
Những người không mang họ là phần đầu bộ tiểu thuyết gồm hai tập (Những người không mang họ, Gia tộc họ Sùng và họ Lục) dày 800 trang của nhà văn Hồ Bá Thược do Nhà xuất bản Thanh niên và Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 2022 và 2025.
Nhà văn Bùi Việt Mỹ – Phó Chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội nhận xét:
“Những người không mang họ tạo nên một câu chuyện hết sức kì lạ với nhiều nhân vật bí hiểm như dưới đất chui lên. Ba gã đàn ông và một mụ đàn bà sống chung giống như chế độ đa phu trong căn nhà ma ám đầy âm khí.
Không chỉ đói nghèo, sống cơ cực dưới đáy xã hội mà cơ thể của họ đâu còn lành lặn. Lão Chột sinh ra đã bị chột mắt “lèo nhèo như con mèo đen” bị bỏ rơi ở góc chợ. Cu Tướng với “bộ răng cải mả chìa hết cả ra ngoài trông đến khủng khiếp”. Còn lão Sầm thấy lửa cháy là “điên điên dại dại” vì dư chấn bởi bị giặc đốt nhà và hãm hiếp vợ con. Còn mụ Gù xuyên suốt toàn bộ câu chuyện là người đàn bà “lưng gù vạt áo sau lưng hất lên, để lộ bộ mông to, ngực nẩy như hai quả bưởi lớn, mặt trái xoan ngằng ngang với dáng đi lạch bạch”.
Dưới con mắt nhân đạo sâu sắc của nhà văn, các nhân vật nghèo khổ cùng cực dưới “đáy” xã hội với thân hình méo mó, dị mọ nhưng thực ra họ lại là những con người thánh thiện, luôn sống với tấm lòng trong sáng tròn đầy yêu thương.
Đó là thông điệp mạnh mẽ mà tác giả muốn gửi đến bạn đọc”.
Đường Văn xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc 3 chương đầu của cuốn tiểu thuyết này.
Chương 1
CHẠY TRỐN
Đáng lẽ mụ đã mồ yên mả đẹp. Nếu không được tử tế, yên lành như thế, thân thể của mụ đã lềnh phềnh trên sông Màu, trôi ra biển từ lâu rồi. Chỉ sau hôm mụ Gù mất tích, bỗng nhiên trời như tấm thảm đen, một đàn quạ lớn xuất hiện, xếp theo hình mũi tên, lượn mấy vòng trên làng Màu, kêu lên tiếng “q…uạ… q…u…ạ… qu…ạ…” rồi xua nhau bay ra biển, báo hiệu điềm chẳng lành? Phải chăng có người chết ở đâu đó hoặc trôi sông? Vậy người đó là ai, đàn ông hay đàn bà, già hay trẻ, người trong làng hay người vãng lai…?
Nhiều người tin rằng người chết chính là mụ Gù. Sự việc quạ kêu thường báo
hiệu điềm gở, vận xui. Mụ vừa biến mất hôm trước, hôm sau đàn quạ đổ về. Trên các hàng cây cổ thụ Đền Chính, hàng trăm con cùng cất tiếng kêu “q…uạ… q…u…ạ… qu…ạ…”. Có thể chúng thông báo cho nhau về một xác chết hôi thối vừa mới xuất hiện trong vùng. Với xác chết, đó là món ăn ưa thích, cực kỳ khoái khẩu của loài quạ đen. Nếu con mồi nhỏ, chúng tranh nhau ăn tại chỗ. Các con vật to lớn hơn, thậm chí là xác người chết, chúng rỉa rói, nếu ăn không hết đem cất giấu đâu đó để ăn dần.
Chúng sinh sống ở đâu không ai biết, bỗng nhiên bay về, để cho cả làng xôn xao, bàn tán. Xưa nay người làng Màu không bỏ qua bất cứ chuyện gì xảy ra dù chuyện to như con voi hay nhỏ bé như con kiến. Khi sự việc điều tra trắng đen rõ ràng, kẻ sai trái, người có lỗi, dùng luật lệ của làng để răn đe, trừng phạt. Nhiều người cho rằng luật lệ của làng rất khắt khe, dân làng Màu quá sợ hãi, trở nên hiền lành, nhút nhát chăng?
Việc mụ Gù mất tích hay bị giết, chưa ai dám chắc. Nếu đúng bị giết, ai đã làm việc này, vì động cơ mục đích gì? Đó là câu hỏi đầu tiên từ người trẻ cho đến người già, ai cũng đều nghĩ như vậy. Đối với người vô công, rồi nghề, đóng vai “thám tử”, đầu óc vốn dĩ không bình thường, họ xăm xoi nhìn đâu cũng ngờ vực, nhìn gà hoá cuốc, người lành biến thành kẻ thủ ác. Mụ Gù chưa gây thù, chuốc oán với ai nên các thám tử không nghi vấn người dân trong làng thù hận mà tập trung vào đối tượng liên quan trực tiếp đến mụ Gù, hoặc có kẻ thứ ba, thứ tư xuất hiện.
Đó là một người đàn ông có tên là cu Tướng ở đâu dạt đến làng Màu sinh sống bằng nghề bốc mồ mả. Hiện thời người này sống chung với mụ Gù như vợ chồng. Nhưng sau khi các “thám tử” suy xét về nhiều khía cạnh, không thể coi đối tượng nghi vấn là chồng của mụ được. Họ chưa thấy hắn và mụ Gù ăn hỏi cưới xin làm sao coi là chồng, vợ? Ngoại trừ đôi lần bắt gặp hai đứa đã “ăn nằm” với nhau, lúc kín đáo, lúc công khai. Vì thế trường hợp của mụ người ta cho rằng quan hệ với cu Tướng chỉ ở mức nhân tình, nhân ngãi. Vậy cái chết của mụ không phải do mâu thuẫn vợ chồng. Có thể vì ghen tuông nảy sinh do mối quan hệ tay đôi, tay ba? Hay hàng ngày vì miếng cơm, manh áo sinh ra cãi cọ, bất hoà, thù ghét nhau?
Một số người chuyên ngồi lê đôi mách cũng nhúng vào vụ này, thêu dệt làm rối tung rối mù, khiến các nhà “thám tử” điều tra bị phân tâm, rối trí. Dẫu vậy họ vẫn quyết tâm đi đến tận cùng.
Dẫn đầu đoàn đến “Vương quốc Gò Nhồi” là các “thám tử”, đầu óc có nhiều kinh nghiệm được coi là “giới tinh hoa” của làng. Đi sau các “thám tử” gồm mấy mụ rỗi hơi đã mô tả ở trên. Cuối cùng, một lũ trẻ con quần áo nhem nhuốc với sự hỗ trợ tích cực của mấy chú chó con quen ngửi mùi phân dính sau đít lũ trẻ hơn là đánh hơi người để tìm thủ phạm.
Đoàn điều tra tự phong không đi theo đường làng mà đi tắt sau Đền Chính có những cây to rậm rạp. Lá khô phủ kín gốc. Bên trên họ hàng nhà cò trắng đậu, thấy động dưới đất cất cánh bay ào ào, một quầng màu trắng phủ lên rặng cây xanh um. Nhiều quả gáo chín rụng xuống thảm lá dày thối vữa. Những quả thị dơi ăn nham nhở rơi vãi khắp nơi.
Mọi người câm lặng, nhón chân đi khẽ, tưởng như đang tập kích vào sào huyệt bí mật nào đó. Đây là phong cách được mô phỏng trong các truyện trinh thám mà dân làng Màu đang có “dịch” đọc truyện gồm các thể loại kiếm hiệp, trinh thám.
Đến “tư dinh” của cu Tướng, nhấc tấm ván thiên che cửa, hai “thám tử” mới chui lọt vào được “căn phòng” sáu mét vuông của gia chủ. Cả bọn sợ khiếp vía thấy chủ nhà người to lớn, nằm trên hai tấm ván thiên ghép lại thành giường, mắt mở trừng trừng nhìn lên mấy tấm lợp màu sắc rắm rối. Hai tay, hai chân giang ra thòng xuống đất giống như người chết đuối mới vớt lên bờ. Các bà đứng ngoài, nhìn qua khe ván, thấy cu Tướng trùng trục chỉ mặc độc chiếc quần rách như xơ mướp, không rõ quần đùi hay quần dài, nhưng nơi cần che đậy lại thiếu vải, khiến các bà đỏ mặt quay đi, không dám nhòm vào.
Danh tính người đàn ông được xác định chính là cu Tướng, người làng rất quen thuộc. Nhưng đây là thủ tục điều tra nên cũng phải đặt ra nhiều câu hỏi cho đúng “luật định”:
– Tên họ của ông là gì? Sinh năm bao nhiêu? Quê quán ở đâu? Làm nghề gì? Ông đến làng Màu từ bao giờ?
Những câu hỏi rắm rối, giằng xéo như đạn ria, người chất vấn vừa mới bắn ra. Không biết cu Tướng có bị rối trí hay không nhưng người hỏi cứ hỏi, người bị thẩm vấn vẫn giữ thái độ im lặng, khinh khỉnh, không thèm trả lời. Gã cứ nằm im thin thít, mắt mở trừng trừng. Dù biết thừa gã từng chôn bốc hàng trăm mồ mả, ăn mòn bát đĩa làng Màu, tham gia hàng chục trận đấu đá với đàn chó dữ… Biết vậy, “điều tra viên” không hề nản lòng, tiếp tục truy xét:
– Gia đình có mấy người? Vợ con ở đâu? Ông biết gì về mụ Gù? Ông đã từng quan hệ với mụ Gù như thế nào?
Lần này người điều tra có vẻ chạm đến danh dự cũng như lòng tự trọng lâu nay gã tôn thờ. Với thái độ bất ngờ đầy phản kháng, gã ngồi bật dậy, hộc lên mấy tiếng như lợn bị chọc tiết, rồi nằm vật xuống, lặng im, mắt nhắm nghiền như người chết.
Ở làng Màu, không ai không biết cu Tướng là người như thế nào. Cả cuộc đời gã chuyên sang bốc mồ mả kiếm bát cơm qua ngày. Gã không câm, không điếc, không giao dịch với ai, càng không nói chuyện với bất cứ người nào. Thậm chí mấy con chó dữ lao vào cắn xé, gã không hề kêu than, chỉ cái gậy khua chó là biết nói. Cho nên nhiều năm ở làng Màu, bí mật của gã không khác gì ao sâu, cá lặn. Đố ai cậy được một lời từ gã. Miệng hắn không phải để nói hay cười, chỉ phục vụ vài bữa ăn trong ngày. Họa hoằn lắm người ta nghe thấy tiếng “toẹt toẹt” trong nhà, ấy là lúc gã phấn hứng huýt sáo miệng đấy.
– Thưa các cụ – mấy gã “thám tử” sau cú điều tra bị thất bại, than thở khi các cụ tề tựu đông đủ ở Đền Chính – Con đã gạn hết lời rồi nhưng thằng cu Tướng cứng cổ lắm, không cạy mồm được câu nào từ hắn.
Cụ Yên nhấp nhổm trên phản:
– Sao không khiêng nó ra đình để các cụ hỏi tội.
– Đánh cho nhừ tử, kiểu gì cũng phải khai. – Cụ Lôi nóng nảy chen vào.
– Dạ, thưa các cụ. Cũng phải có chứng cứ chứ ạ. Chúng cháu đã cho người càn lướt Gò Nhồi và trên núi Rồng. Thậm chí đến từng hang hốc trên núi cao xem lũ quạ đen có cất giấu một phần thi thể nào không, nhưng tất thảy không phát hiện được điều gì khả nghi. Chứng tỏ mụ Gù có thể chết trôi sông. Còn nếu đánh đập tra tấn, nhỡ ra gã uất ức bỏ làng ra đi, lấy ai lo liệu chôn cất mồ mả cho làng?
Cụ Đình, cao niên nhất trong làng, người chủ trì cuộc họp các bô lão, hỏi:
– Tại sao “vụ án” mụ Gù lại dính dáng đến lũ quạ đen?
– Dạ thưa các cụ: Đó là “nghề” của bọn cháu đấy ạ. Nhờ quạ đen, chúng cháu “phá” được mấy vụ án. Quạ đen ai nhìn thấy cũng ghét vì mang hình ảnh chết chóc, xui xẻo. Nhưng chúng rất thông minh. Những xác chết chưa ăn hết, chúng đem giấu kín, sau đó quay lại tìm chính xác đến kinh ngạc. Những xương cốt, ruột rà còn lại, nhờ đó chúng cháu tìm ra được manh mối.
