.

Bố tôi và chồng bác M. là bạn từ thời đại học. Sau này mỗi người một ngả, nhưng mối thân tình cũ đã nối sang tôi và bác M. – giáo viên mỹ thuật trường tiểu học. Ở trường, tôi vẫn gọi bác M. là “bác”, và bác cũng đối xử với tôi như một đứa cháu. Mỗi lần lên lớp, khóe môi bác mỉm cười nhẹ nhõm, giọng khàn mà tươi sáng. Bác cúi người thật thấp để xem những bức tranh nguệch ngoạc, và thay vì uốn nắn nó trở nên đúng đắn, bác hỏi chúng tôi: “Con nhìn thấy cái gì?”

Cứ mỗi đầu hè, bố mẹ lại đăng ký cho tôi học Câu lạc bộ Vẽ của bác. Ở lứa tuổi luôn muốn chống đối lại mọi sắp đặt, tôi chỉ thích được ùa ra sân, đu lên lan can, thám hiểm ngôi trường bé xíu. Có buổi tôi nhất quyết không động bút, bác M. cầm lấy tay tôi, nắm trọn trong bàn tay thô ráp những vết chai – bác có đôi tay của một người thợ – để ngòi bút tự tại chuyển động trên mặt giấy. Đó là nét vẽ của tôi hay của bác? Tôi chỉ biết mình thích tô màu. Màu nước.

Một đứa trẻ chưa thạo biểu đạt bằng ngôn từ, nhưng đã biết cảm nhận thực tại theo cách của riêng mình. Trẻ con nhìn thế giới trước khi gọi tên thế giới, và vẽ là cách để cái nhìn ấy hiện diện – một khả thể cho phép thế giới được khác đi. Chúng ta không vẽ sự vật như nó vốn có, mà vẽ sự vật ấy tồn tại trong mắt mình. Chúng ta vẽ vì thế giới không chỉ có một hình tướng.

Tôi lớn lên giữa những giao hội lạ lùng của thực tại và hội họa, trong một mùa hè tưởng như không bao giờ tắt.

Còn anh? Anh đã biến mất từ trước, bị đẩy vào vùng xám của đời sống – sự vắng mặt, và cứ mãi lang thang trong đó.

7.

Anh biến mất vào một buổi chiều năm 2006. Đó là tất cả những gì người ta biết. Đối với tôi, con người chưa từng gặp ấy đơn giản là người con trai biệt tích của bác M.

Những điều tôi biết về anh nằm gọn trong nội dung mẩu tin tìm người: N.T.H, sinh năm 1988, quê quán tại Hà Nội. Sinh viên năm nhất Đại học Bách khoa. Khoảng 15 giờ ngày 27/10/2006, anh rời nhà bằng xe đạp để đến trường, sau đó không thấy trở về. Dấu vết cuối cùng được xác định tại khu vực Ngã tư Vọng. Khi đi mặc áo sơ mi kẻ ca-rô, quần tây sẫm màu. Ai biết anh H. ở đâu hay có thông tin liên quan, xin liên hệ tới…

Có lẽ tôi bị kéo về câu chuyện của anh là bởi tôi cũng đang đứng ở đâu đó bên rìa vùng xám ấy. Tôi bỗng khao khát tìm kiếm anh, dù đã qua gần hai mươi năm biền biệt. Nhiều lần đi qua cung đường mà anh đã đạp xe chiều hôm đó, tôi tự hỏi anh đã biến mất ở khúc ngoặt nào? Năm 2006, ngã tư Vọng là một cái phễu khổng lồ, hút vào lòng nó đoàn xe tải từ phía Nam, xe khách từ Giáp Bát, tàu hỏa rú còi inh ỏi. Trong guồng lưu chuyển hỗn loạn, liệu anh có kịp lưu lại trong mắt người qua đường? Có nhân chứng nào trông thấy anh không? Ta tồn tại nên được nhìn thấy, hay chỉ trong khoảnh khắc được nhìn thấy, ta mới thực sự tồn tại?