– Hay là con mụ Gù có nhân tình nhân ngãi, ghen tuông mới xảy ra án mạng? – Cụ Mưu là người hay cợt nhả nổi tiếng trong làng pha trò, cười móm mém.
– Kể cả chuyện đó chúng cháu cũng đã nghĩ tới. Liên quan việc này chỉ có thằng Cộc dưới Đồn Thủy. Hắn gian xảo, thường xuyên trộm cá trên các thuyền lưới vừa cập bến, nhằm vào thuyền treo cờ đỏ. Đó là tục lệ mỗi khi thuyền đánh bắt được nhiều cá trên một tấn, mới được treo cờ. Hắn nhằm vào thuyền đó lặn từ dưới sông trèo lên mạn, lật ván chui xuống khoang, nhét đầy cá vào áo đang mặc rồi lao người xuống nước như rái cá. Đố thuyền nào bắt được hắn. Sáng sớm, với số cá ăn trộm được, hắn mang ra chợ Màu bán. Ngày nào mà chả gặp mụ Gù. Thằng này hám gái lắm không chừng có tư tình gì đó, nhưng vì mụ đối xử tình cảm không công bằng, hắn mới ra tay chăng!
Xuống tận Đồn Thuỷ, nhóm “thám tử” tra hỏi trực tiếp, thằng Cộc cười ngất ngất:
– Việc gì tôi phải giết mụ ấy kia chứ. Tôi chỉ giết mấy con cá của nhà giàu thôi. Ăn chia thì phải cho đều, giàu nghèo bất công lắm. Còn tôi chỉ là thằng ăn cắp, tôi cũng đòi hỏi công bằng. Mụ ấy nghèo, tôi xí xớn làm gì cho mệt. Nói thật, đôi khi nhìn mụ trật vú ra khỏi yếm, trông cũng gợi tình ra phết. Muốn tán tỉnh đôi chút, nhưng nhìn thấy thằng cu Tướng chồng mụ, người to lừng lững, ai cũng sợ, nói gì đến tôi.
Các “thám tử” và mấy con mẹ chuyên “gia công” vụ việc âm thầm chịu thất bại, công việc tìm kiếm mụ Gù mất tích tạm dừng. Làng Màu đang gặm nhấm bí mật lớn nhất từ trước tới nay nhưng chưa có lời giải. Từ ngày mụ Gù biến mất, làng Màu như có tang. Chợ Màu vừa bẩn thỉu nhếch nhác vừa ruồi muỗi xú uế… Trông thật tội, thật đau lòng biết bao! Nếu đem nỗi đau chia đều cho từng người, rồi gom lại thì giữa chợ và mụ Gù, nỗi đau nào đau hơn?
Một tin giật gân loang ra giữa làng: “Con mụ Gù không chết, nó chỉ trốn ở đâu đó thôi!”. Người bàng hoàng, người phẫn nộ xung khắc lẫn nhau. Phát hiện ra manh mối này, đơn giản người ta không thấy con chó quanh quẩn bên mụ hàng ngày. Không lý gì người và chó cả hai cùng chết, điều đó rất lạ.
Ai cũng biết mụ thương yêu, đùm bọc, cưng chiều chú chó xiết bao dù nó ghẻ lở, xấu xí và nuôi mãi không chịu lớn. Nếu đem cho không con chó chắc gì đã có người nhận. Vì thế không một kẻ tàn bạo nào giết mụ lại giết luôn con chó. Từ việc đó họ suy ra mụ trốn đi cùng với con chó, chứ không phải mụ bị giết hoặc trôi sông như tin đồn.
Dân làng Màu bắt đầu tĩnh tâm lại, đặt nhiều câu hỏi khác nhau. Mụ Gù trốn đi không lẽ làng Màu tệ bạc với mụ? Từ ngày mụ đến chợ Màu đã khởi sắc hơn, sạch sẽ, ngăn nắp hơn không phải là công lao của mụ đó sao? Chợ không còn cảnh “mua tranh, bán đắt” nữa. Thậm chí lều bán thịt từ ngày mụ đến chợ chỉ ngủ ban đêm, nay được toàn quyền sử dụng cả đêm lẫn ngày. Lão bán thịt đã giải nghệ vì lâu nay lợn gà bị dịch bệnh không có nguồn hàng. Được làm chủ, mụ biến căn lều thành “cung điện” xa hoa, lộng lẫy. Vách nhà treo đủ thứ hổ lốn, mảnh bao tải cũ, ni lông rách, chiếu thủng, bìa bọc hàng đã mủn nát… được che kín nhiều lớp để chống đôi mắt bên ngoài soi mói, len lỏi vào nơi thầm kín, riêng tư. Trên mái lợp bằng thứ tôn mỏng quăn queo. Lác đác mấy hòn đá cuội đè lên chống bay mái khi gió bão, kèm theo mấy tấm lợp bằng xi măng lượn sóng. Đã có lần đôi tình nhân ngắm nhìn qua mái thủng, thấy chị Hằng đang ngó trộm khi họ làm tình với nhau. Nếu như cu Tướng biết đôi ba câu thơ tình của Nguyễn Du, không ngại gì mà hắn không rên rỉ, ngân nga:
“Bây giờ rõ mặt đôi ta,
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao…”
(“Truyện Kiều”)
Nằm bên người tình, đầy chất lãng mạn, cu Tướng rung động, cảm xúc tột cùng. Hắn nghiêm mặt, đẩy người tình ra xa một chút rồi hắng giọng muốn ngâm vịnh câu thơ gì đó từng ấp ủ. Vì lâu ngày miệng như bị gắn keo, không nói, không cười chỉ phát ra tiếng huýt sáo mồm qua lỗ răng thưa, phì hơi nghe “toẹt toẹt”, mọi người nói đùa: “Chú ngan đực ị bậy”.
Dù không cưới xin ăn hỏi, nhưng hai đứa đã tìm đến nhau, sống như vợ chồng. Đang mặn mà hạnh phúc sao con mụ nỡ bỏ người tình ra đi? Hay giữa họ chuyện sinh lý, tình cảm có vấn đề? Ở đời thường xảy ra giữa các cặp vợ chồng không vì lý do nào hết, bỗng nhiên cãi cọ rồi chia tay. Còn cu Tướng không ai móc miệng được câu nào, làm sao cãi nhau? Vậy lý do này coi như chưa từng xảy ra. Việc mụ ra đi để cu Tướng một mình là không bình thường. Không chỉ mình cu Tướng mất người tình “trăm năm” mà làng Màu cũng đau đầu, nhức óc vì không có người trông nom chợ búa!
Đám ngồi lê đôi mách lại có dịp tụ tập. Trong đám, một mụ chuyên đưa chuyện được mệnh danh là người đàn bà “nhiều mưu lắm kế” bỗng hét lên như bắt được vàng:
– Thôi đúng rồi, con mụ Gù trốn đi cùng với nhân tình.
Giống như quả bom nổ bất ngờ, đám người ngã vật ra, choáng váng mất một lúc, rồi nghĩ lại câu chuyện vừa phát hiện nghe cũng rất có lý. Bà vừa thốt ra chuyện động trời, tự nhiên mặt đỏ bừng bừng rồi tái mét. Các bà ngồi quanh ngạc nhiên hỏi:
– Bà làm sao thế? Thấy khó chịu trong người à?
– Không, tôi không sao cả nhưng mà…
– Sao bà ấp úng như ngậm hột thị?
– Thật ra… Thật ra con mụ Gù vừa bẩn vừa xấu như ma… mà cũng có người tình thì đàn bà làng Màu chúng ta ai cũng có người tình hết, thậm chí nhiều người có hàng tá…
Các bà liền chợt nghĩ tới thân phận mình khi nghe nhắc đến người tình, giật mình, thấy thẹn quá, sống lưng nổi gai ốc, người râm ran như lên cơn sốt, mặt đỏ như gà chọi, cảm giác vừa bị bắt quả tang làm điều không trong sáng. Vốn dĩ đàn bà làng Màu vừa thông minh vừa tinh tế nên họ bắt đầu đánh trống lảng, bâng quơ nhìn đi đâu đó, tưởng câu chuyện vừa rồi không dính gì đến mình…
Các nhà “thám tử” làng Màu xưa nay nổi tiếng khám phá các vụ việc vừa nhanh vừa chính xác. Riêng vụ này không chỉ các “điều tra viên” bó tay mà cả làng rơi vào bế tắc. Đa số người dĩ hòa vi quí muốn buông xuôi, mặc cho mụ Gù muốn làm gì thì làm, muốn đi đâu tùy ý.
Thực ra mụ Gù không dại gì tự vẫn trôi sông, cũng không bị giết như tin đồn. Một tấm thân cao quí được mọi người trong chợ Màu tôn vinh, sao lại làm chuyện dại dột?
Chập tối, chưa biết phải làm gì, mụ ngồi nhai trầu, tiện tay vấn lại mớ tóc tổ quạ trên đầu vừa sổ tung ra. Con cún nhỏ ngồi trước mặt đang nhấp nhổm muốn nhảy ra khi thấy đàn chuột cống thập thò bên mé hồi. Mụ kéo nó lại, khép hai đùi đè lên, con cún mới chịu nằm im. Mụ xoay người nhìn khắp lượt căn lều, thoáng thấy xéo vải gụ treo trên vách, chiếc bị cói lăn lóc dưới đất. Trên tấm sạp ghép hai tấm ván làm giường (một tấm chắn rác được mụ lôi về), duy nhất một cái chăn vải sợi của người làng Màu cho từ mấy năm trước, nằm lù lù trên tấm chiếu nhỡ, thủng mất vạt giữa. Chỉ bấy nhiêu thứ thôi, nhưng đây là thiên đường, là tình yêu đầu đời của mụ.
Thiên hạ cho rằng cu Tướng đến với mụ chỉ là nhân tình nhân ngãi. Mụ thực sự xem cu Tướng là chồng của mình từ lâu rồi. Ngày đầu gặp nhau, nằm bên nhau, chỉ biết cấu véo trêu đùa, chưa ai biết gì về tình yêu, tình ái, giống như một món hàng xa xỉ không bao giờ với tới được. May thay cũng nhờ nghe trộm được lão Nhiêu Ngò đọc truyện kiếm hiệp đầy rẫy những chuyện tình ái, thậm chí còn dạy cách làm tình như thế nào, yêu đương ra làm sao, mụ Gù tích luỹ mỗi ngày một tí. Với bộ óc đậm đặc như miếng bánh đúc, việc xẩy ra hàng ngày khó bề len lỏi vào được, nhưng truyện kiếm hiệp, phiêu lưu tình ái mà lão Nhiêu Ngò đã gieo vào đầu óc mụ làm cho vữa ra. Hơn nữa còn được thượng đế rủ lòng thương ban cho được làm “cái” việc giống như loài người xưa nay vợ chồng thường làm… cho nên rời xa nơi này mụ cũng thấy tiếc lắm, chứa đựng biết bao kỷ niệm về người đàn ông mà mụ yêu quí.
Hết nhìn trong lều, mụ lại ngóng ra phía cổng chợ. Hình như mụ đang đợi chồng về? Vào giờ này, đáng ra cu Tướng đã ăn xong, mang về cho mụ bát cơm thừa. Nhìn mãi người không thấy, chỉ đống rác bên cổng phất phơ đám lông gà vịt bị gió cuốn bay trong khoảng không nhập nhoạng của bóng xế ngày tàn. Mụ nhoài người vào trong, vớ luôn xéo vải, trong đó đựng mớ áo xống kèm theo mấy chiếc áo trẻ sơ sinh của phường hàng vải bị mốc vứt bên hàng rào; Lôi con cún nhỏ đang bị kẹp dưới háng rồi cho vào bị cói. Thấy không còn gì, mụ tất tả đi tắt bên ngách chợ, chuồn thẳng.
Hồi còn thơ dại, nếu mụ được cắp sách đến trường, có lẽ chuyện gì mụ cũng biết. Thời ấy những truyện phiêu lưu, trinh thám, kiếm hiệp, tình ái, xã hội.… của Tàu, của Tây, của ta nhan nhản trên các kệ sách. Họ kháo nhau ở bên Tàu có tên gián điệp 018, bên Tây có điệp viên 007, còn ở ta thì vô thiên lủng tiểu thuyết trinh thám như “Chiếc gối đẫm máu”, “Trời tình bể hận”, “Người chó sói”, “Tiếng giày trong sương mù”… kể không xiết. Nhà trên, xóm dưới ai ai cũng chong đèn đọc sách, hình như đây là dịch sách một thời ở làng Màu. Đương nhiên, mụ không thể đọc, thậm chí sách cầm trên tay, mụ cũng không biết người ta viết gì trong đó. Nói dại mụ có mắt mà như mù. Nhưng tai mụ thính lắm.
Sát bên chợ là nhà lão Nhiêu Ngò, gia cảnh nghèo nhưng giàu về sách. Vợ con nheo nhóc, hai bữa ăn thất thường, nhà cửa xiêu vẹo, song tiền mua sách thì lão không ngần ngại. Lưới chài đi nhờ vài chuyến, được mấy mớ cá, bán đi cũng cho vào sách. Dân làng gọi lão là con “mọt” sách. Cái thú của lão là đêm xuống, trong ánh trăng mờ mờ ảo ảo cộng với ánh sáng của những vì sao lung linh, chong đèn đọc sách ta, sách Tàu, sách Tây cho cả nhà nghe. Cũng may lều của mụ Gù trống hoắc, chỉ cách một hàng rào ô rô thưa, lão Ngò đọc đến đâu đều theo gió tạt vào căn lều. Dù muốn hay không, mụ vẫn phải dỏng tai lên, câu chữ có dịp lùa vào. Không biết chữ, không mất tiền mua sách mà kiến thức nhân loại ngõ hầu cứ len lỏi vào đầu mụ. Giọng lão Nhiêu Ngò khi đọc lên bổng xuống trầm, nhấn nhá từng câu chữ. Sướng ghê! Dù mù chữ, thất học, hiểu biết xã hội hạn chế nhưng mụ thấy như ánh sáng soi rọi vào trí óc, những mạch suối nguồi tươi mát, mới mẻ cứ chảy vào tâm hồn tháng sáu khô hạn, nứt nẻ của mụ. Mụ làm sao hiểu nổi văn học có mãnh lực siêu lạ lùng đến thế!
Trong các thể loại, mụ rất thích truyện phiêu lưu kiếm hiệp. Sau này khi đã có chồng, mụ lại nghiện thêm truyện phiêu lưu tình ái. Cái hay của mụ là đưa được trang sách vào cuộc sống của mình. Ngoài chợ một dãy quán bánh dành cho khách ngồi ăn mụ coi là chiến trường khốc liệt nhất. Mụ vận dụng tối đa mánh khóe để chiếm ưu thế từ bất lợi thành lợi thế bằng phương châm chủ động, sáng tạo. Với tạng người gù gù, đôi mông to tướng, mụ uốn éo như loài rắn hổ mang chúa, tàng hình trong chớp mắt, đợp luôn miếng bánh của khách đang ăn mà không làm họ mếch lòng. Đó là phần thưởng xứng đáng của lòng bao dung và sự hổ thẹn.
Còn chuyện phiêu lưu tình ái tay ba, tay tư mụ coi là “thần ái tình” hết sức ngưỡng mộ. Đơn cử ngày đầu tiên cu Tướng nằm đè lên bụng mụ dập liên hồi, thậm chí không biết dập như thế để làm gì? May thay mụ tích lũy được kiến thức qua các truyện phiêu lưu tình ái biết phải làm gì, liền đưa cái… của người đàn ông vào chỗ của mụ. Còn sau này đã thành vợ chồng rồi, “thần ái tình” đã giúp mụ đánh đổ được thằng chồng khỏe như vâm. Một khi đã lên “ngựa” là hùng hục không biết mệt là gì. Chẳng bao lâu mụ nghiện nó như nghiện thuốc phiện, lại mọc thêm “nanh vuốt” trở thành con hổ cái. Giống như nhiều đàn ông khác, lúc đầu thì hùng hùng hổ hổ, sau đó cụp đuôi sợ hết vía. Vì thế, cu Tướng, trốn biệt về “Vương quốc Gò Nhồi”. Việc đưa cơm hàng ngày cho mụ chỉ là bất đắc dĩ thôi, đưa xong rồi chuồn thẳng. Nếu không nhanh chân, mụ ôm riệt lấy sao thoát được lưới tình của mụ? “Đàn ông bao giờ cũng phải biết sợ đàn bà ” – gã vừa chạy vừa thầm nghĩ như vậy.
Tại sao mụ ruồng rẫy bỏ làng Màu, trong khi mụ có tất cả? Không lẽ chuyện phiêu lưu ngấm vào đầu mà đôi chân mụ phải dấn vào chỗ trần ai để thấm đẫm sự đa đoan? Có thể khi rửng mỡ, mụ cười thầm vì đã “chơi” cho làng Màu một “vố” bất ngờ. Phen này các bà, các cô có chuyện để râm ran, thêu dệt? Bất chợt mụ nghĩ hay là “giếng” tình của mình giống như con ngựa phi mà chàng kị mã đứt hơi giữa chừng? Còn nữa, thực tế hơn một chút, đêm nay mụ sẽ đi đâu, về đâu, lấy gì để sống? Ai sẽ cưu mang khi ốm đau bệnh tật? Mụ tặc lưỡi: Mũi tên đã bắn đi, không bao giờ trở lại. Con đường ở phía trước dù mù sương nhưng mụ thẳng bước.
Những chuyện vừa mô tả trên đây với mụ Gù hoàn toàn phiêu diêu, phù phiếm! Thực tâm trong lòng mụ nghĩ rất khác. Bữa cơm thừa chồng mụ kiếm được mỗi ngày một vơi. Trước khi đến với nhau, chồng mụ khoẻ mạnh, da thịt căng phồng, nay xanh xao, gày tọp. Hỏi vì sao, thằng chồng không hé nửa lời. Mụ điên tiết mò sang bên Gò Nhồi xem sự thể ra sao? Mụ thấy lạ lắm. Trừ mô đất cu Tướng dựng lều thành “vương quốc”, còn lại mồ mả đã san lấp hết. Làng di chuyển nghĩa địa lên rú Rồng, nhường Gò Nhồi để cho làng lấy đất dãn dân. Thời xưa, người chết chiếm đất của người sống. Phải chăng bây giờ người sống đẩy họ đi chỗ khác, chiếm đất của người chết sao?
Mồ mả di chuyển lên chỗ mới đất đá rắn như sắt, hơn chục trai làng đào nửa ngày mới được một cái huyệt nông choèn, không giống như ở Gò Nhồi, một mình cu Tướng chỉ làm vài tiếng là xong. Còn trên rú Rồng cu Tướng không đủ sức “đào huyệt” từ thiện như trước nữa. Hai “vị” cuốc xẻng cũ nát dựng trước cửa nhà, giống như lính ngự lâm vô dụng, gục ngã trong thời biến động đất đai khó lường! Không có việc làm, bát cơm nhường nhịn của cu Tướng ít đi cũng là vì thế.
Việc kiếm ăn của mụ ở chợ mỗi ngày một khó. Chiến thuật nhìn vào người ăn, khách xấu hổ, khinh bỉ bỏ lại chút bánh thừa cho mụ đã qua rồi. Giá như đói quá mụ “nổi điên” thẳng tay cướp miếng bánh khách đang ăn. Tin chắc, dân làng Màu không còn “tử tế” như xưa nữa, họ sẵn sàng giật lại miếng ăn. Nếu hai bên giằng co quyết liệt, cực đoan hơn, có thể đổ máu như chơi. Mụ Gù không làm thế, dù nước miếng trong mồm ứa ra, bụng sôi ồn ào, đành nhịn đói qua đêm. Con cún chạy theo, định cắn vào “mấn” khi hắn buồn mồm. Vì “mấn” của mụ bị mòn rách cao lên gần đầu gối, nó không với tới, đành cạp nhẹ vào bắp chân, mụ thấy nhột nhột, quên luôn miếng bánh thừa. Thương xót cho chính mình, thương lây sang con cún gày gò, da bọc xương.
Còn một lý do nữa gần đây mụ mới cảm nhận được, không biết nói với ai. Còn nói như thế nào, diễn tả ra sao thì mụ lại càng không biết. Hàng ngày ngoài chợ, thỉnh thoảng xuất hiện mấy mụ đàn bà bụng to vượt mặt đi qua trước lều của mụ. Họ kháo nhau bà này còn mấy ngày nữa thì đẻ? Cô kia đẻ con rạ hay con so? Mụ Gù chợt sờ xuống bụng mình, đã thấy lùm lùm, nhưng không to bằng mấy mụ kia. Chắc chắn mụ có chửa thật rồi. Thảo nào gần đây thấy trong người khang khác, lại thèm khế chua. Nhìn trái khế chua chín mọng, tươi ngon, nước miếng của mụ ứa ra. Mụ ăn một rổ khế xin được vẫn cứ thèm, thèm hơn những miếng bánh vừa được chủ quán đặt lên đĩa vẫn còn bốc khói nghi ngút, hương thơm kích thích vị giác. Mụ chẳng cần rửa, lấy vạt váy lau lau bụi bẩn, dù vạt váy của mụ bẩn gấp vạn lần quả khế. Mụ cắn miếng khế nước khế cộng với nước miếng bã trầu rớt xuống cằm trông mụ thật hãi. Nhưng mụ ăn mới ngon lành làm sao! Ăn mãi vẫn thèm. Mụ thắc mắc tại sao dân làng Màu trồng nhiều cây khế chua thế không biết. Có lẽ chỉ dành riêng cho đàn bà mỗi khi thấy bụng to?
Mụ sợ hãi, nếu mình đẻ con ra, biết lấy gì để nuôi? Chồng cũng đang gặp khó, mụ lại càng khó hơn. Cách tốt nhất mà mụ nghĩ ra được trong lúc này là phải xa nhau. Một mình cu Tướng ở lại có thể gắng gượng được, còn tương lai phía trước của mụ ra sao, chỉ có trời mới biết? Chưa ai đoán trước mụ ra đi lần này lành hay dữ, vui hay buồn, cuộc đời mụ dài ra hay ngắn lại? Đó là một giải pháp, hay hay dở không cần biết!
Đêm thứ nhất, mụ lần mò trong ánh sáng nhập nhoạng của vài vì sao le lói. Gâu… gâu… gâu… Tiếng chó cắn đổng. Gió lùa vào các lùm cây như tiếng gọi bạn tình, nghe buồn thê lương. Mụ bước thấp bước cao, thấy lòng mình mang mang, hoang vắng, không gọi thành tên. Đêm thứ hai, đôi mắt mụ căng lên hướng về phía trước, những con đom đóm bay là là ở ruộng đồng làm chiếc đèn cho mụ. Mụ cố lê sức tàn. Gắng gượng. Có lúc, mụ tặc lưỡi cho số phận như bao lần mụ đã từng làm. Bèo dạt mây trôi, kiếp phù du. À, mà mụ sợ gì tương lai, bởi hiện tại có gì để mất, quá khứ càng không đáng giá. Sức mạnh mơ hồ trỗi dậy để nâng đỡ bước chân trên con đường “thiên lí” này cho mụ là những trang kiếm hiệp của lão Nhiêu Ngò, đâu đó vang lên như trong kí ức mờ xa khiến mụ lãng du vào miền tình ái mộng mơ mà mụ không ngờ tới. Hết đêm thứ ba chạy trốn, mụ kiệt sức ngất lịm gần con đường mòn tiếp giáp với khu ruộng đầy nước. Ban ngày mụ tránh đi đường làng, đành chui vào bụi cây hay đống rơm rạ giữa cánh đồng để ngủ. Đêm xuống, mụ bắt đầu cuộc hành trình đầy khó khăn, đói khát. Mụ đi tắt từ đồng này sang đồng khác. Hết ruộng lúa nước, ruộng ngô, khoai đến ruộng hoang hóa. Có lần vào giữa đám ruộng dưa non, mụ cứ ngỡ là dưa hấu. Hai thứ dưa bề ngoài giống hệt nhau, nhưng dưa hấu quả to ruột đỏ. Dưa non quả nhỏ, ruột trắng. Nhưng dù là củ quả gì, vớ được mụ nhai sống, nuốt chửng. Còn thừa trong mồm mụ mớm luôn cho chú chó con đói khát đang rên rỉ trong chiếc bị. Dù “ăn tươi nuốt sống”, nhưng là nguồn dinh dưỡng tuyệt vời dành cho nhà thám hiểm bất đắc dĩ.