Mãi vài năm sau khi lên cấp hai, tôi mới đọc được mẩu tin ấy trên tờ báo mà bố tôi làm việc – một trong nhiều nỗ lực của gia đình bác M. để tìm người con đã biến mất tuyệt không tung tích. Theo lời ủy thác của vợ chồng bác, những dòng tin này được bố tôi phụ trách. Số báo phát hành đã lâu, vụ việc xảy ra trước khi tôi lên tiểu học, trước những giờ vẽ ở câu lạc bộ. Đứa trẻ vừa bước một chân ra khỏi tuổi thơ là tôi khi đó đã sững sờ nhận ra câu chuyện này gắn với cô giáo điềm đạm mà mình từng quen thân. Là do thưở ấy tôi chỉ nhìn bác bằng đôi mắt vô tư non nớt, hay có những nỗi đau đã lặn sâu vào tâm khảm, đến mức chúng từ chối hiện hình?

Thời khắc nghe tin anh mất tích, có lẽ bác đã bàng hoàng đến lặng người, trước khi cơn hoảng loạn thúc giục bác chạy từ bệnh viện này sang bệnh viện khác, mong tìm thấy anh đang hôn mê ở đâu đó. Bạch Mai. Việt Đức. Những bệnh viện lân cận, các phòng khám nhỏ. Bác tất tả hỏi từng khu cấp cứu xem có một người con trai nào trạc hai mươi chưa tìm được thân nhân. Mỗi ca trực đều có một cuốn sổ cái ghi giờ vào, tình trạng, họ tên người nhập viện. Bác khẩn khoản xin xem cuốn sổ đó, trong khi mô tả đặc điểm của anh bằng giọng nói không còn giống giọng mình. Đó là kịch bản tốt nhất có thể xảy ra: Anh bị thương, được đưa vào một bệnh viện trong thành phố. Cùng lúc ấy, bác trai tìm đến các đồn công an, hỏi về mọi sự việc xảy ra trong khu vực – một vụ tai nạn, một cuộc ẩu đả, một thanh niên đi lạc?

Rồi cũng tới ngày bác mang niềm hi vọng tan vỡ mà tìm đến nhà Vĩnh biệt. Những năm ấy, quy trình nhận dạng còn thô sơ, người ta phải vào nhìn trực tiếp những thi thể chưa xác định danh tính được đưa vào nhà xác. Bước vào căn phòng lạnh lẽo, mùi hóa chất và tử khí nồng đến khó thở, người nhân viên kéo từng hộc lạnh để bác nhìn các tử thi không người thân thích. Mỗi lần tấm khăn trắng được lật lên, đối diện với một khuôn mặt xa lạ, là một cơn kinh hoàng đầy giằng xé và mâu thuẫn: Bác mong người đó là, hay không phải là, con trai bác? Những con người vong mạng vô thừa nhận, đều là con của ai đó. Với những thi thể biến dạng nặng nề hoặc đã được an táng, công an lưu thành hồ sơ vài bức ảnh chụp lại mặt và các đặc điểm nhận dạng bằng máy kỹ thuật số đời đầu. Trong điều kiện thiếu sáng, nét ám xanh, vệt cháy sáng trong tấm ảnh nhợt nhạt khiến những nhân dạng vô danh đó như chực tan rữa vào hư không. Bác ngồi trong phòng trực của đồn công an, lật từng trang cuốn album ấy, cho đến khi những gương mặt lẫn vào nhau, không còn phân biệt được.

Thảy đều vô ích. Rốt cuộc, phía công an đưa ra giả thiết khả dĩ nhất về những gì đã xảy ra ngày hôm ấy: Có thể trên một khúc đường khuất, chiếc xe tải nào đó đã nuốt trọn anh cùng xe đạp vào gầm. Thay vì đạp phanh, đưa vào viện hay để mặc anh trên đường mà chạy trốn, tài xế đã chọn cách phi tang. Những năm 2000, trong giới tài xế đường dài vẫn truyền nhau “luật ngầm” rằng đã đâm thì cho “đi” luôn. Họ sợ cái án nuôi người tàn tật cả đời còn hơn án tù vì gây tai nạn chết người. Người ta có thể bế thốc anh lên cabin dưới danh nghĩa đưa đi cấp cứu, nhưng thực chất là đi tìm một khúc sông vắng, bãi rác công nghiệp hay một công trường đang đổ móng, để xóa sổ mọi dấu vết về một con người. Kịch bản tàn khốc này chí ít mang đến lời giải thích khả hiểu, một con đường để thương thỏa với nỗi đau, như cách người ta cố hạ dấu chấm thay vì dấu hỏi cho một truy vấn không hồi đáp.