Chương 2
LÃO SẦM
Lão không biết uống rượu. Đêm qua, không biết vì sao lão hứng chí lôi cút rượu cụ Từ cho từ tháng trước, để lẫn trong đống củ khoai vùi cát. Thấy có nước trong chai, lão quên đó là rượu, tò mò mở nắp dốc ngược lên. Không ngờ rượu xộc luôn vào mồm, khiến lão sặc sụa, phun ra ầm ầm. Dù đã bắn ra ngoài nhưng rượu đã lọt vào họng không ít. Rượu ngấm vào dạ dày, cơn say ập đến, lão ngủ mê mệt cho đến gần sáng. Tỉnh dậy vẫn còn chếnh choáng.
Trong lúc nghiêng ngả, lão vẫn nhớ vào chùa quét rác. Đáng ra, hết con đường mòn quen thuộc giữa hai hàng xoan trồng bên vệ đường mới sang được chùa Khánh Liên. Vì trời chưa sáng hẳn, sương mù giăng giăng khắp đất trời. Lão ngần ngại nửa muốn đi, nửa không. Loạng choạng đi đến gò đất bên vệ đường, lão vén quần giải quyết “nỗi buồn” đang căng hết bụng. Bất ngờ, lão vấp phải một vật bất động nằm lù lù giống như đống phân chuồng của ai đó chuẩn bị tãi xuống ruộng. Nếu ngã sang bên kia, có thể lộn cổ xuống ruộng nước. Thật may, lão chỉ ngã bổ nhào vào đống phân trước mặt. Việc cấp bách phải giải quyết “nỗi buồn” bị quên mất. Vật đầu tiên quờ quạng được là một cái mông tròn trịa, lão liền kêu toáng lên: “Con lợn nhà ai chết, sao lại nằm ở đây?”.
Lão hỏi nhưng không biết hỏi ai. Giữa cánh đồng hiu quạnh, chỉ có tiếng gió vi vu vi vút đáp lại lời lão. Lão ngồi phịch xuống đất không biết phải làm gì với con vật to lớn này. Thôi, phải vào thôn Bùi báo cho mọi người biết, nhỡ ai thấy lợn nằm đây lại đổ tội cho mình ăn cắp. Một lúc khá lâu, đám mù đậm đặc nhờ gió trôi đi, trời bắt đầu sáng rõ. Lão dụi mắt, chăm chăm nhìn mới phát hiện không phải con lợn mà… Ôi! Người? Hay ma???
Có thể trước đây, nơi này mồ mả, ma nhiều vô kể, bỗng nhiên nay lại có một con tìm về mồ mả cũ? Hơn nữa nhà lão ở cũng là “nhà ma”, nó mò đến đây cũng phải. Tự nhiên, sống lưng lão lạnh toát, người nổi đầy gai ốc. Vừa chạy lão vừa kêu lắp bắp: “Ố…i trời ơ…i, ma… m…a, ma…”. Chỉ mới được một đoạn, lão chợt nghe tiếng chó sủa sau lưng: “Nhách, nhách, nhách”. Sao thế nhỉ? Tại sao lại có tiếng chó sủa giữa đồng không mông quạnh này? Lão trấn tĩnh quay lại chỗ lúc nãy, nhìn thật kỹ. À, không phải là ma, mà là một người đàn bà đang nằm, cánh tay đè lên bị cói, chú chó con thò đầu ra ngoài ngúc ngoắc. Hình như nghe tiếng chó sủa, người đàn bà sực tỉnh, ngồi dậy trong sự ngỡ ngàng của lão.
Vậy bà ta không chết, không ngất, càng không phải là ma! Có thể vì mệt quá nên ngủ thiếp đi? Bất chợt lão đến gần, đi một vòng quanh người, vẫn không thấy người đàn bà lên tiếng. Không ngần ngại gì, lão xốc nách cho đứng lên rồi dìu vào nhà mình. Đặt bà ta lên tấm phản, thả con cún trong bị cói ra, mụ vẫn chưa tỉnh hẳn, lại chìm vào giấc ngủ mộng mị.
Tự nhiên lão hết say xỉn, tỉnh táo hơn bao giờ hết, lăng xăng chạy vào, chạy ra như đón được khách quí, rồi hối hả nhóm đống củi giữa nền nhà. Đôi bàn tay thô giáp, bè bè của lão cứ luống ca luống cuống. Lão lúi húi tìm kiếm trong góc nhà rồi lôi ra mấy củ khoai đã mọc mầm, bắc nồi luộc. Nhờ ánh lửa bập bùng gian nhà sáng bừng lên. Hơi ấm lan tỏa ra xung quanh.
Đầu óc lão bắt đầu phân tích. Người đàn bà này sa cơ có thể bị thằng chồng vũ phu đánh đập nên phải chạy trốn. Nhìn kỹ có vẻ không phải như vậy vì chân tay, mặt mũi không có vết bầm tím. Hay có thể bất mãn với gia đình mà lang thang cầu thực, tìm nơi ẩn dật? Lão đặt ra giả thuyết rồi lại phủ nhận liên tục.
Tự nhiên lão biến thành người rất khác, muốn có quyền hành để sai khiến. Lão ra lệnh này, lệnh nọ cho bất kỳ ai theo ý của mình. Trong đầu lão tưởng tượng ra sự mới mẻ như thế, khuôn mặt thường ngày của lão trước đây dài như cái bơm, nay đanh lại, dáng đi khuỳnh khoàng. Lão đóng vai người gia trưởng trong sự im lặng tuyệt đối.
Không! Bất luận thế nào, người đàn bà bị xô đẩy vào căn nhà này, không bao giờ được bước ra – lão cho rằng đây là quyết định hết sức võ đoán, nhưng hoàn cảnh này đành phải thế, dù không biết bà ta có đồng ý hay không? Xét về hiện tại, lão vẫn sống trong cảnh cô đơn. Từ lâu lão cũng muốn tìm cho mình một người đàn bà, gây dựng tổ ấm. Ít ra người đó cũng phải xứng đôi vừa lứa. Năm tháng trôi đi, mộng dài, tình ngắn, cuối cùng lão nằm không.
Ngồi bên đống lửa chập chờn, thi thoảng cơn gió mát lành len lỏi thổi tới làm lão tỉnh táo ngắm nhìn người đàn bà rồi đưa ra một nhận xét hết sức đau đớn: “Không đẹp!!!”. Cụ thể hơn một chút lưng mụ gù, lồi lên sát với vai làm cho vạt áo sau lưng hất lên, mông to, nẩy. Ngực tròn trịa như hai quả bưởi lớn, bụng mập, chân ngắn. Còn khuôn mặt, lão không biết mô tả thế nào cho đúng. Đại thể mặt không dài, hơi ngắn, có ngấn lọng ở cổ, có vẻ như phát triển chiều ngang nhiều hơn là chiều dọc. Tóc vấn lại bởi một lõi vải dài như con rắn khoanh ở trên đầu. Môi dày, nứt nẻ vì nhai trầu? Mồm toe toe, xòe ra như cái đĩa. Tính tình không biết thế nào, có vẻ hơi ngây ngây, dại dại. Đuôi mắt dài, hoạt tình. Tóm lại lão thừa nhận đây chính là mụ đàn bà. Thế là được, cá vào ao ta dù to dù nhỏ vẫn là cá…
Khoai chín, dỡ ra một cái đĩa men méo mó hơi bốc lên ngùn ngụt. Đến gần, lão vỗ vai người đàn bà: “Dậy, dậy ăn khoai!”.
Mụ ngồi dậy vươn vai, điệu bộ như công nương quyền quí sau giấc mộng ông hoàng, bà chúa. Hướng về lão Sầm, mụ xòe miệng cười thay cho lời chào hỏi. Một đám bã trăng trắng trong miệng vãi ra với hàm răng nhuôm nhuôm. Lão nhận ra mụ nhai cây thay trầu. Vừa thấy thương hại vừa bực bội với chính mình, lão thốt lên:
– Đời này sao bất công đến thế? Ở bên chùa Khánh Liên cau trầu cúng viếng lúc nào cũng có. Vậy mà mụ phải nhai cây thay trầu?
Chiều hôm ấy, bầu trời cao và xanh. Hiu hiu gió thổi. Vang lừng tiếng chim ca. Dập dờn đàn bướm trắng bay lượn. Tâm hồn lão phơi phới. Muốn lập lại trật tự công bằng, lão xin được của cụ Từ đem về cho mụ một vốc trầu cau đã têm. Vừa thấy trầu, mắt mụ sáng lên, miệng tươi như hoa gạo tháng ba. Chưa kịp đưa, mụ đã vồ lấy ba miếng cho luôn vào mồm nhai ngấu nghiến, còn lại nhét vào dải yếm. Chắc hẳn mấy hôm không được nhai trầu, nước miếng trong mồm mụ ăm ắp như chiếc thùng chứa nước? Mụ liếc mắt nhìn lão, cười chữa thẹn. Không ngờ khi xòe mồm ra, nước miếng và đám bã trầu không còn giữ được tràn ướt hết cả yếm áo. Lão thấy môi mụ ta đỏ lòm như được quẹt son, hàm răng đen không còn nhợt nhạt. Lão nghĩ, nếu được chăm chút, con mụ này cũng đáng được yêu lắm!!!
Lão chìa ra nửa cái oản xôi đỗ đã nhem nhuốc phần vỏ vì để trong túi áo lâu ngày chưa được lộn ra giũ bụi đất. Con mụ tròn mắt như muốn hỏi “Của ngon vật lạ gì đây?”, rồi cũng giơ tay cầm, đưa lên mũi hít hít. Chao ôi, từ khi có trời, có đất, cha mẹ sinh ra, đây là lần đầu tiên mụ được ngửi nửa cục xôi nén, giống như nửa vầng trăng vừa vàng, vừa thơm, vừa lạ. Không lẽ đây là cao lương mĩ vị dành cho vua chúa, công nương mà mụ được hưởng? Mụ nhấm một góc, hương vị của đất, của trời, của bàn tay con người như dồn tất trong miếng xôi này. Ngon ơi là ngon! Mụ ngẩn mặt nhìn lão tình tứ, tỏ vẻ cảm ơn. Đến lượt con cún ngẩng lên nhìn mụ, vẫy đuôi làm nũng. Mụ véo cho con cún một tí xôi nhỏ như quả sung. Con cún cũng hả hê, sung sướng, cái đuôi ngúc nguẩy ngúc nguẩy.
Dềnh dang với người “khách” quí để sang chùa Khánh Liên, lão rất phân vân. Nhỡ ra, mụ lại ra đi thì sao, mặc dù lão dặn đi dặn lại mấy lần? Để cho yên tâm hơn, lão cầm tay mụ dẫn đến góc nhà, chỉ đống khoai lang vùi trong cát, dặn buổi trưa luộc khoai mà ăn. Mụ không trả lời, xòe mồm cười. Lão tưởng như vầng thái dương chỉ có trong nhà lão.
Công việc của lão khá đơn giản nhưng bắt buộc ngày nào cũng phải có mặt bên chùa. Nếu chăm chỉ làm việc chỉ mất vài giờ là sân chùa sạch sẽ. Thường ngày chỉ có cụ Từ đi thắp hương ở chính điện, các am lớn, am nhỏ. Còn nhiệm vụ của lão là quét sạch sân chùa, đường đi lối lại. Một tuần mới phải quét năm sào vườn cây cổ thụ, hoa quả và ao chùa. Ngoài việc quét dọn, lão còn phải tưới tắm cho cây, đổ đầy các lu nước phục vụ cho việc lễ bái. Ngày nắng quét dọn là công việc bình thường, nhưng ngày mưa dầm gió bấc lão có một khả năng kỳ tài. Trời mưa, sân ướt, lá cây, rác rưởi dính chặt xuống sân gạch, đường đi. Nếu cứ cố quét đè lên, rác không trôi đi mà còn dính chặt hơn. Lão chỉ nghiêng cán, đưa mũi chồi dí sát nền, bao nhiêu lá rác bị lôi lên hết, sân vườn sạch bóng. Cụ Từ ngồi gõ mõ tụng kinh trong am, thấy thế gật đầu. Tiếng tụng kinh như vang xa hơn, tràn ra ngoàn vườn, ngân vang ra ngoài cánh đồng, xóm làng.
Ngày mồng một và rằm, nghi ngút hương khói, các phật tử miệng “Nam Mô A Di Đà Phật” và lầm rầm khấn vái cầu may mắn, bình an, hạnh phúc… Sau khi lễ xong, cụ Từ chia lộc chùa cho phật tử xong là đến phần việc của lão. Không quang gánh, lão đội mâm lộc trên đầu, có lồng bàn kèm theo nén hương dắt mâm, gồm xôi, oản, bánh trái, hoa quả đi vào thôn Bùi. Việc đưa “lộc chùa” đến tận nhà cho phật tử được cụ Từ giao hẳn cho lão. Nhờ có trí nhớ tốt, lão giao lộc không bao giờ bị nhầm lẫn hoặc thừa thiếu, cụ Từ rất tín nhiệm lão. Các bữa trưa, lão ăn tại chùa, dẫu chỉ là bữa ăn chay đạm bạc. Nếu còn phần dư thừa, cụ Từ nói mang về ăn tối. Ngày lại ngày, lão vẫn đi con đường mòn quen thuộc cùng tiếng chuông chùa ngân nga thanh tịnh. Lòng lão bình yên như mặt ao chuôm mùa thu phẳng lặng.
Nửa cái oản buổi chiều mang về là phần cụ Từ cho lộc, lão dành riêng cho mụ. Thế mới biết đàn bà bao giờ cũng được ưu ái, chiều chuộng. Dù sao phái nữ cũng chiếm hơn nửa thế giới đàn ông. Nếu như có ai đó đối xử không công bằng với phái đẹp, lão sẽ điên lên mất. Mới biết nhau có một tí buổi sáng mà lão đã có ý chiều chuộng mụ chằm chặp. Giá như sau này quen hơi bén tiếng, làm bạn với nhau, không biết lão còn chăm chút mụ tới đâu?
Mọi khi trở về “lâu đài” của mình, lão chẳng quan tâm. Trên con đường quen thuộc, bước chân lão cũng vô định. Giờ đã khác, lão để ý đến giờ giấc về “dinh”, nhịp chân bước nhanh hơn. Về đến nhà, lão chợt nhận ra bếp núc lạnh tanh. Cái nồi nhôm méo mó, đen ngòm lật úp trên đống tro. Xung quanh vương vãi vỏ khoai lang sống. Lão hỏi:
– Sao không luộc chín lên mà ăn?
Mụ cười không trả lời. Lão không nỡ to tiếng, hơi bực mình một chút rồi đi ra ngoài.
Trời lem nhem tối, ánh trăng nhàn nhạt, lấp loáng soi rọi con đường. Lão vác về một bó cây ngô đã khô và ôm rơm trải bên kia tấm phản hàng ngày vẫn nằm, rồi ngả mình lên đó. Lão cố ý nhường phản gỗ cho mụ. Nằm trên cây ngô và rơm nhưng lão tưởng như tấm đệm êm ái, tràn ngập niềm vui trong lòng.
Vừa đặt lưng trên phản, mụ bắt đầu ngáy, tiếng ngáy không chỉ như tiếng kéo gỗ mà nó còn như tiếng bò rống lên. Trằn trọc. Suy nghĩ. Lão không chợp mắt được. Hơn hai mươi năm lão sống cô độc, không vương vấn gì đến đàn bà. Không cầu kinh gõ mõ tu luyện nhưng lão một lòng vì công việc, cuộc sống chay tịnh. Mong sao khỏa lấp đêm đông giá rét, ngày hè oi nực và bán đi chuỗi ngày dài lê thê. Không mong được đền đáp song Đức Phật từ bi rủ lòng thương, cho ăn, cho ở và bây giờ ban cho người đàn bà. Đời lão đâm ra hóa tiên. Lão như trúng số độc đắc.
Chưa biết sau này thế nào nhưng trước mắt lão ưng cái bụng. Lão chỉ thắc mắc một điều, không thấy mụ ta nói. Hỏi chuyện, mụ chỉ cười, dẫu gương mặt đàn bà xấu thì khi cười cũng vẫn sáng bừng. Không lẽ mụ câm lẫn điếc? Trong thâm tâm lão cũng muốn biết về gia cảnh, quê quán, tại sao lại xô dạt đến vùng này? Nhưng cứ thế này, không biết tính sao? Thôi được, thời gian còn dài, dần dần rồi sẽ biết, đi đâu mà vội, lão chìm vào giấc ngủ.
– Mình, mình… Đang mơ màng, lão nghe có người gọi. Tỉnh dậy tưởng mình nằm mơ. Bên kia giường, vẫn có tiếng gọi “Mình, mình”… Không biết mụ tỉnh hay mơ, song phát ra thành tiếng, tức là mụ không câm. Ôi chao, lão như vui vớ được vàng ròng. Lão tỉnh hẳn, suy nghĩ nay mai sắp xếp thế nào khi hai người sống với nhau.
Trong góc nhà, lão còn một đống khoai do mấy nhà trong xóm đem cho. Cũng không phải bỗng dưng mà có. Đây là công sức lão tranh thủ buổi chiều giúp những người neo đơn. Thương tình lão côi cút, họ mang cho khi củ khoai, lúc mấy bơ ngô hạt. Số khoai này lão vùi cát bảo quản, khi cần mới dùng. Một mình quanh năm sống nơi cửa chùa, cuộc sống của lão không đáng lo ngại, dẫu chỉ là thanh bần. Bây giờ đèo bòng thêm mụ biết tính sao? Số khoai cũng chỉ dăm ngày, một tuần là hết. Lão tặc lưỡi, trong cái khó sẽ ló cái khôn, trời không tiệt đường của ai.
Mỗi sáng sớm, khi ông mặt trời còn chưa thức giấc, chim vẫn còn vùi đầu trong tổ ấm, giọt sương trĩu mọng trên đầu lá, lão bắc nồi luộc mấy củ khoai để phần cho mụ rồi đi vào chùa. Quá trưa sang chiều, lão có thêm bát cơm trưa mang về. Còn ngày lễ cụ Từ cho nắm xôi, cái bánh… lão không ăn chỉ dành riêng cho mụ. Cuộc sống cứ vậy êm ả trôi đi. Hạnh phúc đâu cần ở thiên đường xa xôi nào!
Một hôm lão về muộn, thấy đường đi sang chùa Khánh Liên sạch bóng. Hai hàng xoan xanh rợp. Mỗi gốc cây vun lại sạch sẽ. Gần về tới nhà một đống rác to, lửa đã cháy gần hết. Những ngọn khói mềm mại, vướng vít, quấn quýt, lang thang hoà vào ráng chiều, gợi lên một vẻ đẹp yên bình, thơ mộng vô cùng. Trời ạ, lão chưa bao giờ có một cảm giác êm ả lâng lâng rất lạ. Tâm hồn lão bay cao cùng những làn khói.
Vào nhà, thấy quang quẻ, sạch sẽ. Đám cây ngô lão nằm đã dọn đi đâu đó. Tấm phản kê cao bằng mấy viên gạch, thông thoáng. Lão ngạc nhiên quá, hỏi:
– Mụ làm à?
Mụ không trả lời, chỉ gật đầu. Lão lẩm bẩm trong mồm, nhìn mụ rồi nói như ra lệnh:
– Mụ đi với tôi!
Nói rồi lão lúi húi đi trước. Người đàn bà lưỡng lự một lúc rồi cũng bước theo. Nắng chiều chạng rạng hắt sau lưng mụ, đè lên bóng người đàn ông nhỏ thó đi trước. Đôi con chim chìa vôi liệng xuống như vừa vớ được con cào cào, chén xong, cất tiếng hót rồi bay vút lên cao. Chợ Bùi chỉ họp vào buổi sáng nên vắng người. Cả hai đứng bần thần một lúc, chẳng biết trong đầu họ cái gì hiện lên. Bất chợt, khuôn mặt người đàn bà biến đổi, tươi tỉnh, nụ cười xòe ra như hoa rau muống. Mụ lăng xăng chạy hết dãy lều nọ sang dãy lều kia, tưởng như được về chốn nhà xưa? Lão thấy bất ngờ quá, không biết tại sao đến với chợ mụ vui, hoạt bát đến vậy? Người đàn bà của lão giống như khỉ được leo cây ở rừng xanh, như ngựa được thả ở thảo nguyên xanh tươi, như cá được quẫy mạnh đuôi dưới ao…
Trên đường về nhà, lão bảo: “Từ nay, mụ sang với chợ nhé!”. Mụ gật đầu rồi buông một câu cụt lủn: “Ừ!”. Lão lẩm bẩm trong bụng: “Kiệm lời quá!”.
Cách đây gần chục năm, mới sáng sớm, thôn Bùi bỗng nhiên có đám cháy lớn. Lúc đầu lửa chỉ bén từ căn bếp nhưng gió tây mạnh quá, chớp mắt cháy luôn nhà chính rồi lan nhanh sang các nhà xung quanh. Thần lửa nổi cơn điên khùng bùng bùng cháy. Trống thúc, kẻng ngũ liên vang rền, người trong thôn Bùi đổ ra đông nghịt. Ai có gì trong tay đều có mặt dập lửa, cứu nhà. Nhưng vì lửa cháy to quá. Thùng, chậu, nước không xuể, mọi người đành bất lực đứng nhìn cho đến lúc lửa tàn. Có năm nóc nhà bị thần hỏa đưa đi.
Trong lúc cứu chữa, bỗng một người đàn ông ở đâu vừa tới làng, thấy cháy nhà, lửa to ngất trời, lão lập tức phát điên, phát rồ, chạy xung quanh đám cháy, miệng gào thét gọi vợ con trong khi mọi người đang hối hả cứu chữa. Không chỉ có vậy, lão còn dám xông vào chỗ lửa cháy to nhất, không biết để cứu người hay muốn liều thân. Mấy người đàn ông túm được lôi ra ngoài thì bất chợt lão ngã vật ra, mắt trợn trừng, miệng sùi bọt, người cứng đờ. Lẽ ra thau chậu nước đem dập lửa, thì mấy bà nhanh tay đổ nước lên người nơi lão nằm. Phút chốc lão tỉnh lại, nhìn ngơ ngác rồi vùng chạy một mạch về hướng chùa Khánh Liên.
Trước cổng chùa có một cây đa cổ thụ, thân to hơn tháp đèn khổng lồ, xum xuê cánh lá, rễ to bản, mọc xung quanh tạo thành hang hốc. Lão rúc vào đó nằm bẹp như đống giẻ rách, rên rỉ. Cụ Từ trong chùa đi ra cổng, tình cờ phát hiện lão thoi thóp như người sắp chết, liền lôi vào trong chùa cho ăn. Sáng ngày hôm sau thấy lão tỉnh táo, cụ Từ lựa lời hỏi han. Lão vừa khóc vừa nói:
– Cháu tên là Sầm người quanh quẩn trong vùng nhưng chính xác ở thôn xã nào cũng không còn nhớ rõ. Nhà cháu không còn ai, chỉ còn lại một mình lang thang làm thuê, gánh mướn qua ngày. Đi qua đám cháy, thấy lửa to cháu lại lên cơn…
Cụ Từ ôn tồn:
– Cháu đã đến cửa Phật thì cứ ở lại đây, để rồi nhà chùa tính.
Nói xong, cụ đi lấy chăn, cho tấm phản nằm tạm bên vỉa hè bếp nấu, sát với hậu cung.
Các ngày tiếp theo, người đàn ông lạ tỉnh táo, đi lại hoạt bát. Nhìn bề ngoài, con người bé loắt choắt, nhưng khoẻ mạnh, dần dà cụ Từ giao việc quét nhà, quét sân vườn. Thấy lão làm chăm chỉ, sạch sẽ, bảo ban được, cụ giao luôn việc quét dọn vườn tược, sân chùa, đường đi lối lại. Cụ nghĩ nếu duy trì nếp sống nhiều ngày như thế này thì nhếch nhác quá, e rằng nơi cửa chùa, không đẹp lòng các phật tử, chưa tính tới con người này có tâm thành, hướng thiện không? Hay là dựng tạm một gian nhà nhỏ nơi cuối vườn, nhưng tiền nong eo hẹp lấy gì xoay xở?
Rất nhiều năm từ thời nào không biết, cụ Từ đến với chùa Khánh Liên, hiện hữu đã có một bãi tha ma của thôn Bùi cạnh đường đi sang chùa. Vì bãi tha ma gần chùa quá, các cụ trong thôn Bùi cùng với trụ trì chùa đã họp nhiều lần kiến nghị với chính quyền cho di dời khu nghĩa địa đi nơi khác, trả lại không gian thanh tịnh nơi cửa Phật. Cuối cùng sau nhiều lần cân nhắc, chính quyền địa phương cũng chấp thuận chuyển bãi tha ma sang bên thôn Đường – hai thôn chung nhau một nghĩa trang, cách chùa hơn cây số.