Nhưng logic của một người mẹ không sao chấp nhận. Bác nghĩ đến các khả năng khác: Anh bị bắt cóc, bị bán qua biên giới, hoặc mất trí nhớ và đang lang thang đâu đó. Từ tìm xác, bác chuyển sang tìm người. Mang theo những tờ giấy photocopy in đậm dòng chữ “TÌM NGƯỜI MẤT TÍCH”, bác đi dọc các tuyến đường, dán lên khắp các cột điện, cột đèn, trạm xe buýt, dù biết đến cuối ngày chúng sẽ bị bóc ra. Bác dành dụm tiền để giữ mẩu tin tìm người ở trang cuối các tờ báo, số này qua số khác. Khi không còn gì là chưa thử, bác tìm đến tâm linh. Bác đi khắp các ông thầy, bà đồng từ Hà Nội đến Bắc Ninh để hỏi một câu: “Con còn sống hay đã mất?” Mỗi nơi một kiểu, người đoan chắc anh bị bắt sang Trung Quốc, người quả quyết anh đang ở miền Nam…

Rốt cuộc, câu hỏi vẫn bỏ ngỏ. Sự biến mất của anh hoàn toàn là trò đùa ác hiểm của hư vô. Giữa cái chết và biệt tích, điều gì dai dẳng hơn? Khi một người chết, nỗi đau còn có hi vọng nguôi ngoai theo thời gian. Nhưng khi một người mất tích, thời gian không giúp được gì; nó chỉ kéo dài thêm khắc khoải. Người mất tích luôn còn khả năng trở về – đó là điều khiến nỗi đau không bao giờ kết thúc. Một bản án treo vô thời hạn.

Một chi tiết tôi được nghe bố kể: Chiều hôm đó, hóa ra anh đi trả cuốn sách đã mượn ở thư viện trường. Những điều nhỏ vụn như thế thường rơi ra ngoài câu chuyện, trôi tuột và mất hút trong dòng thời gian, chẳng hạn: Cuốn sách anh mang đi hôm đó là cuốn nào? Vì sao anh mượn nó? Anh đã nghĩ gì khi đọc? Cuốn sách chưa kịp trả đã được bổ sung bản khác, hay cho đến nay thư viện vẫn khuyết đi một đầu sách – một khoảng trống nhỏ bé, tựa như anh trong thế giới này? Mẩu tin mất tích tường minh, rành rọt trái ngược với sự mơ hồ của vô số chi tiết thuộc về cuộc đời anh – những điều người ta vĩnh viễn không hay biết.

Và thế giới vẫn miệt mài chuyển động, như thể việc một người biến mất chẳng đáng gì.

8.

Vài ngày sau, bố mẹ của Ly tìm đến.

Mẹ cô bé trút xuống chúng tôi những lời trách cứ vì dám xăm cho một đứa trẻ cấp ba. Hiện giờ Ly đã bỏ nhà đi, sau khi bị phát hiện chuyện trốn học để đi xăm. Người bố đưa ra lời kết tội bằng ánh mắt. Kỳ Anh ra hiệu cho tôi vào phòng ngủ; trước khi đóng cửa, tôi nghe thấy chị tự nhận mình là người đã xăm cho Ly.

Không khí bên ngoài căng ra như tĩnh điện. Tiếng nạt nộ kích động của người mẹ át đi giọng Kỳ Anh. Mẹ Ly quát lớn: “Con gái tôi trước giờ rất ngoan”. Chẳng phải tôi cũng từng là đứa con ngoan sao? Tôi muốn tự trào nhưng không kiềm được cảm giác châm chích trong lòng, giống như mũi kim xăm day vào trái tim. Đứa con giờ đã bỏ học, bỏ nhà và làm thợ xăm ấy có thể đối mặt với bố mẹ mình thế nào đây? Tôi cứ ngỡ mình có thể giúp gì đó cho Ly, nhưng trong thế giới của người lớn, tôi cũng chỉ là một đứa trẻ bất lực và không hiểu chuyện. Tôi mở to đôi mắt ráo hoảnh. Mùa hè lững lờ trôi cùng những hòn đảo trắng lừ lừ trên nền trời. Khi tôi nghe tiếng cửa đóng và bước ra ngoài, Kỳ Anh vẫn mang vẻ điềm nhiên.

Đến xế chiều, trời đổ mưa xối xả – khúc vĩ thanh của mùa hạ. Bất chợt cơn đau nho nhỏ trú ngụ đâu đó dậy lên, tựa như cảm giác luyến tiếc của một đứa trẻ khi kỳ nghỉ hè sắp hết. Đừng trôi qua nhanh thế, tôi nhủ thầm, bởi tôi vẫn chưa kịp lớn mà.

Hai năm nay, gia đình của tôi là Kỳ Anh. Chúng tôi ngồi ghế xếp đặt trước ban công, giữa mùi rêu ẩm mốc, nhìn những chậu cây hân hưởng thứ bụi nước vỡ tan trên song cửa. Đầu thuốc âm ỉ cháy đỏ như nham thạch. Tôi biết mái tóc chị có mùi hoa nhài và khói. Cái nóng đang loãng ra – cuối cùng cũng có không khí để thở.

Tôi chạm vào điện thoại, giật mình tưởng nó vừa rung lên – cuộc gọi từ mẹ. Nhưng đó chỉ là ảo giác.

9.

Đến khi trời sẫm lại như nhấn chìm cả không gian vào lọ sơn xanh chàm, Kỳ Anh bâng quơ: “Bố mẹ Ly nói thấy con bé đi đường này nên mới tìm đến đây”.

“Đi bắt con chuột ấy nào”, Kỳ Anh nắm lấy tay tôi kéo ra ngoài. Với chị, tôi sẵn sàng nhắm mắt đi theo mà không cần hỏi. Mưa nặng hạt gõ lộp độp vào mái nhà hệt một tay trống tồi. Dọc hành lang ẩm lạnh, các bóng đèn màu cam tựa những mặt trời tí hon. Giữa bức tường nhập nhèm, phối cảnh của bóng tối biến vòng xoắn cầu thang thành một mê cung sâu hút.

Ly đang co ro ở góc tầng ba, ướt sũng, chiếc balo quá khổ trên vai gần như xẹp xuống. “Bố mẹ em đang lo đấy”, Kỳ Anh gọi. “Họ chỉ tức thôi”, Ly phản pháo sau quãng ngập ngừng. “Nếu muốn đi thì đợi vài năm nữa”, Kỳ Anh lắc đầu, “đến lúc ấy em mới biết mình muốn bỏ lại cái gì”. Chị kéo Ly quay lại studio. Tóc Ly ướt nhèm, bàn tay run rẩy vì lạnh hay vì sợ. Sau khi nhận khăn, kẹo gừng và nước nóng, cuối cùng Ly cũng tháo bỏ lớp phòng bị. Em đến đây vì không có nơi nào để đi.

Ly làm tôi nghĩ về những người con rời bỏ gia đình, chỉ khác nhau ở cách họ biến mất, và liệu có quay lại hay không. Khi người ấy đi khỏi, chỗ của họ vẫn còn đó – một khoảng trống mà người ở lại phải sống cùng. Khoảng trống ấy tựa như một hố đen, nằm ngoài trường khả kiến nhưng mang lực hấp dẫn tàn nghiệt, làm thời gian ngưng trệ và kéo giãn không gian, âm thầm bẻ cong thực tại.

Tôi lại nghĩ đến anh – người đã vắng mặt gần hai mươi năm. Anh bỏ lỡ tất cả những chuyện đã diễn ra trong nhà, những đổi thay khôn dò mà chỉ người ở lại mới biết. Từ một thành viên, anh trở thành một cái tên trong lời kể, rồi thưa dần, rồi im hẳn, bởi người ta còn có thể nói gì về một người không có mặt. Điều đó thật đáng trách và khó chấp nhận. Nhưng tôi nhận ra mình cũng là một người con không hẹn ngày trở về.

Chẳng khác nào đứa trẻ ích kỷ, mải mê chơi trò cút bắt mà quên mất rằng có người vẫn đang đợi.

10.

Rốt cuộc, ký ức chỉ nằm ở vùng biên thùy của thực tại. Thứ gọi là ký ức, thực ra chỉ là những mảnh ghép bị cắt dán đến méo lệch, là những lỗ hổng được vá víu bằng tưởng tượng, là thứ tạo tác đầy phản trắc. Đã hơn mười năm kể từ lần cuối tôi gặp bác M. Những gì tôi hình dung chỉ là cuốn phim chắp nhặt về một nhân vật vô hình, vô ảnh. Nhưng dẫu chênh chao và ngụy tạo đến thế, ký ức vẫn có từ tính riêng, hút tôi vào trong quỹ đạo hư ảo của nó.

Cơn mưa qua đi ướp vào bầu không cái se se chẳng thuộc hẳn về một mùa nào. Bằng đôi mắt vừa được gột rửa bởi mưa, Ly nhìn Kỳ Anh gọi cho bố mẹ em bằng số điện thoại lúc nãy chị xin. Mấy tiếng “vâng” của chị như đang tháo từng nút thắt – Kỳ Anh vẫn luôn thu xếp được mọi chuyện theo cách của mình.

Đi xuống những bậc thang ẩm thấp, ra đầu ngõ, taxi vừa đến dưới ánh đèn đường. Kỳ Anh nói gì đó rồi ấn Ly vào trong xe, đoạn gõ cửa kính để dặn dò tài xế một hồi. Bác tài nhiệt tình, hiểu tình huống ngay. Mất một lúc tôi mới nghe ra lời cuối chị nói với Ly: “Đi đâu cũng được, nhưng nhớ quay về nhé”.

Chúng tôi dõi theo chiếc taxi đến khi nó rẽ vào đường lớn, hòa vào dòng xe vừa tái khởi sau cơn mưa. Tôi đưa tay lên mặt, thấy nước mắt đã ướt má từ lúc nào. Gạt rồi lại gạt khiến hai bàn tay ướt đầm, tôi đành kéo áo lên, úp mặt vào đó. Tiếng nức nở qua lớp vải nghèn nghẹn như phát ra từ một cái cổ họng thiếu không khí. Tôi liên tục lắc đầu, sau rốt Kỳ Anh rời đi để tôi một mình. Đôi chân đưa tôi đi lang thang. Mặt đường loang loáng đôi ba vũng nước lớn như tấm gương phản chiếu một thành phố lộn ngược; dưới đó đường viền đã mất độ sắc nét, ánh sáng chỉ là những dải màu. Một hạt mưa rơi xuống là thành phố vỡ tan.

Nơi để trở về, tôi lặp lại trong đầu. Nhưng không phải ai cũng trở về. Anh là một trong số đó. Tôi cũng vậy.

Vậy mà bác M., tôi tin, vẫn chờ anh. Sau khi đi qua nỗi tuyệt vọng rằng anh không trở về suốt từng ấy năm, và có thể sẽ không bao giờ về nữa. Chờ đợi là cách chống lại sự biến mất, khiến cái chết mất đi tính xác quyết. Chừng nào còn ta chờ, người đã rời đi vẫn chưa hoàn toàn biến mất; họ chỉ đang vắng mặt, nên ta dành một chỗ cho họ.

Tôi tưởng tượng căn phòng của anh vẫn được giữ lại. Dẫu thời gian đã làm xê dịch ít nhiều, vẫn còn những dấu tích lặng lẽ, để anh chỉ cần bước vào và sống tiếp quãng đời dang dở. Nếu trở về, anh sẽ nhận ra nhiều điều đã khác, em trai đã lớn lên, bố đã già đi, và cũng có điều không hề thay đổi: Mẹ vẫn đợi anh.

Có thể điều khiến người ta quay về không phải là con đường, mà là người vẫn đứng đợi ở cuối con đường. Nếu vẫn còn có người chờ, liệu anh có trở lại, dù đang ở bất cứ đâu? Tôi nghĩ đến điều phi lý rằng sự chờ đợi có thể mở ra một lối về ngay cả từ cõi chết. Chỉ cần còn một người chưa từ bỏ, cái chết cũng chưa phải là kết thúc. Dù hoang đường đến mấy, anh phải quay về. Khi bấu víu vào cuộc sống bằng những ngón tay mệt nhọc, ở nơi nào đó, chúng ta vẫn giữ một ý niệm về sự trở về. Bởi vì có những người chờ ta như thế, và vì sự chờ đợi ấy là sợi dây níu giữ ta lại với thế giới này.

Khi khả năng quá mong manh, lẽ ra người ta nên ngừng chờ đợi. Nhưng xác suất chỉ là những con số mồ côi. Có lúc người ta không còn lựa chọn nào khác ngoài tin vào điều phi thực. Một niềm tin có thể vô lý, nhưng không vì thế mà vô nghĩa. Tôi tin anh sẽ trở về. Rồi chúng ta sẽ trở về. Một ngày nào đó.