Từ ngày chuyển nghĩa địa, nhà tang lễ bỏ trống. Cây cối xung quanh cũng không có gì. Trong làng không ai dám dỡ, cũng không ai dám đến ở, vì cho rằng ngôi nhà ám khí. Có bao nghiều người chết đã đi qua ngôi nhà này. Đến người lớn đêm hôm đi qua cũng thấy rợn gáy. Vì vậy, ngôi nhà đành bỏ không. Dân làng gọi ngôi nhà ấy là “nhà ma”.
Từ việc tìm một chỗ cho lão Sầm, cụ Từ nảy ra ý định đưa lão Sầm ra đó ở, hàng ngày vào chùa quét dọn. Việc lớn này trước hết phải xin ý kiến các cụ trong thôn, cũng phải được chính quyền cho phép. Chỉ mấy ngày sau chính quyền đồng ý, nhưng cũng chỉ là trao đổi nói miệng thôi, khỏi cần giấy tờ gì. Cụ Từ cho biết, lão Sầm mừng lắm. Từ đó, lão có nhà cửa đàng hoàng và “định cư” gần chục năm cho đến lúc mụ Gù đến sống chung.
Đó là ngôi nhà một gian bốn chái. Đông, tây, nam, bắc có bước gian bằng nhau. Có thể coi đó là ngôi nhà vuông, duy nhất chỉ có một cửa ra vào, tường xây gạch, mái lợp ngói, khá chắc chắn. Thực ra nhà này là một cái kho để chứa đồ và xe táng, kiêm luôn lúc làm lễ hạ huyệt. Sau khi di chuyển mồ mả, người ta san lấp, cải tạo bãi tha biến thành đất trồng trọt, thậm chí thành ruộng lúa nước.
Khi nhận được nhà, lão Sầm như nằm mơ, hắn cứ ngỡ đây là tòa lâu đài hạng nhất thôn Bùi, vì không nhà nào giống căn nhà của lão, độc nhất vô nhị. Cùng với việc cho ra ở riêng, cụ Từ sắm cho lão phản nằm, chăn chiếu, nồi niêu cùng vài cái bát đủ cho một gã đàn ông độc thân.
Sau mấy ngày ở cùng, Sầm biết mụ không phải người câm điếc, do kiệm lời nên ít khi mở mồm. Hình như miệng của mụ chỉ dành riêng cho việc ăn và nhai bã trầu. Các ngôn từ mĩ miều nhân loại xa xưa đã lấy hết cả rồi nên thế hệ sau không còn gì để nói nữa. May thay, thế giới vô tình bỏ sót lại một vài từ cục cằn mà mụ nghe lỏm được lúc lão Ngò đọc sách. Cho đến ngày gặp lão Sầm, trí nhớ của mụ mới phát tiết ra. Chẳng hạn lão Sầm hỏi:
– Mụ tên gì?
– Gù. – Mụ trả lời cụt lủn.
Thực ra mụ không biết tên bố mẹ đặt cho mình là gì, nhưng mọi người ở làng Màu gọi, lâu ngày mụ tưởng thật tên mình là Gù, đến nỗi chưa ai nói cho mụ biết gù là cái quái gì nữa kia. Mụ chỉ biết lờ mờ bộ dạng của mình không được thẳng thớm như mọi người xung quanh mà thôi, không biết cái tên Gù có liên quan gì đến thân thể dị tạng của mụ không?
– Mụ ở đâu đến? – Mụ lắc.
– Có chồng chưa?
Mụ lại lắc đầu sau một thoáng suy nghĩ. Có thể mụ không biết chồng là gì, nhưng gọi “mình” thì mụ biết. Trước đây ở làng Màu, mụ gọi cu Tướng là “mình” đấy thôi. Mụ đã từng ngủ với cu Tướng là chuyện có thật, nhưng quan hệ thế nào thì mụ không biết. Rõ ràng mụ không nói dối.
Ở chùa về, thấy mụ Gù đã dọn đống cây ngô cạnh giường, lão Sầm phân vân không biết đêm nay ngủ ở đâu. Không biết mụ dọn cây ngô chỗ nằm của lão là có ý gì. Màn đêm buông xuống, không có trăng, nhưng sao sáng lấp lánh đầy trời, đàn muỗi từ ngoài cánh đồng ùa vào dạo nên bản nhạc vo ve, vo ve không hồi kết. Sầm hỏi:
– Tôi ngủ ở đâu?
– Giường.
– Mụ ngủ ở đâu?
– Giường. – Ngôn từ của mụ chỉ có thế, ai muốn hiểu thế nào thì tuỳ.
Lão lẩm bẩm trong miệng rồi cũng ghé lưng sát sạt bên mụ vì tấm phản hơi hẹp. Mụ kéo chăn đắp cho lão để chống muỗi đốt. Mùi ngai ngái của người đàn bà lan toả trong chăn, ấm hẳn lên. Nhưng lão lại thấy lạnh toát, sống lưng bắt đầu nổi gai ốc, hai hàm răng run lập cập, tay chân cứng đờ như người đã chết. Lão bừng tỉnh khi nghe mụ gọi:
– Mình, mình!
Không lẽ mụ gọi lão? Hình như câu này nghe quen quen? À đúng rồi, hôm mụ ngủ trên giường, lão ngủ ở đống cây ngô cạnh bên nghe rất rõ. Té ra mụ không nằm mơ mà gọi lão là “mình”. Người thiên hạ khi đã là vợ chồng mới gọi nhau là “mình”. Vậy mụ gọi lão là “mình” vì cớ gì? Thật không thể tin được, mới gặp nhau tí ti có mấy ngày mà mụ đã tỏ “tình ý” với lão. Tương tự như lão từ phút mới gặp, đã không muốn cho người đàn bà ra khỏi nhà. Không chừng trong đầu lão đã có ý chiếm đoạt người đàn bà ngay từ phút đầu tiên? Nghĩ tới chuyện đó lão thấy thẹn thẹn, mặt đỏ bừng, người rấm rứt. Dân gian có câu: “Như cá gặp nước, như rồng gặp mây”, vận vào hoàn cảnh của lão, đúng thật.
Sau hai mươi năm sống xô dạt, ngày cũng như đêm chỉ một thân một mình, chăn đơn gối chiếc. Bỗng dưng người đàn bà ở đâu vừa đến, chưa biết thế nào mà lão dám nằm bên cạnh! Đột nhiên lão mường tượng nhớ đến người vợ đã mất, từng ăn ở với nhau liên tiếp cho ra đời một trai, một gái xinh đẹp. Đang hạnh phúc ngọt ngào, thế rồi tai hoạ ập xuống…
Lão lập cập định ngồi dậy thì bất ngờ một cánh tay mập mạp của mụ luồn dưới gáy. Trong nháy mắt người lão được bế lên bồng bềnh trên thân thể của mụ. Đầu lão lọt thỏm vào khe ngực. Lão thấy nghẹt thở, đầu ngúc ngoắc giữa hai quả bưởi căng tròn, khiến mụ bị kích thích tột độ. Mụ ôm riết, muốn “ăn tươi, nuốt sống”, không cần biết lão có đồng ý hay không. Lão ngọ nguậy như con nhái bị siết chặt trong hàm con rắn cái.
Cơn dục tình lên đến đỉnh điểm, bấy giờ Thượng đế tối cao mới rủ lòng thương, trả lại cho họ bản năng được sống, được yêu giống như loài người xưa nay họ từng được thụ hưởng. Thế mới hay tình yêu, tình dục không phân biệt cao thượng hay thấp hèn, giàu sang hay nghèo túng, trí thức hay thất học, già hay trẻ, thơ mộng hay trần trụi, họ đều giống nhau cả… Cả hai như vừa đi qua những ngày hạn hán tháng 6 được đón chào cơn mưa mùa hạ mát mẻ, cơn gió tình mùa xuân hây hẩy, mơn man…
Bây giờ lão Sầm mới hiểu tại sao mụ Gù lại thích suốt ngày la cà ở chợ. Mụ quét dọn sạch sẽ và tiêu huỷ rác sau khi đã thu gom lại. Cuối chợ lúc nào cũng có đám lửa đốt rác, khói nghi ngút suốt ngày đêm. Tuy hiện tại chợ đã có người làm công việc này, nhưng lúc nào cũng nhếch nhác, sạch ở chỗ này, lại bẩn ở chỗ khác. Từ khi mụ Gù đến, chợ Bùi phong quang, sạch sẽ hơn rất nhiều. Dưới mắt của mọi người, con mụ tuy xuề xoà xấu xí, song chợ búa lúc nào cũng sạch bóng, được nhiều người thương cảm, cho quà. Vì thế mỗi ngày mụ mang về đồ ăn, thức uống nhiều hơn. Lão Sầm có cảm giác mụ đang nuôi sống cả nhà, chứ không riêng mình lão. Mỗi ngày mụ ở chợ về, nhà cửa ấm hẳn lên, nụ cười thân thiện, xoè ra như bông hoa dâm bụt với hai bờ môi dày dày, nứt toác do nhai trầu suốt ngày ở chợ.
Ngoài ra, lão còn phát hiện mụ không hề biết nấu nướng chứ không phải vì lười nhác, có đồ ăn là “đợp” luôn. Với lão, những thứ mang ở chùa về cũng vậy, không phải đỏ lửa làm gì cho mệt xác. Vì thế không ai trách cứ ai về chuyện bếp núc lạnh tanh. Còn khoản dục vọng của mụ thì không chê được, nó hừng hực như lò lửa đang cháy!
Lão Sầm tự hỏi mụ là ai, từ đâu tới?
Chương 3
NGƯỜI ĐÀN BÀ QUÉT RÁC
Một buổi chiều đẹp trời, gió nồm từ biển thổi vào, đám mây từ trên cao trôi dạt về phía tây vàng tím bởi ánh mặt trời sắp lặn hắt lên. Khung cảnh hoàng hôn vô cùng thơ mộng. Tuy hơi xa biển một chút nhưng vẫn nghe rất rõ tiếng hát rì rào từ biển vọng tới, lúc chợ còn đông không mấy khi nghe được tiếng sóng vỗ xô bờ. Cùng lúc là tiếng kẽo kẹt phát ra từ lùm tre còn sót lại cuối chợ sát với nhà lão Ngò. Đám lông gà, lông vịt cuốn theo gió tạo thành vòng xoáy nhỏ. Tia nắng vàng cuối cùng mỏng hơn sợi tơ trải lên mái lều xiêu vẹo. Đôi chim bồ câu đang vội vã tìm hạt gạo vương vãi trước khi bay về tổ.
Mọi người đang thu vén đồ nghề ra về. Đột nhiên xuất hiện một người đàn bà. Chợ Màu chưa tan hết nhưng bà đi như vào chỗ không người, không thèm chào hỏi ai. Đến cuối chợ bà đặt mông xuống một phản gỗ bán thịt lợn bỏ không, đảo mắt khắp lượt rồi ngồi chờ cho đến lúc ông mặt trời đi ngủ.
Mấy bà hàng trầu cau nán lại đang ngồi nhai trầu, tán chuyện liếc xéo người đàn bà vừa đi qua, thấy cái lưng gù gù, đôi mông to tướng, liền phán một câu:
– Mông to, lưng gù, dáng cong cớn thế kia, con mụ Gù này chắc đẻ khỏe ra phết!
Người làng Màu vốn độc mồm, độc miệng. Hễ nói ra hoặc gắn tên cho ai thì như keo dính chặt vào mồm. Từ giây phút ấy, bà có tên mới: MỤ GÙ, thôi luôn cái tên trước đó dân làng dự định phong tặng bà Hoàng Chợ Búa cho người đàn bà nào đến với chợ. Liếc qua, họ thấy tướng mụ Gù thật xứng đôi với cu Tướng bên Gò Nhồi.
Sáng hôm sau, những người đi chợ sớm đứng như trời trồng, mắt nổ đom đóm không nhận ra cái chợ Màu nhếch nhác bẩn thỉu không ai muốn nhìn. Thật khổ, có mỗi cái chợ bé tí, người ta bỏ mặc nhiều năm dân làng đành phải chịu. Mấy cụ già nói thời xưa chợ họp dưới những cây cao cổ thụ nối liền từ Đình Chính sang tận bên chùa. Sau này, chùa chiền bị phá, cây cối bị đốn hạ, dân chiếm hết đất. Thành ra chợ dạt ra gần cánh đồng Nội, chịu cảnh đìu hiu gần nửa thế kỷ.
Chợ bé tẹo, rách nát, xấu xí, nhưng dân tình có vẻ ăn chơi, sang trọng. Có cảm giác người ta chỉ biết bo bo giữ lấy mình thôi, còn nơi công cộng bỏ mặc, thậm chí rác rưởi hàng ngày ngập đến tận mũi cũng mặc kệ. Phải chăng họ đang chờ ai đó đến với chợ để gánh nỗi ê chề đáng xấu hổ này thay họ? Vừa hay mụ Gù đến.
Bỗng nhiên sáng nay ai cũng thấy khang khác. Không phải có phép màu nào hết, những chiếc lá khô từ cây đa, cây gáo rơi rụng đã được thu gom. Các hòn đá kê rổ rá được sắp đặt ngay ngắn. Cuối chợ là đống rác to đang cháy, khói bốc lên nghi ngút. Chỉ bấy nhiêu thôi chuyện xảy ra trong vòng một đêm? Quang cảnh chợ cũng thay đổi được đôi chút.
Mụ Gù đứng lừng lững trước cổng chợ như muốn khẳng định chủ nhân chợ Màu. Mặt mụ vênh vênh, chìa hàm răng đen xỉn có vẻ ăn bã trầu nhiều hơn là ăn trầu. Chốc chốc lại vén mép khăn quàng lên, lau mồm khi nước trầu chảy tràn xuống yếm.
Buổi ra mắt đầu tiên của mụ Gù rất thành công, mụ đột ngột xuất hiện, y chang cu Tướng bên Gò Nhồi. Mọi trật tự bị xáo trộn, không biết có ai lấy đó làm điều hổ thẹn, tự ái? Một làng cổ nổi tiếng lâu đời, vẫn tồn tại một cái chợ rách nát, bẩn thỉu khiến con mụ Gù phải ra tay!
Một đặc điểm đáng kính của người làng Màu khi nói chuyện với nhau phải nhìn vào mặt nhau. Đó là cách họ tôn trọng người nói. Nếu vô tình quay mặt đi hoặc lấy tay che mặt liền bị cho là người không lịch thiệp. Còn một lý do nữa, vì tế nhị, chẳng ai nói với ai, bởi khuôn mặt các bà ở làng Màu dễ coi và có sức hấp dẫn kỳ lạ. Nhìn vào mặt nhau âu cũng là cách tôn vinh vẻ đẹp của nhau!
Song nhìn vào mặt nhau không phải lúc nào cũng tốt đẹp, nhất là lúc người ta đang ăn. Nếu bị người khác cố tình hay hữu ý nhìn vào mặt thường xảy ra chuyện. Trong một số trường hợp, sự việc kết thúc rất đau lòng. Họ chấm dứt mối thâm tình, thề rằng không bao giờ nhìn vào mặt nhau nữa!!! Để ngăn ngừa những chuyện không may xảy ra, bây giờ các bà ăn quà vặt ở chợ thường lấy nón hay khăn để che mặt! Đấy, thử nghĩ xem đàn bà làng Màu thông minh đến thế là cùng!
Trong thời gian “trị vì” chợ Màu, không biết do sơ suất hay cố tình, mụ Gù phạm một sai lầm hết sức nghiêm trọng. Đó là hành vi dám nhìn vào mặt khi các bà đang ăn quà vặt ở chợ. Mụ là người hạ đẳng, người ta không túm tóc, không bị hắt nước vào người, nhưng được hưởng một cái lườm khinh bỉ và mẩu bánh người đàn bà đang ăn, bỏ lại. Với mụ, đó là một cơ hội, thành công. Chờ cho vị khách ăn giận dỗi bỏ đi, mụ đợp ngay mẩu bánh, nhanh đến nỗi hai chú chó con ngồi chầu bên cạnh không kịp phản ứng, chỉ biết rên ư ử, ve vẩy đuôi nhìn mụ Gù nịnh bợ.
Đúng là từ cái vô tình đã trở thành hữu ý. Người ta bỏ bánh lại thì mình ăn, có sao đâu? Với lại mụ bỏ công sức, cũng phải có ai đó đền đáp chứ. Với tầm suy luận như vậy, mụ tìm ra được cách sống của mình.
Nhiều người bực bội với mụ Gù, bởi cách kiếm ăn của mụ lạ lẫm chưa thấy xảy ra ở đâu. Hãy khoan trách mụ, phải đến thăm nơi ăn chốn ở của mụ, rồi mới đưa ra lời phán xét tại phiên tòa chợ búa.
Căn lều rộng hơn bốn mét vuông chuyên bán thịt lợn của người bán quán. Ban ngày chủ quán bán thịt, ban đêm bỏ trống. Đó chính là chỗ tá túc của mụ Gù. Nếu nghiêm túc khẳng định căn lều làm bằng vật liệu gì, màu sắc thế nào, khó lòng trả lời được. Chỉ biết rằng hơn hai trăm sắc màu quốc gia Liên Hợp Quốc cũng phải cúi mình trước tòa nhà của mụ. Một sự hổ lốn mang tầm thế giới.
Một thân một mình, không chồng không con cũng đủ cho mụ thoải mái ngủ qua đêm trên phản thịt đầy lông lợn còn dính lại. Điều ấy đối với mụ cũng chẳng sao cả. Chỉ e một điều, đàn bà con gái ngủ trong lều trống trải, che đậy sơ sài mà gió máy vùng biển làng Màu nghịch ngợm lắm, nhỡ làm tốc cái mấn của mụ lên, biết làm sao bây giờ? Dẫu vậy, mụ chẳng màng quan tâm, vì mụ có biết gì đâu về giới tính đàn bà?
Khoản ăn uống là vấn đề lớn nhất trong cuộc đời của mụ. Hình như đấng tối cao không công bằng với mụ, tước mất quyền “tề gia nội trợ” của người đàn bà này. Không nồi niêu bát đĩa, không khói lửa chiều hôm, không có cái thú chuẩn bị đồ nấu và thưởng thức thành quả của mình làm ra. Tất cả lạnh tanh đến ngơ ngác. Giá như cả cái chợ Màu này gom hết tất cả gạo, cá mú… biếu không cho mụ thì mụ cũng chẳng biết làm thế nào để nấu nướng. Về sức ăn, làng Màu không ai sánh được sức ăn của mụ, thậm chí nhiều người gộp lại chắc gì đã thắng. Dân làng Màu thổi cả núi cơm, kho tất cả cá mú dưới sông Màu, có lẽ cũng không đủ cho cái bụng lúc nào cũng thấy ong óc đói của mụ. Vì vậy, các cụ xưa lại dạy “miệng ăn, núi lở”.
Có thể nói, việc ăn đã choán hết cả thời gian và tâm trí của mụ. Ban đêm ngoài việc quét dọn chợ trước khi trời sáng, mụ còn dành riêng cho việc ngủ nghê. Ban ngày, chúa ban phước lành cho mụ trong việc ăn uống. Xin ai đừng quở trách, mắng mỏ khi mụ đang ăn. Đó là cơ hội, là dịp ngân hàng “dịch vị” tích tụ lâu ngày trong miệng của mụ tiết ra, “trời đánh tránh miếng ăn” mà.
Chiến lược ăn của mụ hết sức đơn giản, hiệu quả, không đa dạng phức tạp như lão hàng xóm bên kia Gò Nhồi. Dưới con mắt của mụ, chợ Màu không có bất cứ một loại hàng hóa nào hết ngoại trừ một dãy hàng bán quà vặt. Đó là những thứ hàng quà rất dân dã, mang đậm chất vùng miền: bún chấm mắm tôm, bánh đúc chấm mắm đâm*, bánh mướt chấm nước mắm cốt, còn các loại bánh chưng, xôi lạc, xôi vừng, bánh xèo, bánh sung, bánh rau câu, rau cạo… Một vùng quê nghèo “chuyên tự cung tự cấp” nên không có hàng cơm, hàng phở. Các tiệm cà phê, hàng giải khát như các nơi khác tuyệt nhiên không có.
Người làng Màu vốn khó tính, song việc ăn lại rất đơn giản. Đói khát về nhà đã có vợ con lo, không tốn tiền tiêu pha. Chính vì thế người làng Màu tự làm cho mình nghèo thêm, kéo theo sự không may mắn của mụ Gù quanh năm suốt tháng không biết mùi vị của hạt cơm, chưa nói đến hương vị phở.
Giữa chợ là một dãy hàng bánh, lúc nào cũng tấp nập người qua lại, người ngồi xuống kẻ đứng lên. Hình như đó là lăng kính phản ánh lối sống của người có văn hóa, người có nhiều tiền và người “chán cơm, thèm… bánh”. Họ rất thích bánh, nhất là các bà, các cô. Họ ít khi mang về mà ăn ngay tại trận, không biết đó có phải lí do giấu chồng, giấu con? Nếu đúng vậy các bà mắc nhiều lỗi quá nhưng mụ Gù có nhiều cơ hội khai thác triệt để, duy trì sự sống của mình.
Mụ chọn cho mình một chỗ ngồi thích hợp, có tầm quan sát khách hàng. Nơi vừa kín đáo vừa phát huy được trí tưởng tượng của một điệp viên già dặn kinh nghiệm, không vì một ai đó làm cho mất sự tập trung cao độ.
Đội vương miện bà Hoàng chợ búa, chẳng mấy chốc mụ ngủ gà ngủ gật, quên mất bữa ăn chính của mình. Đây là bài học trả giá cho mấy lần ngủ quên, phải ôm bụng đói qua đêm trong “hoàng cung” lạnh giá của mình.
Mụ lén sang bên Gò Nhồi, đánh cắp được một hòn đá tròn nhẵn như chú lợn con để làm ghế ngồi. Mụ chật vật mang hòn đá về trong lúc cu Tướng vắng nhà. Với cái mông to bè thượng lên hòn đá tròn tròn, lăn đi lăn lại, mụ thấy hơi ngồ ngộ, tê tê dưới mông, kích thích không còn thấy buồn ngủ nữa. Khi phát hiện con “mồi” đã sà vào một hàng bánh nào đó, mụ rời nơi ngồi, nhẹ nhàng như loài cáo, đến nỗi người bán và người ăn không hề hay biết. Việc nhìn vào mặt người ăn tuy có mất lịch sự một chút, với mụ Gù đó là cách duy nhất để đoạt miếng ăn của người khác.
Từ ngày Cu Tướng láu cá biết cách đổi quần áo cũ lấy quần áo mới, hắn như người rửng mỡ, chân nhảy lò cò, miệng huýt sáo, nhưng vì răng nhiều hơn da, nên không thể tu môi vào được, phì hơi qua hàng răng thưa, phát ra âm thanh nghe “toẹt, toẹt” như lũ ngan ị bậy.
Hồi trước, cu Tướng nhà ta rất ngại gặp đàn bà, nhưng bây giờ đã khác. Quần áo luôn được chỉn chu, không bị lộ “hàng” nữa. Gặp ai, hắn không chào hỏi, giương đôi mắt lợn luộc nhìn chòng chọc, tưởng như người hành tinh khác đến khám phá trái đất. Vì vậy, các bà các cô bây giờ không dám coi thường cu Tướng như trước nữa. Hễ nhìn thấy hắn từ xa, tránh mọi phiền phức, họ lánh vào ngõ hay chui tọt vào nhà. Không gặp ai, cu Tướng xông thẳng ra chợ, có thể bắt đầu cho mình một chuyện tình ái phiêu lưu ở chợ làng Màu.
Có rất nhiều người, kể cả nhà văn hay không phải nhà văn, họ mô tả cái nhìn đầu tiên của những đôi “trai tài, gái sắc” bằng những mỹ từ mà bất kể sách vở nào cũng viết: “mối tình sét đánh” hay “nhất kiến chung tình” (yêu từ cái nhìn đầu tiên). Riêng chuyện tình của cu Tướng, tình yêu sét đánh xảy ra thế nào?