Tầm nhìn càng lúc càng mờ nhòe như thể làn nước đã dính chặt vào tròng mắt. Ánh sáng trôi đi trên phố – đèn xe, biển hiệu, những ô cửa – trong cuộc thoái lui của bóng tối. Nhưng tôi vẫn mắc kẹt trong ngôi trường tiểu học ấy, đứng trước ảo giác về sự triền miên của đêm đen với một nỗi buồn chưa biết gọi tên. Tôi chợt nhớ ra vì sao thuở bé mình yêu màu nước. Bởi những bức tranh ấy không hề xa lạ – mọi ranh giới loang ra, lan tràn, trở nên trong suốt; đó là thế giới được nhìn qua làn nước mắt. Những sắc giai và hình hài đều hóa lỏng trong một thực tại lễnh loãng, không đường nét. Giờ đây tôi đang nhìn thấy nó: Thế giới được họa thành từ màu nước.

11.

Một buổi sáng nọ trời chuyển sang thu. Không ai thông báo, không cần nhìn lịch. Người ta nhận biết bằng từng tế bào trên cơ thể, rằng mùa hè đã ơ hờ rút đi mà chẳng để lại chút tàn dư. Đó là buổi sáng mà các giác quan khẽ động cựa, ta nhìn mọi vật rõ hơn, nghe mọi âm thanh rành rọt hơn, tỏ tường trong nhận thức về không gian nhưng tê liệt trong cảm thức về thời gian.

Tôi đang đợi vị khách đã đặt lịch. Có thể họ sẽ không đến như đã hẹn – chuyện vẫn thường xảy ra. Nhưng mặc điều đó, lúc này tôi vẫn ở đây, trong trạng thái chờ.

Từ tầng bốn khu tập thể, tôi nhìn xuống thành phố đang khởi hành vào mùa thu trong một buổi sáng trì độn và hờ hững. Con người hiện diện dưới đó, lấm lem, sống động, như thể không gì có thể đột ngột bị rút khỏi dòng chảy này. Khu chợ sáng lố nhố người qua lại; những chiếc túi nilon đựng các thứ lặt vặt, tầm phào của sự vụ hàng ngày. Chiếc xe đạp rong mang theo mùa hoa mới lướt qua mặt đường xám như một giấc mơ ngắn ngủi. Ở quán trà đá, người đàn ông vừa nghe điện thoại vừa gẩy tàn thuốc. Những đứa trẻ ngáp dài, bám chặt vào lưng người lớn, được chở tới trường. Ông thợ già cắt tỉa mái tóc bạc của người khách cao niên trên vỉa hè cuối phố. Tất cả họ đều thuộc về thành phố này, đều ở đúng chỗ của mình, như những diễn viên mở màn cho hồi diễn tất định của mùa thu.

Phải chăng anh ở đâu đó ngoài kia. Anh lẫn vào những con người ấy, đi lại giữa họ, chẳng một dấu hiệu gì. Tôi có thể lướt qua anh vài lần trong đời mà không hề hay biết, trong một cuộc hồi hương thầm lặng.

Phần lớn đời sống trôi qua trong chờ đợi. Chờ một người nào đó, một điều gì đó, đến hoặc không đến, song người ta hiếm khi biết rõ mình đang chờ điều gì. Bên dưới bề mặt ồn ào và dày đặc, nếu lắng tai thật kĩ, có thể nghe thấy tiếng rì rầm của một vọng âm xa vắng dội về từ ký ức, kéo ta ngoái đầu lại, dẫu chỉ để nhìn vào vô định.

Tôi nhắm mắt. Bác M. Hẳn là lúc này căn nhà nhỏ của bác vẫn để cửa mở như thường lệ. Ấm trà pha từ sớm đã nguội đi từ lúc nào. Tia nắng lọt qua cửa kính, đóng băng những hạt bụi lửng lơ trong không khí. Kim đồng hồ mặc nhiên dịch chuyển, đẩy lùi cuộc vây quét của hư vô. Đó hẳn là nơi đầy ánh sáng, tắm mình trong vầng dương bình thản, trong cái im ắng trang nghiêm và thâm hậu của mùa thu. Bác ngồi trên chiếc ghế quen thuộc, như vẫn luôn ngồi đó, có thể đã ngồi từ rất lâu. Và chờ đợi.

Hơi ấm từ khung cảnh ấy lan tỏa tới tôi, cùng cái nhói đau của một cơn thắt ngực.

Cả tôi nữa, anh ạ. Tôi cũng đợi anh về.