Về khía cảnh này, người dân làng Màu nhìn cu Tướng dưới nhiều góc độ khác nhau. Nếu là người bình thường cái nhìn sẽ rất khác. Xét về góc độ nhà thơ, cu Tướng nhà ta có thừa tâm trạng thi sĩ. Ở bên Gò Nhồi với mái nhà trống hoắc, bao nhiêu trăng sao, mưa gió, sương khói… ùa vào cùng với tiếng ma kêu, qủi hờn, ếch nhái râm ran làm sao cu Tướng không thể không rung động. Chỉ có điều khác biệt với các nhà thơ khác, cu Tướng vốn sống nội tâm nhiều hơn, không viết ra trên giấy trắng mực đen nên thỉnh thoảng mới phát tiết ra ngoài bằng tiếng sáo mồm quen thuộc. Nếu đi qua Gò Nhồi nghe tiếng phát ra giống như tiếng ngan ị, chính là lúc cu Tướng đang có cảm xúc với nàng thơ mãnh liệt nhất! Bạn hãy “thưởng thức” nhé!
Cu Tướng đứng mãi một chân, ngắm mụ Gù từ phía sau, bất ngờ bước lại gần mụ, vung chân đá mạnh vào đôi mông to tướng khiến mụ Gù chúi người về phía trước, suýt dập mặt xuống đất. Mụ không nổi giận, bất ngờ quay lại nhìn cu Tướng, mắng yêu:
– Nỡm!
Đây là lần đầu tiên mụ phát ra một âm từ độc đáo, một tín hiệu của tình yêu chăng? Mụ nguýt một cái rõ dài, xòe mồm cười hết cỡ, đám bã trầu ngậm trong miệng không còn bị giữ lại, rơi lả tả xuống yếm nâu. Mặt cu Tướng lạnh tanh, nhưng khi thấy mụ cười, hắn cũng bật cười theo. Thế là hai đứa ngẩng mặt lên trời, cười như đười ươi ôm ống! Ai mà nghe thấy thì chẳng biết ám ảnh đến bao giờ bởi âm thanh “sảng khoái” ấy.
Tảng sáng hôm sau, những người đi chợ sớm thấy cu Tướng từ chợ Màu đi ra, không phải từ vương quốc Gò Nhồi như mọi khi. Điều khác lạ ấy làm cho dân làng Màu đã im ắng chuyện tào lao lâu nay, bây giờ lại một phen bùng lên đồn thổi, nghi vấn. Sự việc được đẩy lên cao trên mức điên rồ khi ai đó phát hiện chỗ ở của mụ Gù được kê thêm một tấm gỗ vừa đủ cho hai người nằm. Tại sao tấm gỗ chắn rác cuối chợ lại ở trong lều của mụ? Ai đã nằm trên tấm gỗ kê sát phản thịt trước đây mụ vẫn nằm một mình? Tại sao sáng sớm cu Tướng từ chợ đi ra? Họ đã làm những gì?
Với những suy luận, đồn thổi kiểu ấy, dân làng Màu quả quyết đêm qua họ đã… “ăn nằm” với nhau rồi. Sự chú ý của mọi người bây giờ không vào cái mồm “mỏ khoét” của mụ nữa mà nhằm vào đồi núi thây lẩy, đôi lúc mụ trễ nải để nó trật ra khỏi yếm. Có người còn quả quyết nói điêu lên rằng cái bụng của mụ đã lùm lùm hơn trước. Thật quá quắt!
Với cái đà này, chắc chắn chuyện tình của cặp xứng đôi vừa lứa này không thể dừng lại được. Mỗi người nói một phách, theo trí tưởng tượng riêng của họ sẽ thêu dệt nên những tình huống cực kỳ gay cấn, lãng mạn… Và rất lạ, họ kể lại tường tận cứ như người trong cuộc.
Chuyện rằng sau cú “đá yêu”, cu Tướng ngồi lì trên phản gỗ của mụ cho đến lúc trời tối mịt. Hai đứa ngồi lù lù như hai đống rạ, tưởng ai đó vô tình gặt hái xong để quên giữa chợ. Chúng bắt đầu cuộc yêu bằng việc cấu véo, xô đẩy, cười đùa cho đến lúc cả hai mệt lử, rồi ôm nhau lăn qua lăn lại trên phản gỗ chặt hẹp.
Con mụ chợt nhớ ra điều gì, chạy về cuối chợ, lôi ra tấm gỗ chắn rác, đưa về kê sát với “giường” của mình. Họ còn kể tỉ mỉ, mô tả đến mức cu Tướng với bộ răng cải mả ngoạp vào “ngọn núi đôi” mụ Gù một miếng. Không biết mụ có đau hay không, nhưng yếm bị rách một mảng to, lòi một bên ngực ra ngoài. Lần đầu tiên nhìn thấy vòng một đàn bà sát sạt đến thế, cu Tướng bị kích thích đến cao độ, một tay bóp lấy bóp để, tay kia còn lại túm dây yếm giật mạnh. Trong chốc lát, hai trái bưởi mụ Gù tồng ngồng, nhảy tưng tưng trước mặt. Hắn đè nghiến mụ xuống phản thịt, vừa bóp vừa cắn cho đã đời. Mụ Gù đang lúc hứng tình, không thấy đau liền ôm chặt lấy cu Tướng, thở hồng hộc.
Nếu ôm nhau mãi thế này cũng chán, chúng cảm thấy thiêu thiếu một cái gì đó. Do không được dạy bảo đến nơi đến chốn, cả hai chẳng biết phải làm gì nữa. Tạo hóa, đấng tối cao thiêng liêng chỉ ban phát ân huệ ấy cho loài người nhưng lại quên mất hai con người khốn khổ này.
Dục vọng là bản tính con người, đã đi là phải tới cùng. Đột nhiên cu Tướng thấy vương vướng ở phía dưới bụng, hắn tưởng cái “gậy” đuổi chó hàng ngày của mình, liền túm lấy định vứt đi, song kéo mãi không dứt ra được. Chợt nhớ ra “cái” này là của mình dùng để tiểu mỗi khi bụng căng tròn.
Nhân thể, cu Tướng tò mò đưa tay xuống phía dưới mụ Gù xem có giống cái của hắn không? Thật lạ quá, không thấy cái gậy dài như của hắn mà chỉ có một đống lùm lùm trong bàn tay xòe hết cỡ? Mầy mò một lúc hắn thấy tay mình ướt át, người nổi da gà. Hắn lên cơn điên, liền dập liên hồi xuống người mụ.
Hắn lại ngạc nhiên vì dập như thế chẳng biết để làm gì nữa? Chỉ thấy đau ở phần dưới. Trong khi người hắn lại rừng rực như cơn khát, muốn uống mà không biết uống như thế nào?
May thay, mụ Gù đã từng nghe lão Nhiêu Ngò đọc các chuyện tình ái, lâm li, ướt át khiến mụ biết phải làm gì khi cơn hứng tình lên đến cực điểm. Mụ luồn tay xuống dưới tấm thân hộ pháp của cu Tướng, đưa chiếc “gậy” của “tình nhân” vào chỗ của mình. Đến lúc này, cu Tướng dập mạnh một cái như búa bổ. Cùng lúc mụ Gù thét lên như lợn kêu khi bị chọc tiết. Từ giờ phút ấy, mụ Gù trở thành người đàn bà.
Thật ra, sau lúc “lâm trận” xong cu Tướng không tài nào ngủ được. Hắn thấy sự việc xảy ra từ chiều đến giờ nhanh và bất ngờ quá. Bỗng nhiên hắn có được người đàn bà đang nằm bên cạnh, lại cho hắn khoái cảm tột cùng, thứ mà trước đây hắn không hề biết. Mơ hay ảo giác tức thời?
Tóm lại hắn chẳng hiểu điều gì vừa xảy ra. Hắn trằn trọc, xoay trở trên tấm ván chật hẹp, vô tình chạm tay vào ngực mụ Gù đang phơi ra sau cuộc hoan lạc. Hắn tự hỏi tại sao hai ngọn núi mụ không nhô cao như lúc nãy mà lại giống ngọn đồi, gò đất thế này? Hắn suy nghĩ rất lung và không có lời đáp vì trong đầu hắn lúc nào cũng đầy ắp xương người, không còn chỗ cho các kiến thức khác.
Hắn hốt hoảng, sục tay vào ngực mụ như sục vào trong quan tài. Cứ thế hắn vày vò, mân mê. Con mụ Gù sướng như điên, ọ lên rồi ôm đầu hắn ghì chặt vào ngực mình.
Người hắn bắt đầu rạo rực căng lên. Hắn muốn thực hiện như lúc nãy. Bất chợt có tiếng sột soạt dưới gầm phản làm hắn cụt hứng. Hắn thấy nhói đau ở mấy đầu ngón chân. Đến khi nghe tiếng ăng ẳng, cu Tướng mới nhớ ra hai con chó con hàng ngày vẫn chầu chực bên mụ Gù, bây giờ đang tranh nhau gặm vào cái chân thối của hắn! Đang lúc sung sướng mà “kẻ thù” vẫn không buông tha, điều ấy làm cu Tướng bực bội. Người đàn ông mấy lần nhổm dậy đuổi chó đi, nhưng cánh tay nuột nà của người tình kịp thời vít xuống, đành chịu. Thử hỏi trên thế gian này, mấy ai khuất phục được hắn? Vậy mà con mụ Gù đã làm được điều đó. Thế mới biết ma lực đàn bà khủng khiếp đến mức nào!
Sau đêm đó, cu Tướng bỏ ngoài tai mọi lời dị nghị của làng. Hắn ăn nằm với mụ Gù như vợ chồng. Mọi người nói rằng, hắn không đi theo lối cũ trước cửa đền là để tránh mặt hai ông tướng gác cửa. Hắn trèo qua tường rào đá xây khan bằng lối nhỏ từ Gò Nhồi sang chợ Màu đưa cơm cho mụ và làm những việc của người đàn ông biết phải làm gì với người đàn bà đang yêu. Xong việc hắn quày quả về “vương quốc” của mình. Thực tình hắn cũng muốn ở lại với mụ vì mấy con chó quấy nhiễu làm hắn mất ngủ. Với lại còn việc mồ mả, ma chay của làng, ai lo cho hắn? Thế cũng phải – hắn tự an ủi mình như vậy, song thấy tiếc, nếu được trọn đêm với mụ thì vẫn hơn.
Việc ăn của mụ Gù không được suôn sẻ như dạo trước nữa. Người ta đã quen với cái nhìn của mụ. Việc nhìn vào mồm khách đang ăn không làm cho người ta mất cảm giác ngon miệng nên mẩu bánh cuối cùng không mấy khi còn dính lại trên lá. Sự xuất hiện của cu Tướng rất kịp thời. Hắn không chỉ là người tình trời cho, còn như một anh hùng cứu “mĩ nhân” khỏi cơn chết đói. Hàng ngày đi ăn, hắn mang theo một cái bát sắt rỉ, giấu sau lưng. Đó là phần cơm kiếm được để chia sẻ với mụ. Chẳng bao lâu mụ Gù “đỏ da, thắm thịt”, đến nỗi nhiều người không phân biệt được mụ béo lên hay đang mang bầu?
Rồi một sự việc làm cho làng Màu bàng hoàng, sửng sốt: mụ Gù tự nhiên biến mất!? Ai cũng nghĩ họ là một cặp xứng đôi vừa lứa. Họ hạnh phúc bao nhiêu thì người làng Màu được sạch sẽ bấy nhiêu. Vậy mà…
Cũng như mọi lần, người đi chợ sớm, thường thấy mụ ngồi ở phản thịt đang vấn tóc, mồm nhai trầu như cái cối giã trầu, trong khi chợ đã quét dọn sạch sẽ. Hôm nay thì không! Nắng đã xiên hông, họ hàng nhà chim đi kiếm ăn từ bao giờ, chợ chật người vẫn không thấy mụ. Lúc ấy, mọi người mới tá hỏa đi tìm. Họ chạy sang Gò Nhồi, nhà cu Tướng trống không. Chạy sang mấy nhà cạnh chợ xem mụ có ngủ quên, cũng không. Rồi họ ngó nghiêng xuống giếng, thậm chí nhìn ra sông Màu đang cạn kiệt thủy triều. Liệu mụ có dại dột trẫm mình? Mọi suy đoán, đều không có lời giải đáp. Mụ Gù mất tăm. Người làng Màu cầu trời khấn Phật mong cho mụ chỉ xiêu bạt đâu đó miễn sao được bình yên, đừng xảy ra điều gì xấu nhất. Chợ Màu bắt đầu ngập ngụa rác. Rác. Mùi hôi thối. Họ nhớ mụ lắm…
H.B.T


Bài viết liên quan: