Kính chiếu thời gian – Trích tiểu thuyết của Hà Phạm Phú

Hà Phạm Phú xuất thân là lính, đã trải nhiều nghề, nhưng cuối cùng ông chọn văn làm nghiệp. Ông viết báo, viết kí, làm thơ, sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết.

Kính chiếu thời gian là cuốn tiểu thuyết mới nhất của ông. Đó là một cuốn tiểu thuyết mang đậm chất tự truyện.

Nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế nhận xét đó là “Một trường thiên autofiction (tự truyện hư cấu). Với Kính chiếu thời gian Hà Phạm Phú đã xóa lằn ranh giữa hư cấu và phi hư cấu. Cái tài của Hà Phạm Phú biến cái hư thành cái thực. Cái thực thành cái hư. Nhưng tôi xin bảo đảm tất cả trong Kính chiếu thời gian hoàn toàn là những DNA Hà Phạm Phú.”

Nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Anh Chi viết: “… cấu trúc tác phẩm theo thể tự truyện, dẫn chuyện theo kiểu du kí, thì Kính chiếu thời gian là thiên tiểu thuyết sử thi. Thiên sử thi đích thực này viết với phong thái văn chương khá hiện đại, thể hiện những chuyện đời sống diễn ra trong thời gian dài hơn nửa thế kỷ và không gian rất rộng, lại còn dùng một ngón nghề nữa rất đắc dụng, là trộn lẫn tư liệu (để nói về những diễn biến lịch sử thực) với nghệ thuật hư cấu (để tạo không gian sống động cho nhân vật) nhằm tăng xúc cảm văn chương để cuốn hút người đọc.”

Bạn đọc Trần Viết Sử (Hà Nội) đọc Kính chiếu thời gian đã nhận xét: “Kính chiếu thời gian có cấu trúc của một bản khảo cứu về quê hương, đồng thời là một cuốn dư địa chí đầy họa tiết tinh tế về Phú Thọ—một vùng đất hiện lên vừa chân phương vừa giàu bản sắc. Đắm chìm trong tác phẩm, ta như thấy những vườn cọ, dòng sông, rừng cây, con cá… hiện lên như những mảnh ký ức chạm được vào. Ai có quê, đọc xong hẳn sẽ thấy lòng dậy lên nỗi nhớ và tình yêu quê hương, chỉ muốn nhảy phắt lên xe mà về thăm quê quán, còn nếu ai là người Phú Thọ, có lẽ cảm xúc ấy sẽ nhân lên xxxx lần.”

Đường Văn xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc chương 3 và chương 11 của cuốn tiểu thuyết này.

 

 

Chương 3 – NGÔI GIẾNG

Trích nhật kí ông Hải Phạm: Không biết những hạt vừng thơ gieo vãi vào tâm hồn mình từ khi nào?

Ngày còn đi học, ông Hải Phạm rất ít chụp ảnh, không phải vì không thích. Mà vì không có tiền. Trong số những tấm ảnh mà ông xếp sắp lại có một tấm ảnh còn mới, do một anh bạn cùng học thời cấp II mới sao ra, gửi tặng. Ảnh chụp bốn cậu bé lớp năm. Phía sau bức ảnh ông bạn ghi: Tặng thi sĩ tương lai.

1.

Ông nội Hải Phạm ba vợ. Bố là con út của bà cả. Năm bố ba, bốn tuổi thì ông nội mất, nhưng bà nội vẫn cố cho bố đi học. Mười năm học tiếng Hán, sau chuyển sang học quốc ngữ, đỗ bằng sơ đẳng tiểu học (Certificat d’Études Primaire Franco-Indigène, viết tắt là CEPFI).

Những lúc nằm khểnh bố hay kể cho Hải Phạm nghe về bà nội. Bà nội xuất thân là con một địa chủ lớn, nắm trong tay mấy đồn điền trồng chè, trồng sơn dưới tổng Vĩnh, theo Tây học. Thời con gái, bà nội được cụ thân sinh dạy cho cách quản lí đồn điền, cho về Hà Nội học một thời gian, nên là người hiểu biết, có lối sống tân thời. Ông nội xuất thân cũng vào loại danh gia vọng tộc, nức tiếng ở tổng Đan Hạ Thượng.

Ông nội chết thảm trong một hoàn cảnh khá éo le. Ông nội không làm chức dịch gì ở địa phương, nhưng thuộc nhà có của nên giao du nhiều với các chức dịch địa phương, các chánh tổng, lí trưởng trong vùng đều thân quen. Hôm ấy là ngày rằm, ông nội cùng lí trưởng Bá Nguyễn vượt dốc Đen lên Yên Bái nghe hát thì bị phục binh của Lãnh Thâm chặn bắt.

Lãnh Thâm nghe nói là bộ tướng của Án sát Hoàng giáp Ngô Quang Bích khởi nghĩa chống Pháp, đóng căn cứ bên Yên Lập. Ông Án sát Hoàng giáp được truyền tụng là dòng dõi đại vương Ngô Quyền, là người trung quân ái quốc, là trọng thần của Nam triều, theo hịch Cần vương, tập họp lực lượng chống Pháp. Án sát Hoàng giáp cũng cảm hóa được tướng cờ đen Lưu Vĩnh Phúc (bại tướng trong cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc chống nhà Thanh dạt sang Việt Nam), nên thanh thế khá lớn.

Lãnh Thâm hoạt động ở vùng Hạ Hoa, nhưng ít được dân chúng ủng hộ, giới địa chủ gọi là giặc cỏ. Để gây thanh thế, Lãnh Thâm chủ trương diệt một số chức dịch làm việc cho Pháp. Lí trưởng Bá Nguyễn ở tổng Đan Hạ Thượng bị liệt vào danh sách đen. Khi quân lính của Lãnh Thâm từ trong rừng hò reo xông ra, Bá Nguyễn trẻ, khỏe hơn ông nội nên chạy thoát. Ông nội bị quân Lãnh Thâm bắt trói dẫn về trình chủ tướng. Tra hỏi, biết là bắt nhầm, Lãnh Thâm định thả cho về, nhưng sau sợ lộ hình tích nên vẫn ra tay tàn độc, chém đầu.

Bà nội được tin, nuốt nước mắt, bọc theo một ít lạng bạc, tự mình đi gặp Lãnh Thâm xin được xác ông nội đưa về, táng ở đầm Cả.

2.

Có người nói với bà nội, để cho linh hồn ông nội được siêu thoát, khỏi hàm oan, phải lấy nước giếng Ngọc ở dưới đền Hùng về tưới lên mộ liền trong một tuần, bẩy ngày.

Giếng Ngọc thì bà nội có nghe. Bà còn thuộc cả truyền thuyết về ngôi giếng ấy. Ngày xưa, vua Hùng đi tìm đất định đô, đã lên đến đầm Ao Châu chín mươi chín ngách, nhưng xem thế đất, hướng sông thì thấy đầm Ao Châu bị hãm, không có cơ phát triển. Vua và đoàn tùy tùng xuôi về hạ lưu sông Cái, đến vùng núi Nghĩa Lĩnh, thấy phong cảnh hữu tình, thấy thế núi, hướng sông toát lên vẻ rồng tiên châu tuần, tạo nên hùng khí, cuồn cuộn sinh cơ, bèn quyết định đóng đô ở đấy.

Được ngày lành tháng tốt, vua sai sắm sửa lễ trọng, lên đỉnh Nghĩa Lĩnh lập đàn tế trời. Có thể do Trời xui, cũng có thể là Đất khiến, đoàn quân của vua Hùng quên mang theo nước trắng, một thứ không thể thiếu trong tất cả các lễ tế trời đất, thần linh. Vua Hùng tự trách mình sơ ý, bèn sai hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa xuống núi tìm nước trong tinh khiết dâng lên trời đất.

Vâng lệnh vua cha, Tiên Dung và Ngọc Hoa xuống núi, đi tìm nửa ngày, mệt lả vẫn không thấy nước. Hai nàng công chúa ngồi nghỉ dưới gốc cây chò vạn năm. Cây chò to lớn, cao vút tận trời. Tán lá xanh mờ phủ rộng khắp trái núi, lung linh như vầng mây. Kì lạ, phía đông nam thân cây mát mẻ, tựa lưng vào cây thì thấy sảng khoái, như có người cầm quạt phe phẩy. Hai nàng công chúa ngồi tựa vào thân cây, thiếp đi trong giây lát. Trong giấc mơ, hai nàng nhìn thấy một người rừng, râu tóc và da đều xanh mầu xanh lá chò. Hai nàng công chúa hỏi, người là ai? Người rừng nói, ta là tinh cây chò vạn năm. Còn nói, biết hai công chúa đi tìm nước cho vua cha nên hiện ra báo mộng.

Hai công chúa tỉnh dậy, vẫn văng vẳng bên tai lời Thần cây mách bảo, đi về phía đông nam là tìm thấy nước. Hai công chúa nghe lời, đi về phía đông nam thì gặp một giếng nước tự nhiên, nước mấp mé bờ, trong văn vắt, bèn dùng tay vốc một vốc uống thử, thấy vị ngọt và thoang thoảng hương thơm.

Hai nàng công chúa đem nước về dâng lên vua Hùng, kể lại câu chuyện gặp thần cây. Vua cả mừng, ra lệnh tu bổ ngôi giếng, hàng năm cho người cất về trữ lại để vua hãm trà.

Bà nội nghĩ, nước giếng Ngọc đền Hùng là nước thánh, là tinh khí của trời đất có thể làm mát vong linh ông nội, nên tự mình cất công đi đền Hùng xin nước giếng Ngọc.

Đối với Hải Phạm, bà nội là bậc thánh.

3.

Bố có trí nhớ thật tuyệt vời. Dường như cái gì bố đọc qua đều nhớ nằm lòng. Bố đã từng đọc Khổng Tử, Trang Tử. Bố đọc Kinh Dịch và đồng thời cũng đọc thơ ngụ ngôn của La Phôngten (Jean de La Fontaine), thơ ngông của Nguyễn Công Trứ. Bố còn là người ham săn bắn. Nhà nuôi một con chó săn rất khôn, cả làng đều muốn mượn nó trong những vụ săn lớn, bởi nó rất tinh, có thể biết trên đồi có thú hay không. Có thú thì nó lao lên đuổi, không có là bỏ, quay lại gặp chủ đuôi cứ ngoáy tít lên, mặc những con khác cứ sủa inh ỏi.

Cứ vài ba hôm, bố lại mời Bác Cả, anh ruột bố đến chơi uống rượu, nếu hôm nào săn được thú thì làm cỗ thịnh soạn, còn phần lớn thức nhắm chỉ mấy quả ổi, củ sắn nướng. Có vài chén rượu là Bác Cả và bố lại bầy trò đọc thơ, bắt Hải Phạm và Chúc đứng hầu. Thường Chúc không nghe lời, cứ đứng trơ không đọc thơ, cũng không hát. Chỉ có Hải Phạm là răm rắp làm theo lời bố và bác. Có lẽ vì thế mà những bài thơ Hải Phạm đọc ngày xưa đến giờ còn nhớ, như các bài thơ của cụ Trứ, của cụ La Phôngten.

Bác Cả thường khen Hải Phạm ngoan hơn Chúc, thích nghe Hải Phạm đọc bài Vịnh cây thông của cụ Trứ.

Ngồi buồn mà trách ông xanh,

Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười.

Kiếp sau xin chớ làm người,

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo…

Hải Phạm đọc xong Bác Cả vỗ tay đầu tiên, chạm li với bố, ha hả cười nhắc lại hai câu: Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo… Bác Cả bảo bài thơ dừng lại chỗ này mới hay, hai câu cuối làm nhạt hẳn. Bố nói, em thích bài Chí nam nhi hơn, Hải Phạm con đọc bài ấy cho bác nghe. Hải Phạm lại ngoan ngoãn đọc.

 

Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc

Nợ tang bồng vay trả, trả vay

Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây

Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.

Nhân sinh tự cổ thùy vô tử

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

Bác Cả vỗ tay xuống phản nói, dừng lại dừng lại. Nhân sinh tự cổ thùy vô tử/ Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh là cái quái gì, chữ Hán ai mà hiểu được. Bố không cãi lại bác, gắp một miếng mồi, nói bác xơi miếng này, miếng nầm đấy, ngon lắm.

Những hôm nhàn việc, bố nằm khểnh trên phản ngâm nga mấy bài thơ ngụ ngôn của nhà thơ Pháp, bài Ve và kiến và bài Quạ và cáo đến nỗi Hải Phạm thuộc lòng. Hải Phạm thích nhất bài Quạ và Cáo.

 

Thầy Quạ đậu trên cây

Mỏ ngậm miếng pho-mát

Thầy Cáo thấy thơm ngát

Bèn lại tán thế này:

“Kính chào tôn ông Quạ

Khôi ngô và phong nhã

Tôi trông đẹp nhất ngài!

Lại dám đâu nói sai 

Nếu giọng ngài bẻ bai 

Như lông ngài hào nhoáng

Thì ngài quả xứng đáng 

Là chúa Phượng lâm sơn.” 

Quạ nghe nói sướng rơn

Muốn tỏ mình tốt giọng 

Mở toang cái mỏ rộng

Để rơi quách miếng mồi

Cáo cuỗm phắt, ngỏ lời:

“Thưa tôn ông quý hoá

Xin điều này ghi dạ

Phàm kẻ nịnh hót xằng

Chỉ sống bám vào thằng 

Cả nghe lời tán tỉnh

Bài học này tôi tính

Đổi pho-mát còn hời.”

Quạ xấu hổ điếng người 

Quyết thề – nhưng muộn quá

Từ nay không hớ nữa.

4.

Sau khi gia đình bị qui thành phần phú nông, bố bị khai trừ khỏi Tổ chức, ông bèn dành toàn bộ thời gian cho việc đồng áng và chăm lo vườn tược.

Mùa hạ năm ấy mưa rào kéo dài, nước sông dâng lên tràn vào đồng. Gần sáng bố thức dậy, Hải Phạm thức dậy theo. Bố bảo, con dậy sớm làm gì, mai chủ nhật không phải đi học cứ ngủ cho khỏe. Hải Phạm hỏi, bố đi đâu thế? Bố bảo đi cất chũm. Hải Phạm đòi theo, bố gật đầu đồng ý ngay. Trời mưa, bố đội nón, mặc chiếc áo bạt ngắn. Hải Phạm được bố quàng cho tấm vải nilon, đội chiếc mũ cát. Hai bố con, vai vác đồ nghề, lưng đeo giỏ đi thẳng xuống phía đồng Gianh, chỗ cửa ngòi Gianh. Nước sông lên to, nước ngòi Gianh chẩy ngược. Cánh đồng Gianh hiện ra trước mắt Hải Phạm, trắng xóa.

Bố chọn một chỗ nước chẩy, dọn mặt ruộng, cắm cọc, đặt chiếc chũm cho cậu kéo. Chũm là tiếng nhà quê Hải Phạm, chính là chiếc vó, có kích cỡ vừa phải. Đặt vó xuống nước, cứ chốc chốc lại kéo lên, đỗ nào cũng có cá, toàn cá dưng to bằng bàn tay người lớn. Vẩy cá mắc lại trên mắt chũm, mỗi lần nhấc lên đặt xuống cứ sáng lấp lánh dưới ánh trăng suông. Bố khỏe, không cần cắm cọc đỡ, kéo bộ. Cá sông theo nước vào đồng cứ đi từng đàn, thành thử sáng hôm đó hai bố con Hải Phạm bắt được cơ man nào cá, về nhà mổ phơi khô cất ăn dần, đầy ba cái nong.

Vườn nhà bố trồng thêm nhiều cây bưởi chiết cùng cam, quít. Mỗi lần muốn tưới cây phải gánh nước xa. Một hôm, bố bàn với mẹ phải đào một cái giếng ở vườn. Bố kể một lần đi dân công qua Mường Lò, thấy ở trên lưng chừng đồi có ba chiếc giếng đá ong, trông rõ tận đáy, nước lúc nào cũng tràn đầy, trong vắt. Dân bảo đấy là giếng Tiên, nhưng bố bảo những chiếc giếng ấy có mạch nước ngầm. Bố nói, đất nhà mình có mạch nước ngầm, đào được giếng vừa có nước ăn, nước tưới cây, lại để phúc cho con cháu.

Trước đây nhà Hải Phạm vẫn ăn nước giếng đào ở ven đồi, ngay bên cạnh chiếc ao. Giếng có mạch tốt, nước trong và mát. Nhưng trước khi có cuộc vận động cải cách ruộng đất, không hiểu sao mạch giếng bị tắc, khơi kiểu gì cũng không tìm lại được. Mẹ nghe cha nói đào giếng liền đồng ý ngay.

Bố nói, giếng tượng trưng cho sự dồi dào, sung mãn và cho nguồn gốc sự sống. Kinh Dịch có quẻ Tỉnh. Tỉnh tiếng Hán nghĩa là giếng. Giếng cũng là trầm lặng. Theo hình của quẻ: dưới cùng là một âm, như mạch nước, rồi tiến lên là hai hào dương, như lớp đất ở đáy giếng; tiến lên nữa là hào âm, tức nước giếng, lòng giếng: trên nữa là một vạch liền, tức cái nắp giếng, trên cùng là một vạch đứt, tức miệng giếng. Đại tượng truyện thì giảng quẻ tỉnh một cách khác: nước (Khảm) ở trên cây (Tốn), tức là nhựa (nước từ dưới đất theo thân cây lên) ở ngọn cây, cũng như mạch nước ở trong giếng, chảy ra, cho nên gọi là quẻ Tỉnh.

Bản thể của cái giếng là ở đâu thì ở đấy, làng ấp còn có khi thay đổi, chứ giếng thì cố định; có nước mạch chảy vô giếng hoài, nên nước giếng không kiệt, nhưng nước giếng chỉ lên tới một mực nào đó, không khi nào tràn ra. Công dụng của giếng là ai cũng lại giếng để lấy nước, kẻ qua người lại người nào cũng nhờ giếng mà có nước… Cha nói thêm, các cụ ngày xưa còn ví giếng như người quân tử. Kinh Dịch có đoạn “Tỉnh điệp bất thực, hành trắc dã, cầu minh vương, thụ phúc dã”. Câu ấy có thể giải nghĩa, giếng sạch mà không được người ta ăn đến, tức là người có tài trí mà không được dùng, lấy sự không được hành đạo làm điều lo lắng ngậm ngùi. Do vậy, người quân tử đâu phải câu nệ việc đi tìm vua sáng mà chịu phúc”. Đấy là ví như nước giếng thì múc chẳng hết nhưng cũng chẳng đầy tràn…

Hải Phạm nghe cha nói y như vịt nghe sấm, nhưng có một điều cậu bé thu nhận được đấy là người có tài muốn làm được việc tốt cho đời thì cần có minh chủ, cái giếng như một hình ảnh tượng trưng. Sau này lớn lên, Hải Phạm chiêm nghiệm thêm về cái giếng, nó như là cái đức của trời đất. Và, nó lấy sự chẳng đổi làm đức riêng. Một cái giếng đầy nước, không che đậy là biểu tượng của sự chân thật, tính thẳng thắn và tượng trưng cho hạnh phúc. Cũng như trong Kinh thánh, những giếng nước trong hoang mạc, những nguồn nước mà những người du cư gặp được đều là những nơi của niềm hoan lạc kì thú.

Những cuộc gặp gỡ quan trọng diễn ra bên những nguồn nước và những giếng nước (những điểm có nước) giống như những địa điểm thiêng liêng, có vai trò cao qúy vô song. Ở những nơi này, tình yêu nảy sinh và những cuộc hôn nhân khởi đầu. Giếng trở thành một trung tâm của sự thanh bình và ánh sáng, một biểu tượng cao đẹp.

Hải Phạm nhớ, có một vị giáo sư nghiên cứu về văn hóa đã viết về nước rằng, về phương diện nguồn gốc vũ trụ, nước bao gồm hai tập hợp nguồn gốc trái ngược nhau mà ta không nên lẫn lộn: nước mưa từ trên cao rơi xuống thuộc về trời, tinh dịch của trời truyền cho đất; như vậy là thuộc giống đực, và có liên hệ với lửa của trời. Mặt khác, nước nguyên sơ sinh ra từ đất và từ ánh bình minh màu trắng, là giống cái. Ở đây, đất coi như gắn liền với mặt trăng, là một biểu tượng về khả năng sinh sản đã được thực nghiệm, là đất đã mang thai từ đó có nước chảy ra để khi đã được thụ tinh sẽ nảy mầm. Nghĩa là, nước mưa là tinh khí của trời cha và được đất mẹ giữ lấy, để từ đây, mọi sinh linh sinh sôi và phát triển.

Cha bảo giếng nước là nơi hội tụ nguồn sống, là nơi tích phúc để gia đình giòng họ ăn nên làm ra và do đó, là nơi của niềm hoan lạc. Cổ nhân có câu “Sơn quản nhân đinh, thủy quản tài lộc”. Đường nước dùng để chỉ đường dẫn nước vào và ra. Người xưa một mặt ý thức được việc dòng nước có thể ảnh hưởng đến khí, “khí dương thổi theo gió, khí âm thổi theo nước” – “Nơi có khí thuận theo âm dương thích hợp để sinh sống”, mặt khác cũng cho rằng, nước là nguồn mang lại sự giàu có vì thế đặc biệt coi trọng đường nước, coi nó là thần bảo hộ và đường sinh mệnh.

Một ngôi nhà hợp cách phải có vượng khí chiếu tới phương tọa của căn nhà và căn nhà đó được dựa và núi, đồi hoặc phía sau có nhà hàng xóm cao tầng, như vậy người nhà mới khỏe mạnh, ít bệnh tật, thêm nhân khẩu. Bố vỗ vào trán rồi đọc to:

Đào giếng phương tý sinh điên loạn

Phương sửu anh em khó thuận hòa

Dần mão tị thìn đều bất lợi

Tuất ngọ tìm nước họa không xa

Giếng tại hợi mùi là cực xấu

Thân dậu hung rồi lại hóa may

Duy ở cung càn chân phát bệnh

Tại giáp canh nhâm mặc sức đào

Giếng bếp nhìn nhau nữ dâm loạn

Phương đoài khơi giếng quả không hay.

 

Vì thế việc chọn vị trí, chọn mạch giếng để đào là rất ư quan trọng. Để tìm mạch giếng, cha bảo trước hết phải tìm ở nơi cây cỏ tươi tốt, lại không được phá hướng làm đứt long mạch của ngôi nhà, lại cũng phải gần bếp để tiện nấu nướng sinh hoạt.

Buổi tối bố mẹ làm một lễ cúng thổ công, xin ban cho mạch tốt để làm giếng. Cúng xong, bố lấy năm cái bát sứ đem úp xuống đất ở nơi bố dự định sẽ chọn ngôi giếng.

Xong việc, bố vào nhà mở sách ra đọc.

5.

Để không làm phân tán tư tưởng của bố, mẹ gọi anh em Hải Phạm xuống bếp vừa canh nồi cám lợn, vừa kể chuyện cụ cố giòng họ đào tìm đá làm nghiên mài mực. Mẹ bảo, tất cả những chuyện mẹ kể cho các con đều do bà nội kể cho mẹ ngày mới về làm dâu.

Cụ cố nội vốn quê gốc ở miền trong, vùng Thanh Nghệ, xuất thân anh khóa, sau khi đi thi ở trường thi Nam Định không đỗ, bèn ra ngoài Phú Thọ làm nghề dạy học, dân chúng quen gọi là thầy đồ Phạm. Thầy đồ Phạm lấy cô Lụa, người tận đâu vùng Xá Giang, vì kế sinh nhai mà chuyển lên tổng Đan Hạ Thượng. Các cụ sống với nhau rất hoà thuận, lại biết cách làm ăn, cũng căn cơ nên mỗi ngày một khá lên. Giành dụm được ít nhiều, cụ mua đất làm nhà, rồi tậu ruộng, tậu trâu. Lúc đầu neo người, hoặc khi cụ bà sinh nở, dân làng cảm ơn thầy đã giúp họ mở mày mở mặt, dạy dỗ con cái họ có được cái chữ, nên ai cũng sẵn lòng, đều bỏ ra người một hai công, người dăm ba buổi làm giúp. Cụ bà là người vợ hiền thục, sinh cho thầy đồ Phạm chín người con, ba trai sáu gái.

Xã hội phát triển, người đến vùng Đan Hạ Thượng khai phá đông thêm, chính quyền phái về một giáo viên dạy chữ Tây, nhưng chỉ có con cái nhà khá giả đi học. Thầy đồ Phạm cho con trai đến trường học chữ Tây, tối về kèm cặp thêm chữ Nho, bắt học Đường thi, bắt học thư pháp. Chuyện này các cụ vẫn hằng kể, rằng cụ cố- tức thầy đồ Phạm- rất nghiêm khắc. Cụ cố hay bắt con cháu đứng khoanh tay để đọc thơ, để nghe giảng về một câu thơ Đường hay về “văn phòng tứ bảo”.

Cụ cố nói, thư pháp là nghệ thuật viết chữ, cũng là nghệ thuật hội hoạ, thể hiện cái tâm, cái ý, cái khí của mình. Muốn trở thành tao nhân mặc khách, không thể không biết về “văn phòng tứ bảo”. Cụ cố nội hỏi con trai, “văn phòng tứ bảo” là gì, con có biết không? Cụ nội đã thuộc lòng những điều cụ cố dạy, bèn đáp:

“Thưa cha đó là giấy, bút, mực và nghiên.”

Để dạy con, cụ cố quyết tự mình chế ra một thứ mà cụ cho là quan trọng nhất trong “tứ bảo”. Đó là nghiên mực. Để chế nghiên mực thì việc tìm đá để làm là khó nhất. Cụ cố nói, người ta có thể làm nghiên mực bằng ngói, bằng gạch. Nhà giầu thì có thể làm nghiên mực bằng ngọc. Nhưng nghiên đá mới là nghiên mực tốt. Thế nào là nghiên mực tốt, ấy là đá phải có thớ mảnh, dễ phát mực và không có cặn. Cụ bảo rộng lớn như nước Trung Hoa mà đá làm nghiên mực chỉ có ở Quảng Đông và An Huy.

Cụ cố đi khắp vùng Đan Hạ Thượng tìm đá để làm nghiên mực, nhưng không tìm đâu ra. Một hôm có ông thầy địa lí đi qua, ghé vào nhà cụ cố uống rượu, nhân nói đến chuyện tìm đá, bèn chỉ ra vườn và nói:

“Đá dùng để làm nghiên mực chứ gì? Tìm ở đâu xa, ngay vườn nhà mình chứ đâu.”

Vậy là cụ cố quyết tìm đá ở vườn nhà mình. Tại khu đất thầy địa lí chỉ, cụ cố khoét sâu thành một cái hầm, sâu hoắm, từ trên nhìn xuống chỉ thấy tối om, vẫn chẳng thấy đá đâu. Cụ cố bà chẳng một lời ca thán, hàng ngày cơm nước chè thuốc để cụ cố đào. Dân làng một số người thấy cụ cố làm vậy thì không ngớt bàn ra tán vào. Người thì bảo cụ cố đào vàng, người thì bảo cụ cố tìm của người Tầu giấu lại.

Một hôm, vào khoảng nửa mùa, chiếc hầm cụ cố đang đào bất ngờ bị sập. Cụ nội ngày đó còn ít tuổi lắm, kêu lên, mẹ ơi sập hầm của cha rồi. Cụ cố bà chạy ra thấy toàn bộ căn hầm bị đất sập bịt kín. Cụ cố bà gào to, ông ơi, ông ơi! Vừa gào vừa bới đất, nhưng càng bới thì đất càng sập xuống nhiều hơn. Dân làng kéo đến rất đông, nhưng khu đất cụ cố đào lại hẹp, nên chỉ có mấy người có thể đào bới giúp. Đào bới quá trưa sang chiều, đất từ đâu vẫn cứ ùn lên.

Có người kéo cụ cố bà ra ngoài, nói:

“Thầy bị vùi dưới đất cả ngày rồi, chắc khó mà sống được. Đời, sống chết có số…”

Cụ cố bà nghe, không nói gì. Một người khác bàn:

“Có lẽ là mệnh trời, nên càng đào đất càng đùn lên. Cô ơi, hay để cho thầy yên nghỉ…”

Cụ cố bà nghe thế thì hiểu rằng, mọi người khuyên cứ thế chôn ông. Cụ phẫn uất nói:

“Tôi cảm ơn mọi người. Ông nhà tôi không chết được.”

Đêm ấy cụ cố bà thắp đuốc, cùng các con dùng tay không bới đất, bới suốt đêm. Lạ thay không thấy đất đùn lên nữa. Sáng hôm sau, bất ngờ tay cụ cố bà chạm vào một tảng đá lớn. Cố bà cuống quýt gọi, các con ơi, các con ơi, lại đây. Các con và mấy người hàng xóm chạy lại, xắn tay cùng bới, tảng đá lớn hiện ra, phía dưới có tiếng nước chẩy. Mọi người tìm thấy cụ cố nằm nghiêng dưới phiến đá lớn, vẫn còn thở. Thì ra dưới phiến đá lớn có một dòng nước ngầm, khi đất sập cụ cố đã được phiến đá che đỡ.

Cụ cố cắt lấy một mảnh của phiến đá ấy, đục rũa làm thành một chiếc nghiên mực lớn, đồng thời xây một chiếc giếng ngay bên cạnh. Chiếc nghiên mực ấy là một chiếc nghiên mực đặc biệt, không biết bao nhiêu áng văn thơ đã được cụ cố nhúng mực từ chiếc nghiên ấy mà viết nên. Cụ cố đặt tên là nghiên Đan.

Khi cụ cố mất đi, chiếc nghiên Đan được giao lại cho cụ nội.

6.

Hôm sau bố đánh thức Hải Phạm dậy sớm, đi ra vườn lật những chiếc bát sứ bố úp đất tối hôm trước. Trong lòng năm chiếc bát, chiếc nào cũng đọng những giọt nước li ti như những giọt sương, riêng chiếc bát úp giữa là nước đọng giọt nhiều hơn cả. Bố giảng giải, úp những chiếc bát để làm gì, là để xem nơi nào có mạch nước. Ban ngày đất bị nắng nung khô đi, nên khát nước. Đêm đến, nước từ dưới mạch ngầm sẽ bốc hơi lên, làm cho đất nguội đi, chỗ nào có mạch nước thì đất ẩm hơn, lòng bát sứ đọng nhiều nước hơn. Hải Phạm nhìn cha, nuốt từng lời, lòng không khỏi thán phục và hãnh diện.

Bố chặt một chiếc cọc xoan, vót nhọn rồi đóng xuống ngay tâm úp chiếc bát. Sau đó bố lấy dây thừng vẽ một vòng tròn có bán kính chừng một mét rưỡi, rồi bố mang các thứ như xà beng, cuốc, xẻng, sô, chậu đã chuẩn bị sẵn ra đặt dưới gốc cây bưởi, cách đó không xa. Hải Phạm mải coi bố làm việc quên cả đi học. Bố cởi bỏ áo, mặc độc chiếc quần đùi, nhổ nước bọt vào lòng bàn tay, xoa xoa nói, con vào nhà chuẩn bị sách vở đi, kẻo thằng Thệ gọi lại không kịp.

Khi thằng Thệ gọi thì bố đã bắt đầu đào, đào từ trong đào ra. Dưới ánh mặt trời buổi sáng, những giọt mồ hôi vừa rịn trên lưng bố lóng lánh như những hạt cườm.

Suốt buổi học đó Hải Phạm chỉ nghĩ về cái giếng.

Trên xóm Làng có cái giếng chung, to như cái ao, hình chữ nhật, gần ngay đình làng, người gánh quẩy đôi thùng, lội xuống, vục hai thùng nước đầy, rồi gánh về. Ở xóm Rậm có cái giếng nhà ông Tý ngày xưa đi lính không biết đã lên đến chức đội chưa, nhưng dân làng gọi Vệ Tý, là loại giếng đá ong, ngay bên gốc nhãn ở đầu cổng, nước luôn đầy, trẻ chăn trâu có thể dùng nón múc lấy uống, nhưng nông, nếu múc nhiều thì cạn, phải chờ hôm sau mới đầy. Xóm Ngòi có giếng nhà ông Phó Đậu (ông này có chức Phó lí mua), nhưng không có mạch ngầm, chỉ có mạch ngang, nước không trong, nhạt. Nhiều nhà không có giếng, phải ki cóp mua gạch xây bể chứa nước mưa. Nhà Hải Phạm bố cũng xây một chiếc bể to chứa nước mưa, để dành dùng vào những dịp quan trọng, giỗ tết.

Buổi trưa học về, chiếc giếng đã được bố đào sâu vút đầu rồi, đất đào được cho vào cái sô, mẹ kéo lên đổ ra xa. Bố bảo, chắc phải đào sâu bẩy tám mét mới gặp mạch nước.

Đào hết lớp đất thịt bên trên, càng xuống sâu càng khó đào vì gặp đá, chỉ dùng được sà beng với xẻng cán ngắn. Bố phải đào cả đêm. Mẹ gọi thêm người cháu trai bên ngoại qua phụ giúp bố, bảo làm đêm cho mát. Đào đến ngày thứ năm, giếng sâu chừng bốn mét, mới được một nửa. Đào đến ngày thứ tám thì bố nói với mẹ, tôi nằm mơ thấy cam quýt vườn nhà ta đồng loạt trổ hoa trắng, có thể trời thương ngày mai thì gặp mạch, bà chuẩn bị sẵn hương hoa để làm lễ tạ ơn trời đất.

Buổi chiều hôm ấy, bố bảo mẹ cho chuyển những viên đá đen, to như chiếc đấu, nhẵn bóng bố đã chuẩn bị sẵn nơi góc nhà ra giếng để ghép đáy. Bố nói, ngửi thấy mùi nước rồi, rất thơm. Hôm sau, ngày thứ chín trùng ngày chủ nhật, đào đến chính ngọ thì gặp nước. Người anh họ ngoại của Hải Phạm reo to, cô ơi có nước rồi, mạnh lắm, phụt lên như giếng phun.

Bố nói chuyển hết đá và sỏi để bố làm đáy. Chiều thì xong, nước dâng cao đến ba bốn mét. Mẹ mừng ra mặt, luôn miệng nói ơn trời phật, nhờ hồng phúc của giòng họ. Bố thả chiếc gầu làm bằng mo cau, trên miệng có buộc một cục sắt cho dễ múc, lấy một bát loa nước để lên bàn thờ thắp hương cúng vái. Sau đó bố mẹ xây thành giếng cao chừng ngót mét, láng vữa nền giếng rộng rãi để ngăn nước bẩn ngấm vào giếng. Bố tặng người cháu ngoại một chiếc áo mới, hẹn ngày đẹp qua ăn cỗ khai giếng.

7.

Trùng hợp làm sao, ngày làm cỗ khai giếng cũng là ngày nhờ chính sách sửa sai, gia đình Hải Phạm được hạ thành phần xuống trung nông. Bắt đầu lễ khai giếng, bố và mẹ thay nhau múc cạn những khối nước đầu tiên, tưới cho vườn cây. Phải múc liên tục và múc rất lâu vì mạch nước khá mạnh. Đợi chừng một giờ đồng hồ, nước mới dâng đầy đến ngấn cũ. Gầu nước giếng sạch đầu tiên được múc lên, bố đem nấu pha trà. Đó là gầu nước giếng đánh dấu bước ngoặt của gia đình Hải Phạm.

Sau đó ít hôm, khác với thường lệ, Hải Phạm thức dậy sớm, khoác túi xuống bờ ngòi gọi Thệ. Vừa gặp mặt, Hải Phạm đã khoe, nhà tao mới đào giếng đấy, có mạch nước ngầm thích lắm nhé. Thệ tỏ ra dửng dưng, đáp nước ngầm với nước ngấm thì đã làm sao.

Nhà văn Hà Phạm Phú

 

Chương 11 – CHÂU ÂU

Ghi chú ảnh của ông Hải Phạm: Những người thợ nấu bia đã chưng cất nên hồn cốt Czech

1.

Năm 2009.

Lần đầu tiên ông Hải Phạm đi châu Âu, đích đến là thủ đô Praha, cộng hòa Czech. Quá cảnh Paris, Pháp. Nếu tính từ ngày tốt nghiệp Học viện kĩ thuật pháo binh Nam Kinh về nước thì đúng tròn bốn mươi năm. Ngót nửa thế kỉ, bây giờ ông mới có dịp tận mắt nhìn thấy nước Pháp, cái nước thực dân mà vì nó ông nội ông bị mất đầu, cha ông đã phải lăn lộn khắp vùng Tây Bắc, bất kể sống chết. Nước Pháp từ khi ông cắp sách đến trường đã được dạy dỗ, hun đúc lòng căm thù, quyết phanh thây uống máu. Nước Pháp bại trận, sau chiến thắng Điện Biên hiện nguyên hình với những đoàn tù bình, hàng binh dài bị dẫn giải qua quê ông, được tập họp cho xem phim tài liệu Chiến thắng Tây Bắc, được dạy hát bài hát về Tây Bắc mà quân Pháp là kẻ gây tội ác:

Loài bạo tàn bao năm tới đây

Gieo đau thương vợ lìa chồng

Con lìa cha, máu tuôn rơi và nước mắt hòa

Thù bấy lâu xót tình nước non

Người chốn đây kết đoàn sắt son

Ngày mai mong trông ta vững tin

Ngày mai có ngày rửa thù.

                                     (Đặng Đình Hưng)

 

Nước Pháp từ sau năm 1954, đến cái ngày mà ông sẽ tới thăm vẫn là nước Pháp cường quốc, nước nắm giữ ghế thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, nước Pháp của những Victor Hugo và Jean de La Fontaine. Nhưng theo thời đại, nước Pháp đã bước một bước dài hơn nửa thế kỉ.

Con trai thu xếp cho ông Hải Phạm một cuộc du hí bổ mắt. Thoạt tiên ông sẽ dừng lại ở Paris, có xe đón đi thẳng Dijon thăm cô em gái, quay trở lại Paris thăm thú một số nơi danh thắng rồi mới đi Praha. Bây giờ ông có một nửa gia đình ở châu Âu. Cuộc đời thật không thể ngờ, trí tưởng tượng của con người thật khó mà theo được.

Năm 1980, ông Hải Phạm có dịp trở lại Liên Xô sau 16 năm, với tư cách nhà báo đi viết về một sự kiện lịch sử: Chuyến bay quốc tế Xô- Việt, chuyến bay được Tố Hữu ngợi ca, (người Việt Nam) chân dép lốp bước lên tầu vũ trụ, mà nhân vật chính là một anh hùng rất đáng ngờ. Một chuyến bay nặng về ý nghĩa tuyên truyền, kinh phí hoàn toàn do Liên Xô bao cấp. Cũng dịp đó diễn ra Thế vận hội Mockva, một thế vận hội rất kém cạnh tranh vì người Mỹ tẩy chay không tham dự. Ngày đó ông nhìn Liên Xô để thấy tương lai của Việt Nam, mơ một hệ thống giao thông Hà Nội được như Mockva. Năm đó người ta nói, chẳng bao lâu sẽ giầu lên, mỗi gia đình đều có tivi, tủ lạnh, thật ngược đời, đó lại là hình ảnh của Sài Gòn ngày vừa được giải phóng.

Tuy nhiên đời sống của gia đình ông ở Hà Nội thì ngày càng tụt lùi, cuộc “cách mạng” giá- lương- tiền năm 1985 thất bại đã làm cho nền kinh tế hỗn loạn. Để tìm cách cứu vãn, Việt Nam kí kết hợp tác với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa một chương trình bán sức lao động nhằm đem về những triệu đồng rúp, curon, mác, leva, phorin… Ngày đó vợ ông và em gái đã gạt nước mắt, quyết tâm ra đi cứu nước cứu nhà, nhưng cũng phải vận động, xin xỏ, chạy vạy mãi mới được đi lọt vào đợt cuối năm 1989. Cả hai cùng đi Tiệp Khắc. Nhưng năm 1990 định mệnh, phe xã hội chủ nghĩa sụp đổ, những người mới đi tích cóp chưa được bao nhiêu chả lẽ trở về quê hương với hai bàn tay trắng. Thế là hai chị em quyết tâm bám trụ tìm thời cơ. Vợ ông ở lại Praha, em gái ông qua Đức rồi qua Pháp. Đất khách quê người, kiếm miếng ăn, kiếm đồng tiền gửi về giúp đỡ gia đình, khó nói hết những mồ hôi nước mắt. Nước Tiệp Khắc chia tách làm hai, cuộc sống ổn định, vợ ông đón các con sang. Rồi châu Âu hợp nhất, cái hiệp ước Schengen xóa bỏ biên giới đã tạo điều kiện cho ông chuyến đi này.

Chuyến bay của Vietnam Airline đi Paris cất cánh lúc 11h30 đêm. Nhân viên làm thủ tục vé là một cô gái xinh đẹp, nền nếp dịu dàng hỏi, chú thích ngồi ghế nào? Ông Hải Phạm đáp, xin cô cho tôi ghế ngồi cạnh lối đi. Cô lại hỏi, thế chú không thích ngồi bên cửa sổ à? Không, tôi lớn tuổi rồi, thận yếu hay phải đi… Ông Hải Phạm bỏ lửng không nói tiếp. Cô gái nhìn ông cười, ra ý bảo, cháu hiểu rồi.

Lên máy bay, ông Hải Phạm được xếp ngồi bên một phụ nữ da đen to lớn, ước chừng phải trên một tạ cân nặng, ngồi trong cùng cạnh cửa sổ là một người đàn ông da trắng, so với người phụ nữ thì coi như vào loại thấp bé nhẹ cân. Có vẻ họ là một cặp vợ chồng. Chợt nhớ đến chuyến bay đầu tiên mà ông Hải Phạm được bay vào năm 1980 đi Mockva. Ngày đó máy bay  của hãng Aerophlot của Liên Xô phải bay vòng qua đường Pakixtan, phải dừng lại sân bay Nước Mặn ở Trung Á tiếp dầu. Đó là lần đầu tiên ông Hải Phạm được đi máy bay. Tại buổi họp đoàn trước khi lên đường, ông hỏi kinh nghiệm đi máy bay của một phóng viên nhiếp ảnh mà ông quen biết. Nhà nhiếp ảnh này thường được tháp tùng các lãnh đạo cao cấp đi đây đi đó. Ông ta nói, đi máy bay sợ nhất lúc cất cánh và hạ cánh, vì đòi hỏi kĩ thuật cao, nếu phi công gặp phải trục trặc tâm lí chả hạn hoặc sai lầm về kĩ thuật, thì rất nguy hiểm. Bẩy tám mươi phần trăm các vụ tai nạn máy bay đều xẩy ra vào lúc hạ cánh. Tiếp thêm nữa là sự thay đổi áp suất đột ngột, rất dễ bị nôn mửa, nên chuẩn bị sẵn túi nilon, chuẩn bị ít bông nút tai.

Nhà nhiếp ảnh nói đúng. Suốt chuyến bay đó, Hải Phạm cảm thấy vô cùng mệt mỏi. Nhiều lúc ông đã tự hỏi, sao ngày xưa người ta lại tuyển ông trúng vào không quân nhỉ? Ngày đó ngồi vào chiếc ghế quay, quay xong đứng lên Hải Phạm không hề thấy chóng mặt cơ mà. Sau này bay nhiều, Hải Phạm lại thấy thích thú chứ không còn lo sợ nữa.

Sau hơn mười một tiếng xuyên qua các châu lục và đại dương, chuyến bay thẳng Hà Nội- Paris hạ cánh xuống sân bay Quốc tế Charles de Gaulle, còn gọi là sân bay Roissy, sân bay quốc tế lớn nhất nước Pháp. Nghe nói đây là một trong các sân bay hàng đầu của châu Âu, nằm cách thủ đô Paris 25 km về phía đông bắc. Để xây dựng sân bay này, người Pháp phải đổ công sức 10 năm.

Ông Hải Phạm không biết tiếng Pháp, tiếng Anh thì cũng quên nhiều, nhưng chẳng sao, cứ theo dòng người đi ra, xếp hàng chờ làm thủ tục nhập cảnh vào Pháp. Viên chức nhà nước Pháp là một người da màu, nhanh chóng cộp dấu cho ông đi qua. Ông Hải Phạm bật điện thoại, nhận được một tin nhắn bằng tiếng Việt không dấu: Anh Hai Pham, em mang bien chu Hai Pham, cho o cua ra so 3.

Ông Hải Phạm tìm ngay được cửa số 3. Cầm biển chờ ông là một người phụ nữ Việt, nói giọng miền Nam. Cô tự giới thiệu tên là Nam, em kết nghĩa với em gái ông, hỏi thăm sức khỏe, nói sẽ đi về Dijon luôn. Sân bay Charles de Gaulle có kiến trúc hiện đại, khách đến và đi nườm nượp, chen hơn nêm cối. Nam giúp ông kéo va li đi bộ một đoạn đến chỗ xe ô tô đang chờ. Cô chỉ người đàn ông châu Á đang bước đến nói, Sốc Khươn người Campuchia, chồng em. Sốc Khươn cúi đầu chào ông Hải Phạm, mở cốp xe xếp đồ lên, nói gì đó với Nam. Cô nhìn ông, nói Sốc Khươn muốn mời anh đi ăn, rồi lên đường. Ông bảo, vừa ăn trên máy bay, đi luôn cũng được. Sốc Khươn không nói gì, chỉ cười rồi leo lên xe nổ máy.

2.

Xin visa vào Czech là một kì công. Cách đấy mấy năm, con trai ông đã gửi giấy mời, nhưng ông bỏ vì không đủ kiên trì xếp hàng phỏng vấn xin visa.

Sứ quán Cộng hòa Czech nằm trên đường Chu Văn An đối diện với bênh viện Xanh Pôn (Saint Paul), thành phố Hà Nội, vào ngày có lịch xếp hàng nộp hồ sơ phỏng vấn, đông đặc người Việt. Rất nhiều người từ tỉnh lên, người xếp hàng thuê, người nhà thay phiên nhau…cứ thế chen lấn. Mà phải xếp hàng từ ba giờ sáng. Những con người nhầu nhĩ, mệt mỏi ngong ngóng chờ đợi đến giờ mở cửa vào phòng lãnh sự. Sáng ra, xuất hiện cảnh sát, trật tự phường, loa tay vang vang yêu cầu trật tự. Oải, rất oải. Mỗi buổi sáng chỉ có thể nhận hồ sơ phỏng vấn được ba, bốn chục người, còn lại phải chờ đến tuần sau. Có người xếp hàng bốn tuần vẫn không vào được. Do không đủ sức kiên trì, ông Hải Phạm gọi điện cho con trai, năm nào con cũng về thăm, thế được rồi, bố rất không thích kiểu xin visa như thế này. Anh con an ủi, cũng được để năm sau con lo kiểu khác vậy.

Năm nay, con trai lại gửi giấy mời, thêm một số điện thoại, bảo bố chuẩn bị hồ sơ rồi gọi điện thoại cho số kèm theo đó, người ta sẽ lo cho bố. Xưa nay ông Hải Phạm việc gì cũng tự mình làm, nhiều khó khăn trục trặc đều vượt được qua, dù sao ở trong nước ông cũng có một chút tên tuổi. Với nước ngoài thì thứ ông có là cái đinh gỉ gì. Thực tâm ông cũng muốn qua châu Âu thăm vợ con, cũng muốn coi xem tại sao người châu Âu lại thù ghét cộng sản đến vậy, thành trì xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, khối quân sự mạnh như khối Wazsawa mà đổ cái rụp. Đổ hoàn toàn.

Ngập ngừng mãi ông Hải Phạm mới cầm điện thoại dò bấm từng số con trai ông gửi cho. Đầu bên kia vang lên một giọng trẻ trung, vâng tôi nghe ạ. Ông Hải Phạm nghĩ, gã này có vẻ dễ chịu, bèn nói lí do của mình, hẹn thời gian và địa điểm gặp. Gã trai bên kia nói, chú đến quán cà phê Trần Phú, điện cháu sẽ ra ngay. Nhà cháu ở khu tập thể gần đấy mà.

Ông Hải Phạm đến trước giờ hẹn, chọn một cái bàn ở chỗ khuất, rồi bấm số điện thoại. Cô bé phục vụ tay cầm sổ, tay cầm bút đến bên, thưa chú đi mấy người, chú uống gì, cà phê số mấy? Ông bảo cho đen đá không đường, tôi chờ một người khách. Cô phục vụ đi rồi, lát sau bưng ra li cà phê và cốc đá viên. Không hiểu sao ông Hải Phạm lại liên tưởng đến những cuộc hẹn hò trai gái, ngồi khuấy cà phê và tán chuyện hàng giờ.

Khoảng mươi phút sau thì người mà ông Hải Phạm hẹn xuất hiện. Đó là một thanh niên vạm vỡ. Anh ta chào cô nhân viên như một người quen biết từ lâu, rồi đi thẳng về phía ông. Chào chú, cháu nhận ra chú ngay, đúng như con trai chú mô tả. Chú có mang hồ sơ theo không, cho cháu xem. Sau đó anh ta nói, OK chú ạ. Ông Hải Phạm thấy yên tâm, bèn bắt chuyện. Cháu ở Czech bao lâu, biết con trai chú à? Bố cháu làm nghề ngoại giao, cháu đẻ ở Nga nhưng lớn lên ở Czech, bọn ở lãnh sự quán đều là bạn cháu. Cháu biết con trai chú qua điện thoại, do một người ở Ban công tác cộng đồng giới thiệu. Ông Hải Phạm rất muốn biết về hoạt động của mạng lưới dịch vụ này, nhưng không tiện hỏi thẳng, định bụng sẽ tìm hiểu dần.

Rất nhiều việc không thể đi đường thẳng mà đạt được kết quả. Trước đây việc xin visa vào Czech, vào Đức hay Mỹ đều có những zích zắc, may càng về sau càng minh bạch hơn. Ông nghĩ, đã đến lúc kết thúc câu chuyện bèn nói, vụ này thù lao cho các cháu là bao nhiêu? Chàng thanh niên đưa bàn tay ra ý chặn lại, bác không phải nghĩ ngợi, việc này con trai bác lo. Có điều cháu dặn bác, hôm tới bác phải có mặt ở Chu Văn An lúc 5 giờ sáng, cậu nhân viên của cháu sẽ hướng dẫn bác cụ thể. Thôi cháu về trước có việc. Nói rồi anh ta bước nhanh ra khỏi quán, nhẩy lên chiếc SH nổ máy phóng đi.

Như hẹn, buổi sáng năm giờ ông Hải Phạm có mặt ở phố Chu Văn An, đã có người chờ gặp. Anh ta trao lại bộ hồ sơ giấy mời của ông, nói chúng cháu đã đưa ông vào danh sách xếp hàng, ông xếp thứ ba nhé. Cháu dặn thêm, nếu có ai hỏi thì ông nói, ông già nên người nhà đi xếp thay. Năm giờ sáng nhưng trời còn tối, người tới phỏng vấn mỗi lúc một đông, ông Hải Phạm hỏi, biết đều là đi thăm thân. Sáu giờ sáng, một chiếc xe ô tô của công an phường, trên có bắc loa chạy đến. Mấy cảnh sát mặc sắc phục cùng các dân phòng từ trên xe nhẩy xuống, hướng dẫn mọi người chuyển sang bên hè đối diện. Phía vỉa hè bên sứ quán Czech, các dân phòng dùng cự mã ngăn thành hàng. Loa cảnh sát nhắc nhở, mọi người sẽ được gọi tên theo danh sách ghi trước, ai có tên thì trình hộ chiếu rồi qua xếp hàng phía sứ quán, bên trong cự mã. Đúng như người thanh niên nói, ông Hải Phạm có tên xếp thứ ba trong danh sách. Trước ông là hai ông già từ dưới Thái Bình lên, xin visa đi thăm con.

Theo lịch, 8 giờ sáng lãnh sự quán mới mở cửa. Nhưng đến giờ đó thì xuất hiện một đoàn mấy chục người, nghe nói của Bộ NN&PTNT đến. Những người đi thăm thân phải nhường để họ vào trước vì họ đi theo công vụ. Đến khoảng 10 giờ trưa nhóm ông Hải Phạm mới vào được. Mặt trời lên cao, nắng chói chang. Nóng. Còn bao nhiêu người xếp hàng ở ngoài chờ đợi và hi vọng. Xin vào nước người ta mình đâu có quyền, cho hay không là hoàn toàn do phía họ.

Ít ngày sau, thi thoảng ông Hải Phạm lại lướt qua cổng sứ quán coi thông báo xem đã có visa chưa. Thật lòng, vì lần đầu tiên xin visa đi Czech nên ông không khỏi hồi hộp. Trượt ngay từ khâu phỏng vấn thì đi một nhẽ. Đàng này hồ sơ của ông đã gửi sang tận Bruxelles, trụ sở chính của các cơ quan Liên minh Châu Âu, nếu bị cộp dấu từ chối nhập cảnh thì chắc chắn là sau khó mà xin visa đi các nước khác trong khối này lắm.

Cuối cùng thì ông Hải Phạm cũng nhận được visa. Nếu không có đoạn khó khăn xếp hàng phỏng vấn thì có thể xem chuyến đi thuận lợi.

3.

Chiếc xe Mercedes bẩy chỗ ngồi của vợ chồng Nam đưa ông Hải Phạm rời Paris lên đường cao tốc Paris- Lyon hướng về thành phố Dijon. Nghe em gái kể, hai vợ chồng Nam làm nghề lái xe taxi kiêm hướng dẫn viên du lịch. Dọc đường đi hoặc khi rẽ vào trạm nghỉ, người chồng nói bằng tiếng Pháp, cô vợ dịch ra tiếng Việt cho ông Hải Phạm nghe.

Do thói quen nghề nghiệp, mỗi khi đến một thành phố hoặc một vùng đất xa lạ nào đó ông Hải Phạm đều cố gắng thu thập tư liệu liên quan, thành thử chỉ cần nghe hướng dẫn viên nói qua là ông hiểu liền.

Thành phố Dijon cách Paris hơn 300 km về phía Đông Nam, là thủ phủ vùng Bourgogne, thuộc tỉnh Côte d’Or, quê hương của thi hào Alphonse- Marie Prat de Lamartine (1790- 1860) và của kỹ sư lừng danh Gustave Eiffel (1832-1923), hai cái tên mà ông vô cùng quen thuộc. Dijon với tổng số dân hơn 15 vạn, là một thành phố thanh bình, nên thơ. Ông biết Dijon là vùng có khí hậu lạnh. Ngày trẻ khi bắt đầu học đòi viết lách, ông Hải Phạm đã từng mơ ước viết sách cho thiếu nhi, vì thế tác phẩm  Không gia đình của Hector Malo được xem như một cuốn cẩm nang, ông đọc không chỉ một lần. Nhân vật Vitali,  chủ gánh hát rong của cậu bé Rémi đã bị chết rét ở gần Dijon, do gặp bão tuyết.

Con đường cao tốc chạy qua thảo nguyên đặc sánh hình ảnh châu Âu, đồng cỏ thảo nguyên với những chòm cây xanh, những mái nhà ngói cũ kĩ nhô cao cùng đàn bò gặm cỏ êm đềm. Đôi lúc hiện lên những cánh đồng nho, bóng dáng xa xa những thành phố hiện đại.

Đường cao tốc thật tốt, xe chạy giữ đều tốc độ 130 km/h. Nhớ lại chuyến đi Mockva 1980, ông Hải Phạm lại ao ước, bao giờ thì quê hương ông có được hệ thống đường cao tốc như nước Pháp.

Trong cuộc chiến tranh với Pháp và Mỹ, ông Hải Phạm được giáo dục, Mỹ là xấu, Pháp là độc ác. Nhưng thực ra văn hóa Pháp đã ảnh hưởng rất nhiều đến thế hệ cha anh ông. Thế hệ các nhà thơ mới, thế hệ các nhà văn Tự lực văn đoàn trong những sáng tác của họ, ông có thể đọc thấy dấu vết của văn hóa Pháp. Cũng như các bậc tiền bối xưa, những Nguyễn Trãi, Nguyễn Du cũng hút mật từ những bông hoa văn hóa Trung Hoa.

Nhớ lại những ngày còn cắp sách đến trường, đám học sinh đầy đầu óc lãng mạn đã chép chuyền tay nhau thơ tình Xuân Diệu, Huy Cận. Sau này, khi có điều kiện đọc mở mang, ông Hải Phạm đoan chắc ông vua thơ tình quê Nghệ Tĩnh Xuân Diệu là tín đồ của Alphonse- Marie Prat de Lamartine.

Những ngày đầu tiên làm khách của Dijon, dạo bước trên những con đường rừng quanh quất, thả mình trên thảm cỏ ngắm mặt hồ nhẹ nhàng xao động, ông Hải Phạm không thể không liên tưởng đến câu chuyện tình buồn bã của Lamartine với cô Julie Charles. Cái chết của người yêu đã làm tan nát trái tim, nhưng cũng ngưng kết tình cảm của nhà thơ. Chắc hẳn tập thơ Trầm tư của ông đã tạo nên tiếng sét cảm hứng của Xuân Diệu. Ông Hải Phạm còn nhớ một vài đoạn thơ trong tập thơ nổi tiếng ấy của Lamartine, chỉ có điều lâu ngày không nhớ rõ ai dịch:

Khi lá rừng rơi trên đồng cỏ

Gió chiều lên, cuốn lá khỏi lòng thung

Còn ta đây, như lá úa còn vương

Hỡi giông tố, cuốn ta bay như lá!

                                                            (Cô đơn)      

…Tôi bảo đêm đen “Hãy chầm chậm lại thôi!”

Kẻo bình minh sẽ xoá bóng bên trời.

Vậy, hãy yêu! hãy yêu! với phút giờ vội vã.

Hãy tận hưởng! Mau đi! Đừng nấn ná!”

                                                            (Bên hồ)

 

4.

Vợ chồng em gái ông Hải Phạm sống trong một căn hộ xinh xắn trên tầng 16 của một chung cư khá gần trung tâm thành phố. Nam đưa ông Hải Phạm lên nhà, uống vội chén trà nóng, rồi xin phép trở về Paris liền. Cô em gái tỏ ra rất vui, cười nói luôn miệng, em đã bảo rồi, đến đây anh sẽ thấy thích, người dân Dijon nom bề ngoài lành lạnh, nhưng rất dễ gần. Ông Hải Phạm nhìn người em rể tuổi xấp xỉ mình, hỏi chú ở Pháp lâu có chơi với người bạn Pháp nào không? Người em rể hơi ngượng, không anh ạ, em tiếng Pháp kém lắm, giao thiệp biết nói chuyện gì. Người em gái đỡ lời, anh ấy không chịu học. Khi mới sang Pháp, em một chữ bẻ đôi chả biết, giờ đọc được báo rồi, những chuyện liên quan đến chính quyền anh ấy toàn đẩy em đi. Chữa ngượng cho người em rể, ông Hải Phạm nói, cái thứ ngoại ngữ này phải có năng khiếu, có người học cùng anh ở Trung Quốc bốn năm năm, nhưng giao tiếp là ú ớ. Anh muốn nói với cô chú, sống trên đất nước người thì phải hiểu văn hóa nước người, thế mới hòa nhập được.

Người em rể đứng dậy đưa đồ của ông Hải Phạm vào cái phòng có cửa sổ nhìn ra cánh rừng, nói đây là phòng của vợ chồng em, em dọn sạch sẽ rồi, để anh dùng. Chúng em ở phòng nhỏ hơn. Ông Hải Phạm nói, cô chú khách sáo, người nhà thế nào cũng được, anh nghỉ ở phòng khách chả tốt chán. Cô em gạt đi, đêm nằm năm ở, anh từ nhà sang, cứ phải đàng hoàng. Rồi cô chuyển ngay sang đề tài khác. Cô nói, hôm nay em làm đãi anh một bữa bánh cuốn đặc biệt. Cô nói, ngày đầu sang Tiệp em làm thợ, đúng nghề của mình, nhận lương theo năng suất. Nước Tiệp chia đôi, nước Đức thống nhất, em sang Đức. Từ Teplice, thành phố biên giới Tiệp sang Dresden rất gần, rồi đi Berlin thử buôn thuốc lá. Những ông trùm thuốc lá sau này đều thành đại gia, đem tiền bẩn về nước rửa, thành Việt kiều yêu nước. Ngày đó như anh biết đấy, em đã tính về Việt Nam nhưng rồi gặp nhà em bảo lãnh sang Pháp. Nước Pháp dung nạp một nền văn hóa đa sắc tộc, xã hội ổn định, an sinh xã hội ngang ngửa với Đức. Từ ngày qua đây, em chủ yếu đi làm cho mấy nhà hàng, lúc thì chủ người Lào, lúc thì chủ người Tầu, nhưng toàn làm các món ăn Việt, món nem cuốn hay như món bánh cuốn, Tây họ rất thích ăn.

Em gái ông Hải Phạm là một người con hiếu thảo, luôn hết lòng với cha mẹ, anh em. Ngày cha mẹ còn sống, năm nào cô cũng về thăm, chăm nom cha mẹ vài tháng trời rồi mới đi. Bây giờ tuổi cô cũng lớn rồi, lại có bệnh nên nghỉ không đi làm nhà hàng nữa, đang chờ hưu trí.

Sáng sau, vợ chồng cô em gái dẫn ông Hải Phạm đi thăm thành phố. Họ đi qua mấy dẫy phố cổ, nhà thờ cổ đến quảng trường trung tâm. Cô em nói, đây là Quảng trường giải phóng (Place de la libération) nơi đóng tòa thị chính, trước kia thuộc Lâu đài của các công tước vùng Bourgogne. Nghe nói tòa lâu đài này được xây dựng năm 1365. Ngày chúng em quyết định về ở với nhau đã đến đây làm thủ tục đăng kí kết hôn. Đối diện với Tòa thị chính là Đài phun nước được thiết kế theo cách riêng, giống như một hàng cây nhỏ tung bọt trắng lấp lánh dưới ánh nắng lộng lẫy, làm nên sự hư ảo, huyền bí riêng cho tòa nhà cổ.

Khắp nơi ở khu vực trung tâm thành phố, chỗ nào cũng treo cờ, nom giống quang cảnh lễ hội. Ông Hải Phạm nói đùa, thành phố Việt Trì quê mình được mệnh danh là thành phố lễ hội mà chả thấy treo cờ thế này hay người Pháp gọi Dijon là thành phố lễ hội. Người em rể nghe lạ tai cứ hỏi đi hỏi lại, anh nói cái gì, anh nói cái gì.

Ông Hải Phạm nhớ, khi vào lính em gái anh còn nhỏ. Cô học hết lớp bẩy rồi vào học ở trường trung cấp hóa chất Lâm Thao. Tốt nghiệp, cả lớp cô về nhà máy sơn tổng hợp Hà Nội ở Ngã tư Ô Chợ Dừa, sau chuyển về Cầu Bươu. Cô đi lao động xuất khẩu cùng dịp với vợ ông. Năm 1990 cô viết thư cho ông, nói đang cân nhắc tình hình, có thể sẽ về nước. Nhưng rồi cô không về mà chuyển qua Pháp. Cuộc gặp gỡ với người chồng bây giờ đã quyết định số phận của cô.

Cô kể, ngày đó ở Đức người ta kiếm tiền sao dễ thế. Các đại gia người Việt đều xuất thân từ buôn lậu thuốc lá. Một người bạn cô vốn là sĩ quan quân đội đã từng học ở Nga, qua Đức làm đội trưởng, tình cờ gặp lại tay bạn học người Nga ở Berlin, khi đó là đại tá chỉ huy một trung đoàn quân đội Liên Xô đồn trú. Tay đại tá Nga thầu toàn bộ số thuốc lá chính quyền cung cấp cho trung đoàn rồi tuồn cho anh ta. Anh ta nuôi một đám lâu la phân phối những lô thuốc lá đó. Tiền vào như nước. Anh ta kể, có lúc tiền đổ đầy phòng, không đếm xuể. Tiền đó anh ta dùng mua nhà, mua đất, đầu tư mở công ty ở Việt Nam, danh nổi như cồn. Khi rời Việt Nam đi lao động xuất khẩu, anh ta mang lon thiếu tá, nhưng ở quê nhà hay ở Berlin anh ta được mọi người tôn lên là Soái. Anh xem trong quân đội mấy người được phong hàm soái?

Tích lũy tư bản hỗn mang, ông Hải Phạm nói. Thế giờ anh bạn em ra sao, có khi trở thành nhà chính trị cũng nên, nhỉ? Không anh ạ, em gái đáp. Người Việt sang Đức buôn lậu thuốc lá xây dựng một đế chế ngầm. Nếu anh đọc báo thì biết hai vụ thanh toán đẫm máu nhất nước Đức nhằm tranh giành ngôi vương. Một vụ dùng AK47 bắn chết cả chục người trong một căn hộ ở Berlin và vụ trả thù cũng tàn bạo không kém, không dùng vũ khí gây tiếng nổ, chỉ dùng rìu chém. Hoạt động trắng trợn của Mafia người Việt buộc cảnh sát Đức phải chú ý. Không, người bạn em không dính gì đến những vụ ân oán đẫm máu đó. Anh ta bị lừa một cú sạt nghiệp.

Ông Hải Phạm thốt lên, câu chuyện của em đủ viết một cuốn tiểu thuyết rồi. Chuyện em kể dông dài, bì sao được với các anh. Hai người bạn cùng học một trường quân sự ở Nga, dựa vào nhau làm ăn, ví tiền mỗi ngày một phình to, ngoắc tay với nhau, khi nào quân đội Liên Xô còn chưa rời khỏi nước Đức thì họ còn gắn với nhau. Một hôm viên đại tá Nga điện thoại tới nói, bồ ạ, có một vụ lớn, nhưng phải nộp tiền trước, lượng tiền không nhỏ, chả biết bồ có lo được không? Cũng vẫn hàng cũ thôi, nhưng do hoàn cảnh đặc biệt, số lượng tăng lên gấp ba. Nghe nói số lượng tăng lên gấp ba thì lợi nhuận cũng tăng lên ít nhất là gấp ba, khiến viên cựu thiếu tá tối mắt, bèn đồng ý. Ngoài số tiền sẵn có, anh bạn huy động thêm tiền mặt của các đàn em và người quen, đúng 5 giờ chiều giao tiền tại một địa điểm bí mật, hẹn 7 giờ sáng hôm sau nhận hàng. Đúng giờ, các đối tác Việt Nam đến bên cánh rừng bạch dương đợi nhận hàng. Mười lăm rồi ba mươi phút trôi qua, phía Nga vẫn bặt vô âm tín. Gọi điện thoại phía bên kia không bắt máy. Anh bạn biết có chuyện chẳng lành, dặn dò đàn em mấy câu rồi lên xe phóng thẳng đến nơi trung đoàn của viên đại tá Nga đồn trú. Những lần trước đi qua, doanh trại của lính Nga lúc nào cũng nhộn nhịp, giờ im ắng hoang lạnh, trạm lính gác oai nghiêm khi nào không còn nữa.

Quân đội Nga đã rút khỏi nước Đức, viên đại tá đã cuỗm toàn bộ gia tài của anh bạn mang theo. Người bạn tưởng bị giáng một côn sắt vào đầu, suýt ngất xỉu. Sau trấn tĩnh lại, anh bạn nói, vụ này anh trắng tay rồi, nhưng anh hứa sẽ trả hết nợ cho các em.

Ông Hải Phạm nhìn mái tóc em gái đã bạc trắng, hiểu cuộc đời của em không phải thuận buồm xuôi gió. Ông nói, anh thấy sống ở Pháp hợp tạng em hơn. Đất nước Pháp thanh bình, người Pháp chấp nhận văn hóa đa sắc tộc.

Ông Hải Phạm có một thời gian sống ở Sài Gòn, cuối những năm 1970, tận trong Gò Vấp, cư xá Lam Sơn. Ngày đó thi thoảng ông có được in thơ trên báo Khăn quàng đỏ nên hay ra nhà bưu điện trung tâm thành phố mua báo. Ấn tượng đầu tiên đối với ông là vẻ dáng cổ kính nhưng vẫn rất hiện đại, rất Tây của tòa kiến trúc. Người ta nói đó là tác phẩm của Gustave Eiffel, tác phẩm anh em với tháp Eiffel nổi tiếng ở Paris. Dijon là quê hương của người kĩ sư tài năng này, nhưng thật kì lạ, những kiến trúc đặc sắc ở đây đều không phải do ông thiết kế, ngoài một ngôi chợ. Dấu ấn của Gustave Eiffel để lại khắp thế giới, ở châu Âu, châu Mỹ, châu Á, nhưng ở quê hương ông chỉ là một cậu bé con.

5.

Libusska là con đường quen thuộc đối với trên ba ngàn người Việt làm ăn sinh sống ở chợ Sapa, một con đường nhỏ nằm ở vùng ngoại biên quận 4 (Praha 4). Phường Viletni thuộc khu Pisnice, nơi gia đình ông Hải Phạm cùng một số người Việt và người Hoa cư ngụ, nằm bên trái đường hướng đi trung tâm thành phố, là cụm các toà nhà năm sáu tầng giản dị, với những khoảng lưu không rộng rãi thừa thãi cỏ và cây xanh, xe ô tô đỗ kín hai bên lối đi nội bộ.

Mất hơn nửa ngày để bay từ sân bay Charles de Gaulle, Paris đến Praha Czech. Con trai đưa tất cả các cháu ra đón ông nội ở sân bay quốc tế Ruzyně. Các cháu đều sinh ở Praha, nhưng đứa nào cũng nói sõi tiếng Việt. Trên đường về nhà, xe đầy ắp tiếng cười. Những ngày đầu mới đến, con ông đánh xe đưa đi thăm tất cả những nơi nổi tiếng nhất, đẹp nhất của thành phố. Vợ ông mở một bữa tiệc trên tầu thủy du ngoạn sông Vltava. Một hôm ông nói với con trai, các con bận việc cứ đi làm, bố sẽ tự đi. Con ông đưa cho ông một tấm bản đồ các tuyến tầu điện ngầm của thành phố, nói muốn đi lên trung tâm Praha, bố phải đón xe buyt số 113 ở bến U Libus hoặc Libus hoặc mấy ga gần đó. Xe chạy khoảng hai lăm phút thì đến ga cuối Kacerov, rồi chuyển đi tầu điện ngầm đến ga Bảo tàng quốc gia, trung tâm thành phố. Ông bảo yên tâm, bố không bị lạc đâu.

Đi lại trong thành phố Praha thật thuận tiện. Ông Hải Phạm được con mua cho một tấm vé tháng có giá 550 curon dùng để đi tất cả các loại phương tiện công cộng: xe buyt, xe điện ngầm và tramvai (xe điện chạy trên mặt đất). Trên các loại xe công cộng này không có người chuyên bán vé. Hành khách có thể mua ở các máy tự động dưới bến, hoặc lên xe buýt thì mua ở chỗ lái xe. Hành khách mua vé xong tự cắm vào máy để chứng thực giờ đi. Mua vé 16 curon được đi trong vòng 30 phút, 30 curon có giá trị trong vòng 2 giờ, 100 curon có giá trị trong 24 giờ… Trên xe cũng không có người soát vé, nhưng con ông nói người ta thường kiểm tra đột xuất, lậu vé bị phạt rất nặng.

Những lúc không đi vào trung tâm thành phố, ông Hải Phạm đi sang chợ Sa Pa, phải vượt qua con lộ Libusska. Đó là một con lộ không lớn, rộng chỉ cho hai làn xe ô tô xuôi ngược, nhưng lúc nào cũng nhộn nhịp, vì thế muốn đi sang đường phải hết sức cẩn thận.

Ông Hải Phạm luôn có một nỗi sợ thường trực là đi sang đường. Đi ngang những con đường châu Âu, xe cộ như mắc cửi, nên ông thấy ngại. Cách đây không lâu, một nhà thơ bạn ông ở trung tâm Hà Nội, đi tập thể dục buổi sáng, đi  sang đường ở khu phố cổ, bị xe máy húc ngã, chấn thương đầu, may mà nhẹ nên hồi phục được. Nhà thơ nghe dân phố kể lại, chị bị hai cô gái đi xe máy phóng nhanh, húc tung lên khỏi mặt đất, ngã xuống bất tỉnh nhân sự, đâu độ 15 phút, nhưng hai cô gái bỏ mặc, phóng chạy thẳng. Trước đấy, chồng của một nhà báo, khuya thèm thuốc xuống đường qua bên kia mua bao thuốc lá, bị một cậu choai choai đi xe máy húc ngã, đưa vào bệnh viện cấp cứu thì mất. Nỗi sợ ấy lại càng được gia cố thêm khi giáo sư- viện sĩ Nguyễn Văn Đạo bị xe máy đâm, chấn thương sọ não chết, và ít ngày sau đó một giáo sư toán học người Mỹ đi sang đường cũng bị xe máy đâm bất tỉnh nhân sự đến nỗi người nhà đưa ông về Mỹ, ông vẫn nằm thiêm thiếp chẳng biết trên đời đã có thêm bao nhiêu bài toán không tìm được lời giải. (Không hiểu sao, phần lớn những tai nạn kiểu như trên đều là do xe máy? Xe máy cũng thải ra đến trên 80% khí thải ô nhiễm trong thành phố!). Hàng ngày nhan nhản những tin tai nạn giao thông, cứ nghĩ là thấy khiếp, vì tai nạn đâu có chừa ai…

Thực ra, đi sang đường chỉ là một vấn đề của vấn đề giao thông Việt Nam. Nhưng nó lại là tấm gương phản ánh xã hội Việt. Tham gia giao thông ở Việt Nam luôn ngay ngáy nỗi lo, không chỉ là nỗi lo của người đi bộ, mà còn là nỗi lo của người lái ô tô, ngồi ô tô, đi môtô, đi xe đạp. Những thứ liên quan đến giao thông là những thứ liên quan đến chiến lược phát triển của đất nước. Thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh tắc đường kinh niên, tắc đường giờ cao điểm, tắc đường ngày khai trường, tắc đường vì ngập lụt, tắc đường vì lễ hội. Tắc đường ở các trạm thu phí. Tắc đường vì một đàn bò đi vào phố…Triền miên. Nhưng nỗi lo lâu dài là nỗi lo ô nhiễm. Nỗi lo thường ngày là nỗi lo tai nạn. Nỗi lo cứ ám ảnh, lẵng nhẵng bám theo, bao giờ mới nguôi.

Người ta sinh ra đâu chỉ ru rú ở quê. Khi nền văn minh phát triển thì đi lại, dịch chuyển rõ ràng là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Cái thời ở rừng mơ có một con đường rộng thì cũng chỉ mơ rộng đến tám thước, vì chưng tám thước đã quá ư thênh thang, như ông nhà thơ Tố Hữu đã viết. Tám thước giờ chỉ là con đường làng. Ông Hải Phạm vừa trải nghiệm đường cao tốc Pari- Lyon của nước Pháp, vượt ba trăm cây số không gian, kể cả nghỉ ngơi mất chừng 3 giờ đồng hồ.

Đường cao tốc. Nước Pháp có hệ thống đường cao tốc khoảng 7000 km, gọi là autoroute, hạn chế tốc độ tối đa là 81mph (khoảng 130km/h). Cảm giác ngồi xe chạy trên đường cao tốc như trôi trên dòng sông ánh sáng rực rỡ, rất phấn khích. Cộng hoà Czech là một đất nước nhỏ, rộng 78 866 km2, có mạng đường cao tốc xấp xỉ nước Pháp 6174 km. Mạng đường cao tốc ở CHLB Đức thuộc loại dài nhất châu Âu, hệ thống Autobahn của Đức dài 11 980 km. Từ Praha qua Berlin xe chỉ chạy mất 6 giờ đồng hồ.

Xe chạy trên đường cao tốc thường lúc nào cũng giữ tốc độ ở khoảng 130- 140 km/h, hầu như không có ách tắc. Đường cao tốc phần lớn chạy qua rừng, qua những cánh đồng, hai bên được rào bằng dây kẽm gai để ngăn người hoặc thú chạy qua, có những cửa khẩu để xe rẽ đi tuyến khác hoặc nhập vào, hoàn toàn không có giao cắt đồng mức. Xe chạy trên đường cao tốc không được dừng lại một cách tuỳ tiện như ở Việt Nam, thích dừng giải quyết “nỗi buồn” ở đâu thì dừng, phải dừng ở trạm nghỉ. Lái xe ở châu Âu luôn tuân thủ luật, đi theo đúng làn đường chỉ dẫn, sẵn sàng nhường đường cho xe có tốc độ cao hơn.

Lẽ dĩ nhiên giao thông ở châu Âu cũng vẫn xẩy ra ùn tắc và tai nạn. Giờ cao điểm đi ra hoặc vào thành phố Praha thường ùn tắc vì có rất nhiều xe tải và xe congtenơ. Nhưng không có chuyện ô tô chen lấn. Tai nạn thì ở đâu cũng khó tránh khỏi, chỉ có thể khống chế. Chẳng hạn 296 chiếc xe ô tô đụng nhau trên đường cao tốc ở Đức hồi tháng 6 năm 2009, hay các vụ tai nạn ô tô của công nương Điana ở Pháp, của cầu thủ bóng đá C. Ronaldo ở Anh. Thống kê của cảnh sát CH Séc, trong các tháng 5 từ năm 2005 đến năm 2009 số người chết do tai nạn giao thông lần lượt là 89, 85, 73, 82 và 61. (Cùng thời gian đó, số người chết do tai nạn giao thông ở Việt Nam, tính trung bình năm khoảng 12.000 người.) Con số người bị chết do tai nạn giao thông ở Ba Lan trong năm 2007 là 4.900 người, năm 2008 có 4.800 người chết.

Ở nước đang phát triển như Việt Nam, do hệ thống đường xá lạc hậu, do hệ thống điều hành còn nhiều bất cập, do ý thức người tham gia giao thông kém, thì việc ùn tắc và tai nạn giao thông triền miên là điều hiển nhiên. Nhưng Việt Nam kiểu gì cũng phải tiến lên một xã hội phát triển, đường cao tốc phải nhiều, xe cá nhân phải lắm. Thống kê cho thấy ở Czech dân số cỡ trên 10 triệu người, số ô tô cá nhân là 4,5 triệu chiếc. Khoảng 450 xe/ 1000 người. Bồ Đào Nha là nước có tỉ lệ xe ô tô trên 1000 dân vào loại cao nhất thế giới: 773 xe. Con số đó ở Mỹ là 755, Lucxembourg- 727, Aixolen- 719, Italia- 666, Slovennia- 598, Pháp- 595… Theo số liệu của một nhà quản lí, năm 2007 ở Việt Nam số xe ô tô cá nhân trên 1000 người so với châu Âu là không đáng kể.

Ông Hải Phạm là một người mê tốc độ. Vì thế khi đọc các bài báo trình bầy chiến lược phát triển ngành ô tô rất hay ho của các nhà hoạch định chính sách Việt Nam, rồi đem so sánh với cách điều hành quản lí, với qui hoạch phát triển giao thông, chính sách thuế nhằm vào hạn chế phương tiện cá nhân, không nhằm tạo ra thị trường thì thoạt đầu ông cười ngất, sau thì đỏ mặt thốt ra miệng: đồ ngu!

6.

Một buổi chiều, vợ ông  ở chợ về sớm, nói ông đi bộ ra rừng với tôi, hôm nay các con tổ chức một bữa liên hoan ngoài trời, ăn thịt nướng. Đường qua rừng ngoằn ngoèo lượn theo triền núi và khe suối trong bóng rợp bạch dương, lên dốc xuống dốc được tráng bê tông, dành cho người đi bộ và đi xe đạp. Chốc chốc lại thấy những cặp vợ chồng Tây, lưng đeo ba lô, đội mũ bảo hiểm đạp xe vút qua. Gặp những người đi bộ, vợ ông vui vẻ nói:  Ahoj, ahoj! (Chào!). Đến một bãi cỏ rộng, bằng phẳng kề bên hồ nước thi thoảng vang lên tiếng cá quẫy, các con và cháu ông đã tụ tập đầy đủ ở đó. Chúng dựng bếp, đốt thứ than củi mua ở chợ, đem thịt đã tẩm ướp sẵn ra nướng.

Gia đình ông ở Praha bây giờ không phải là một gia đình nhỏ. Đầu những năm 1990, khi vợ ông đón anh con lớn sang là thời kì xã hội Czech vừa mới chuyển đổi thể chế chính trị, người Việt ở Czech cũng đang còn phân vân các lựa chọn giữa ở lại, đi nước khác hay trở về. Sau khi Václav Havel lên làm tổng thống, người Việt ở Czech được tạo điều kiện ổn định công ăn việc làm, vợ ông đã đón sang thêm con cháu họ hàng. Chúng qua làm ăn, trưởng thành lên, lập gia đình, sinh con đẻ cái. Mỗi lần vợ ông tập họp là chúng kéo đến đông chật căn phòng khách, trẻ con đùa nghịch luôn bị nhắc nhở sợ ảnh hưởng đến hàng xóm.

Lúc chiều muộn, trời trở lạnh, mấy đứa cháu cời than cho nóng lên. Một đứa cất tiếng hát bài Quê em Phú Thọ:

Kìa mái nhà ai đang toả khói lam chiều

Trung du ta đó mảnh đất ta yêu

Hỏi em cô gái đang chuốt cọ non

Duyên dáng cho ai chiếc nón đội đầu

Hỏi anh một câu có thứ chè nào thơm ngát vị hương

Đậm đà giọng nói như người trung du…

                                                       (Thanh Phúc)

Nghe bài hát, ông Hải Phạm thấu hiểu nỗi lòng của con cháu. Quê hương đã thấm sâu vào máu thịt rồi.

7.

Những người đồng hương của ông Hải Phạm ở Cộng hòa Czech rất đông. Theo các tài liệu chính thức, người Việt định cư hoặc tạm cư ở Cộng hoà Séc khoảng 60.000 người. Nhưng thực tế thì chắc đông hơn, có người bảo là 70.000 người, có người bảo hơn. Những người Việt Nam đầu tiên nhập cư vào Cộng hoà XHCN Tiệp Khắc (nay là Cộng hoà Czech và Slovakia) khoảng thập kỉ 70 thế kỉ 20, chủ yếu là học nghề và thực tập sinh, theo hiệp định kí giữa hai nhà nước, cỡ hơn 10 ngàn. Vào thập kỉ 80, thêm các hiệp định về xuất khẩu lao động, số lượng công dân Việt Nam tới Cộng hoà XHCN Tiệp Khắc tăng lên khoảng 30.000. Sau cuộc “cách mạng nhung” năm 1989, nước Tiệp Khắc tan vỡ, Cộng hoà Czech ra đời, người Việt Nam vào Czech lao động và kinh doanh tăng lên. Năm 2000, có khoảng 20.000 công dân Việt Nam chuyên về kinh doanh. Người Việt làm ăn ở Czech đông, hình thành một cộng đồng người thiểu số đông hàng thứ ba, tự gọi là “Xù”, người mới đến gọi là “Xù tươi”, người ở lâu gọi là “Xù mốc”…

Ông Hải Phạm hỏi một số người có thâm niên định cư ở Praha, thì đại từ “Xù” có lẽ xuất hiện từ ngày những học sinh, thực tập sinh đến Tiệp Khắc vào những năm 80 thế kỉ trước. “Xù” là đuôi số nhiều tiếng Czech chỉ những người Việt. Người Việt đã giản tiện cắt bỏ phần từ gốc chỉ để lại cái đuôi biến thể. Ông Hải Phạm ngẫm nghĩ, người Việt ở Czech tự gọi mình là “Xù”, người Việt ở Nga gọi thủ đô Mockva của họ là “Mát”, được cái tiện lợi, nhưng người nước ngoài, người không ở trong hoàn cảnh chắc chắn không hiểu. Ở đây người Việt chứng tỏ một đặc tính ưa đi ngang về tắt, tùy tiện không tôn trọng giá trị thực. Ông cho đó là một thói xấu.

8.

Ở Praha một thời gian ngắn ông Hải Phạm tập cho mình một thói quen, cẩn thận khi sang đường và nói nhỏ ở nơi công cộng. Những lần vào trung tâm thành phố, chỗ nào ông cũng có thể gặp người Việt Nam, trên xe buýt, trên tầu điện ngầm, trên xe điện, các bến đợi tầu, đợi xe, đi lẻ hoặc đi nhóm. Cứ có hai ba người Việt là trò chuyện nói cười oang oang như xung quanh chả còn có ai.

Mỗi lần ra chợ Sapa, ông Hải Phạm thường nhảo qua quầy hàng của vợ sau đó ghé vào mấy quầy hàng của con. Mỗi lần ngồi ở quầy hàng của vợ, ông lại bắt gặp một người đàn ông đẩy một chiếc xe chở đầy các thứ nước giải khát đi qua. Thấy ông Hải Phạm ngồi ngơ ngác nhìn khách ra vào xem hàng, người đàn ông dừng xe rót một cốc nước nhân trần, đưa tận tay ông nói, ông chắc mới ở trong nước sang, mời uống thử nước nhân trần của tôi.

Vợ ông vui vẻ giới thiệu, ông xã nhà tôi mới sang thăm các cháu. Đây là ông Hy Vọng, triệu phú bán nước đấy. Người đàn ông cười xòa, bà quá lời, nhì nhằng vậy mà sống cả chục năm bằng cái nghề này đấy.

Ông Hải Phạm đón cốc nước nhân trần nóng hổi từ tay ông Hy Vọng, nhận thấy một làn hương thuần túy nhân trần bay lên, nghĩ thầm tay này hãm khéo đây. Ông Hy Vọng nói, thời chống Mỹ, chống Tầu tôi làm lính ở quân khu 2, có đọc ông, gớm những bút kí tràng giang đại hải của ông trên báo Quân đội đọc cả tuần không hết. Ông Hải Phạm hơi ngượng, bảo ngày đó tôi mới về báo được ít năm, tham viết dài. Ông Hy Vọng nhận thấy vẻ miễn cưỡng trên mặt ông Hải Phạm bèn nói thêm, nhưng mà bút kí của ông hay lắm.

Sau đó mỗi lần qua chợ, hễ gặp ông Hy vọng là ông Hải Phạm đều ngồi lại uống một cốc nước, tán chuyện gẫu. Hóa ra ông Hy Vọng đã từng là cán bộ của phòng tuyên huấn quân khu 2, xẩy ra chiến tranh biên giới năm 1979, được biệt phái lên mặt trận Vị Xuyên làm tờ tin mặt trận, mãi đến năm 1985 mới được rút về cho đi lao động xuất khẩu ở Liên Xô.

Ông Hải Phạm hỏi, sao lại lưu lạc sang cộng hòa Czech? Ông Hy Vọng cười khùng khục, bảo tôi đang định viết hồi kí để cho con cháu sau này đọc. Ông Hải Phạm tò mò, tôi nghĩ là chuyện hay, viết chứ còn dự định gì. Ông Hy Vọng nói, ông còn lạ gì, ngày xưa tôi làm tờ tin của trung đoàn, xuống các đại đội, lên chốt lấy tư liệu viết một cái tin kể chuyện lính thiếu ăn, thiếu tình cảm, thiếu thông tin, chán nản chỉ đợi ngày trở về hậu phương, chuyện thực hoàn toàn. Nhưng ông trưởng ban chính trị bảo phải viết lại, phải viết sao đó để người lính đọc xong thấy mặt trận vững chắc, người hậu phương đọc xong muốn xung phong lên chốt. Dĩ nhiên là định hướng rồi, nhưng cái con người thực của tôi cứ phản ứng lại, thành thử luôn bị đánh giá năng lực kém. Tôi trút bỏ quân phục, đi lao động xuất khẩu ở Liên Xô, chúi đầu vào kiếm từng đồng rúp, ngoài việc nhà nước khấu trừ tiền lương của mình, mình còn phải đút lót, biếu xén từ ông nhỏ đến ông to, nếu không ăn cắp, không buôn lậu thì lấy đâu tiền đóng đồ gửi về cứu đói gia đình ở quê nhà.

Cày cuốc hết hợp đồng, về nước tôi cũng có một món kha khá, hùn vốn mở nhà nghỉ ở gần ga Giáp Bát, ở ven hồ Tây, trong tay nuôi cả bầy bươm bướm, có lúc tiền đếm không xuể. Nhưng ông ơi, của thiên trả địa, tiền nhiều thì cung phụng cho phường, cho quận, cho thành phố nhiều. Chỗ dựa, sân sau ư? Tôi biết, nhưng cái tính gàn của lính không cho tôi sẵn sàng đi bốn chân. Tôi bị phạt. Tôi thua lỗ. Cuối cùng lại trên răng dưới cát tút. Tôi đưa vợ con về quê, lộn trở sang Nga. Nhưng ở Nga thời ấy, làm ăn cũng khó khăn lắm. Tôi có một người anh em đồng hao ở Tây Czech, nhắn bảo sang Czech đi, sẽ giúp.

Thế là tôi tìm một đường dây đưa người di cư, thỏa thuận tiền nong, quyết định mạo hiểm. Trong đám người di cư từ Nga sang Czech, tôi là người lớn tuổi cũng được các đại ca chỉ huy đường dây chiếu cố, chưa phải nằm trong cốp xe, nhưng đi bộ, chạy, lội rừng thì sao tránh khỏi. Chặng đường của tôi từ Nga, vượt qua Ucraina, Slovakia đến Tây Czech dài cả tháng trời. Lúc nào cũng nơm nớp lo bị tóm, thoáng thấy bóng xe cảnh sát từ xa, hai chân đã run lên bần bật.

Người anh em đồng hao của ông Hy Vọng có quốc tịch Czech, cho ông vay vốn, thuê giúp ông một cái quầy bán hàng ở chợ, sau đó lo cho ông giấy tờ định cư. Một sự giúp đỡ to lớn. Ông Hy Vọng làm ăn mấy năm, trả dần hết nợ, tích lũy chút ít, nghĩa là cũng sống được. Nhưng chỉ thế thì rất khó mà khá giả.

Lúc đó người Việt sang làm ăn ở Czech đã đông, nhu cầu biết tin tức ở quê nhà xem ra là cấp thiết. Ông Hy Vọng chợt nghĩ đến nghề cũ của mình khi còn trong quân đội, bèn nói chuyện với người anh em đồng hao, anh muốn ra một tờ tuần báo cho riêng người Việt ở vùng Tây Czech, chú tư vấn cho anh nhé. Người anh em đồng hao hơi ngớ người một lát, nghĩ ổn định như vậy xoay sở làm gì, nhưng rồi cũng hiểu ra, nói chuyện đó khó chi, miễn là biết cách làm.

Người anh em đồng hao nói, ra một tờ báo tư nhân ở Czech không khó, vì luật cho phép ra báo tư nhân. Cũng chả có ban tuyên huấn nào buộc anh viết thế này, không cho viết thế kia. Cộng hòa Czech tôn trọng tự do ngôn luận, nếu lo thì chỉ lo mấy anh ở trên Sứ. Nghe nói thế, ông Hy Vọng rất mừng, bèn bàn chọn tên báo. Ông nêu lên mấy cái tên: Người Việt xa xứ, Người đưa tin, Vòng quanh thế giới, Con rồng cháu tiên. Người anh em đồng hao nói, tên báo hàm chứa định hướng của tờ báo, cũng cần ngắn gọn để người ta dễ nhớ, lại cũng cần gây ấn tượng, thu hút sự quan tâm của người đọc. Ông Hy Vọng ngạc nhiên, không ngờ người anh em đồng hao lại hiểu biết về nghề của ông đến thế. Ông ngắt lời, không ngờ chú rành ngành báo chí đến thế, hay cùng làm với anh đi. Nghề của em là nghiên cứu tạo ra các vật liệu mới, em chỉ có thể góp cho anh vài ba ý tưởng thôi. Anh có nhớ ở quê ta ngày xưa không? Ngày xưa ở nông thôn, để báo tin cho dân làng, người ta dùng Mõ. Ví dụ cần dân làng làm gì thì cho Mõ đi gõ mõ, loa loa thông báo. Nếu có trộm cướp, cháy hay lũ lụt thì đánh mõ báo động. Người ta cũng dùng lửa để báo tin. Chẳng hạn khi biên cương có động, một mặt phái lính cưỡi ngựa chạy về báo tin, mặt khác các trạm quan sát đặt trên núi đốt lửa truyền tin cho nhau, cách truyền tin đó rất nhanh. Hay ta đặt tên tờ báo là Mõ, hoặc là Lửa. Ông Hy Vọng phân vân. Ông muốn ra một tờ báo cung cấp cho người đọc các loại thông tin, từ chính trị, xã hội, thương mại, tài chính, văn hóa… nghĩa là đưa tin tổng hợp. Nhưng ông cũng muốn tờ báo giúp người đọc có phút giây thư giãn, giải trí. Ông nói, có lẽ nên lấy cái tên Người xa xứ, và mở một chuyên mục có tính giải trí, mục Mõ và Tễu theo kiểu phường chèo.

Người anh em đồng hao biết tính ông Hy vọng, cái chất lính vẫn còn thấm đẫm trong tâm hồn ông. Tùy anh, nếu làm được như thế cũng là tốt lắm rồi. Ông Hy Vọng nhờ người anh em đồng hao lo giúp các thủ tục xin  giấy phép ra báo, tìm nhà máy in, còn ông lo đội ngũ cộng tác viên, lo việc quảng cáo phát hành. Chuẩn bị mất khoảng ba tháng thì có thể ra số đầu tiên. Nhưng ra số đầu tiên vào thời điểm nào? Bàn đi tính lại hai anh em ông quyết định sẽ phát hành số đầu tiên vào ngày khai trương chợ mới Tây Czech. Ông Hy Vọng gặp chủ chợ nêu ý tưởng và dành những trang quan trọng nhất của tờ báo để giới thiệu về chợ. Ông Hy Vọng cũng quyết định tặng số báo đầu tiên cho tất cả các hộ hộ kinh doanh. Ngoài ra ông cũng liên lạc nhờ bạn bè quảng cáo giới thiệu tờ báo Người xa xứ ở các thành phố khác, đặc biệt là ở thủ đô.

Dư luận đối với tờ báo là tương đối tốt. Đã có người tìm đến gửi bài và xin cộng tác chuyên mục Mõ và Tễu. Hai số báo tiếp sau, ông Hy Vọng vẫn phát hành miễn phí đến từng nhà, tạo cho mọi người thói quen đọc báo. Thế rồi thành công đến ngoài sức tưởng tượng của ông Hy Vọng. Tờ Người xa xứ không chỉ phát hành tốt ở Tây Czech mà còn phát hành được ở Praha. Sau một năm, ông Hy Vọng có tiền, quyết định chuyển lên thủ đô và đón vợ con sang.

Tờ báo Người xa xứ phát hành ở Praha khá tốt, trong khi thị phần báo Tây Czech vẫn giữ vững. Thiên hạ thấy ông Hy Vọng làm báo vừa có danh vọng vừa rủng rỉnh tiền, khiến một số đại gia đang thừa tiền cũng nhẩy qua làm báo, đã giầu còn sang, ai chả muốn.

Ông Hy Vọng cũng muốn làm ăn lớn. Ông viết một dự án gọi là Tổ hợp truyền thông Người xa xứ, gồm có báo in, báo điện tử, một kênh truyền hình riêng gọi là Việt TV. Muốn vậy thì phải có tiền, vì phải đầu tư lớn. Chỉ mình ông thì làm sao kham nổi. Ông Hy Vọng mang dự án đi gặp mấy đại gia Việt ở Praha, ở Karlovy Vary sang cả Đức và Ba Lan. Ông nói, làm báo theo luật châu Âu là một niềm vui sướng vì được tự do nói thẳng quan điểm của mình. Các đại gia ở Ba Lan, ở Đức có mối quan tâm riêng, dửng dưng với đề án của ông Hy Vọng. Nhưng ở Praha ông cũng tìm được hai nhà đầu tư trẻ đó là Hoa Thanh và Dương Hải. Hoa Thanh phất lên từ buôn thuốc lá xuyên quốc gia, nắm đến nửa thị trường ngầm phủ khắp vùng Tiệp Khắc cũ và Đức. Dương Hải là chủ chợ, cũng vào loại có sừng có sẹo trong giới giang hồ, đã từng lập đường dây đưa người. Hai người nghe ông Hy Vọng thuyết trình bèn tỏ ý hưởng ứng, thâm tâm cả hai cũng muốn qua dự án truyền thông này biến tiền bẩn thành tiền sạch.

Khi ông Hy Vọng muốn lập một xưởng in, xuất bản thêm một số sản phẩm phụ của Người xa xứ, Hoa Thanh và Dương Hải đồng ý ngay, nhanh chóng bỏ vốn để ông Hy Vọng tổ chức thực hiện. Đang đà làm ăn được, ông Hy Vọng có phần chủ quan, không điều tra kĩ tình hình thị trường. Thất bại. Hoa Thanh và Dương Hải lập tức căn cứ vào điều khoản ràng buộc của hợp đồng, buộc ông phải rời khỏi vị trí điều hành, tờ báo mà ông mất nhiều công xây dựng lọt vào tay người khác.

Lẽ dĩ nhiên ông Hy Vọng không chịu đầu hàng ngay. Ông gọi cho cậu em rể ở Tây Czech, yêu cầu hỗ trợ pháp lí. Thời đó, cộng đồng người Việt ở Czech đã chịu khép mình tương đối vào luật pháp, những ngón đòn mông muội, dã man như ám sát, đốt chợ, thuê mafia “bộ đội” đâm chém dằn mặt đã giảm bớt nhiều. Hoa Thanh và Dương Hải lùi một bước, tìm cách hòa giải, đền bù cho ông với danh nghĩa sang trọng là mua lại tờ báo Người xa xứ. Xử như vậy, hai người nọ được tiếng biết điều, còn ông Hy Vọng cũng không mất mặt, lại có một món tiền có thể mở một tờ báo khác hoặc mua một cửa hàng kiếm sống.

Mộng của ông Hy Vọng vẫn là mong muốn được làm chủ một tờ báo. Hình như cái máu tuyên huấn vẫn hàng ngày kiểm soát ông, ông muốn dồn tiền mở một tờ báo mới, cạnh tranh với tờ báo mà Hoa Thanh và Dương Hải vừa cướp được. Thế nhưng cuối cùng ông đã từ bỏ nó. Lí do thật đơn giản, vợ ông không đồng ý. Vợ ông bảo, muốn làm chủ một tờ báo ông phải có tiền. Tiền của ông có bao nhiêu thì ông biết rồi. Ông có nghề, có tài làm báo, nhưng không muốn bán mình, thì tốt nhất ông nên đi làm nghề khác.

Ông Hy Vọng nhiều đêm mất ngủ. Cuối cùng ông quyết định đem toàn bộ số tiền có được, mua cho vợ con một cửa hàng bán rượu và nước giải khát ở trung tâm thành phố và một chiếc xe đẩy bán nước giải khát giành cho ông. Ông quyết định gắn mình với chợ. Làm nghề đẩy cái xe nước đi bán rong, cái nghề có vẻ thấp hèn, nhưng thỏa mãn được nguyện vọng tiếp xúc với nhiều người, được công bố những tin mới.

Để hành nghề, ông Hy Vọng tập vào mạng, rèn luyện khả năng đọc nhanh, tập hợp thông tin. Buổi sáng vừa đẩy xe nước đi bán khắp chợ, vừa thông báo tin mới. Công việc này làm cho ông vô cùng thỏa mãn, và đầy hứng thú. Vợ ông đặt cho ông biệt danh Nhà báo nói.

9.

Duy Cẩm năm nay đã ba mươi bẩy tuổi, hai mươi năm ở Czech, lăn lộn kiếm sống, không ít lần lên voi lại xuống chó, giáp mặt với các loại anh hùng hảo hớn, giới thiệu vợ con với ông Hải Phạm, nói nhờ có hai người này cháu mới là người như hôm nay, để được đưa chú đi Blzen uống bia và tán phét.

Duy Cẩm có một sạp hàng bán quần áo ở chợ HKH. Buổi sáng gặp ông Hải Phạm, Duy Cẩm không mở cửa bán hàng, đủng đỉnh bảo, dạo này ế quá chú ạ, đóng cửa chơi cho khoẻ, rồi chỉ một thiếu phụ mạnh khoẻ, đang bế một thằng cu kháu khỉnh ba bốn tháng tuổi, giới thiệu, nhà cháu đấy, hôm nay nghỉ, cho thằng cu ra chơi chợ, cho nó quen hơi chợ.

Tuổi mười sáu mười bẩy là tuổi của học hành, tuổi hình thành nhân cách. Ở tuổi đó, Duy Cẩm đang học phổ thông trung học, nhưng ham chơi, phá phách, khiến ông bố không chịu đựng nổi, mới gửi sang Czech để ông chú đang buôn bán ở tận vùng biên giới Czech giáp với Đức, nói để chú rèn rũa. Ông chú hỏi, cháu muốn đi học hay đi làm? Duy Cẩm nói, chú cho cháu đi làm. Nếu học thì cháu đã học ở nhà. Ông chú bố trí cho Duy Cẩm học lấy cái bằng lái xe, rồi cho đi chở hàng thuê, đi đổ hàng biên giới.

Người Việt lập nên những cái chợ biên giới, chủ yếu để phục vụ người Đức, lợi nhuận khá bộn. Duy Cẩm trẻ khỏe, nhanh nhẹn được nhiều người chú ý. Chạy xe đổ hàng biên giới, tiền tươi thóc thật. Rồi buôn hàng nhái, trốn thuế, kiếm bộn. Duy Cẩm tách khỏi ông chú, làm ăn lớn, thuê cả dẫy khách sạn, mở quán ăn, quán cà phê, lừng lẫy các vùng Morava: Hoseva, Khomriz, Brono…

Không biết ai là người Việt đầu tiên ở Đông Âu nghĩ đến việc lập ra những cái chợ Việt ở biên giới, móc tiền của những người khách quá cảnh. Cái chợ biên giới ở Teplice, cửa ngõ sang Đức, bây giờ đã bị bỏ hoang, chỉ còn lèo tèo một ít lán chợ do mấy người Việt quyết tâm bám trụ. Nhiều chợ chuyên đổ hàng được thuê từ những khu nhà kho, sân vận động cũng không còn nữa. Chợ chuyển vào thành phố, chuyển về Praha. Chợ trở thành những trung tâm thương mại. Có tiền, con đường để tiếp tục phất lên nữa là mở chợ, làm chủ chợ.

Một ông anh kết nghĩa của Duy Cẩm, sau khi trúng quả lớn thuốc lá, rủ cùng hùn vốn mở chợ. Thoạt đầu Duy Cẩm từ chối, em mèo nhỏ bắt  chuột nhỏ. Ông anh kết nghĩa mắng, chú hèn thế sao, trí tiến thủ của chú gửi ở nhà à? Bọn ở nhà chạy tiền mua quan, mua chức để làm giầu, ăn bẩn của dân, nhục lắm. Ta ở đây có cơ làm giầu đàng hoàng lại không làm, làm đi, có tiền chú muốn thì về nhà mua quan, mua chức, mua gì mà chả được. Duy Cẩm vớt vát, nhưng em quan hệ với bọn Czech kém lắm. Người anh kết nghĩa, vỗ vai Duy Cẩm, tất cả để anh lo, chú cứ ngồi đấy mà thu tiền.

Anh ta làm việc với chính quyền địa phương, thuê đất, kéo các congtener về đặt thành từng khu, trương biển tuyển nhân viên, treo biển to: Chợ Tháng Tám. (Gọi tắt là chợ TT hay chợ AUG). Nhưng do địa điểm ở xa khu trung tâm, lúc đầu người thuê sạp bán hàng ít, chỉ thấy tiền đội nón đi mà không thấy về. Duy Cẩm kêu với ông anh, cứ thế này thì sập tiệm. Ông anh đáp tỉnh bơ, thì phải nghĩ mưu, kéo được khách thuê thì khắc có tiền.

Ông anh kết nghĩa của Duy Cẩm lập bộ tham mưu, tuyển đội cận vệ, giao cho một thanh niên người cùng làng vốn là trung úy đặc công mới được đưa sang làm đội trưởng. Đội cận vệ này lúc đầu chỉ có ăn và luyện võ, chưa phải thi hành một một vụ việc cụ thể nào. Những việc đó Duy Cẩm không được bàn, cũng không được tham gia, thành thử lúc đầu hoàn toàn mù tịt.

Một hôm, ông anh kết nghĩa bảo Duy Cẩm, cậu phải năng động lên, vận động tìm khách hàng, chỉ cần khách đến thuê, giá cả thì thương lượng, ban đầu lỗ cũng chả sao. Cậu nên nhớ, dân Việt hám lợi, một sản phẩm treo giá ba đồng dửng dưng đi qua, nhưng treo giá hai đồng chín chín là tất cả xúm lại, tranh nhau ngay.

Duy Cẩm nghe lời anh kết nghĩa, mở chiến dịch thu hút khách hàng, tìm gặp ông Hy Vọng nhờ đăng quảng cáo trên báo Người xa xứ. Ông Hy Vọng nói, cái tên chợ của các cậu đọc trúc trắc khó nghe, người đọc không để ý. Quảng cáo đăng liền một tháng trời, nhưng chả có ai ngó ngàng tới. Lăn lộn ở các chợ, Duy Cẩm hiểu, người ta đã ổn định nơi làm ăn buôn bán, khách hàng ở các nơi cũng quen thung thổ đi về, chả ai dại gì bốc đến nơi mới, dù giá có rẻ hơn một nửa.

Năm đó, áp tết ta, buồn vì túi tiền cạn kiệt, Duy Cẩm la cà ở hộp đêm đến hai giờ sáng. Bất ngờ ngoài phố có ai đó kêu to, cháy chợ BAKA rồi. Nghe kêu cháy chợ, Duy Cẩm tỉnh hẳn rượu, phóng ra phố, nhìn thấy ngọn lửa bốc cao, liền lên xe nổ máy phóng thẳng về hướng đám cháy. Chợ BAKA là nơi chú Duy Cẩm có chuỗi cửa hàng bán rau quả Việt Nam, là nơi cưu mang Duy Cẩm khi lần đầu đặt chân lên đất khách.

Cảnh sát Czech chặn xe Duy Cẩm ở vòng ngoài. Duy Cẩm xuống xe nói, gia đình có chuỗi quầy hàng ở chợ, cần vào xem thiệt hại ra sao. May sao giấy thông hành của Duy Cẩm vẫn giữ địa chỉ cũ là nơi ông chú ruột cư trú. Cảnh sát để cho Duy Cẩm qua.

Do chuỗi cửa hàng rau quả của ông chú ở xa khu bán các hàng hóa dễ cháy như vải vóc, quần áo, đồ nhựa cao su… nên không bị thiệt hại gì. Bà thím nói, cháy lúc khoảng một giờ rưỡi sáng. Cảnh sát cứu hỏa điều đến hàng chục xe, nhưng cũng không cứu được. Ông chú nói, người ta nghe thấy có nhiều tiếng nổ. Vụ này thiệt hại lớn đấy. Duy Cẩm hỏi chú, cảnh sát có cho biết nguyên nhân cháy nổ không? Chú lắc đầu. Mấy người hàng xóm quần áo xộc xệch, đầu tóc cháy sém vừa chạy, vừa khóc nói, mất hết cả rồi ông bà ơi, tổ cha cái đứa hiểm độc tàn ác đốt chợ.

Người Việt ở Czech nổi tiếng với những vụ cháy chợ. Khi còn làm báo ông Hải Phạm biết rất rõ. Vụ cháy chợ Libuš ngày 20/11/1999 là một vụ cháy lớn, nghe nói thiệt hại hàng chục triệu đô la. Bây giờ cái chợ Libuš ấy đã trở thành một phần của chợ Sapa to lớn hoàn toàn do người Việt làm chủ, đến nỗi một nghị sĩ Czech phải nói rằng, trong cái chợ ấy người Việt sống và hành sử theo luật lệ riêng mà người Czech không xâm phạm được. Gần nhất là vụ cháy khu kho chợ Sapa năm 2008, thiệt hại lên tới hàng trăm triệu korun. Để dập tắt vụ cháy này, cảnh sát phòng cháy chữa cháy Czech lần đầu tiên trong lịch sử đã phải huy động số lượng lớn xe cứu hỏa của cả nước cùng với trực thăng.

Vụ cháy chợ BAKA đã đem đến cho chợ TT cơ hội. Trừ một số hộ kinh doanh trường vốn chuyển về thủ đô hoặc sang các nước khác như Ba Lan, Đức còn lại đều chuyển đến thuê quầy, kinh doanh tại chợ. Nhưng chính lúc đó thì Duy Cẩm bật bãi. Ông anh kết nghĩa, bằng tất cả các mánh khóe, buộc Duy Cẩm rời khỏi chợ với hai bàn tay trắng. Nếu như chuyện đó xẩy ra trước một năm, có lẽ Duy Cẩm đã hành sử khác, đầy chất bạo lực. Duy Cẩm nhìn thẳng vào mắt ông anh kết nghĩa, nói Trời có mắt, anh sống thế nào, ăn ở thế nào không chỉ có anh biết, mà còn có Trời biết.

Chợ AUG phất lên nhanh. Nhưng một thời gian thì ông anh kết nghĩa của Duy Cẩm đổ bệnh, bệnh máu trắng. Chợ đó cuối cùng cũng chuyển sang tay người khác.

10.

Ghi chép của ông Hải Phạm, thu thập trên mạng cộng đồng người Việt ở Đông Âu, cắt nghĩa phần nào cái cách làm giầu của một nhóm người Việt, những con bạch tuộc đang vươn vòi tới tận hang cùng ngõ hẻm của Việt Nam.

Ngày 18/ 8/ 2008, tại Wroclav (Ba Lan), cảnh sát đã bắt ba người đàn ông khoảng 19-22 tuổi vì tội trồng cần sa. Cũng trong thời gian ấy, cảnh sát đội bài trừ ma túy địa phương cũng đã phát hiện 3 vườn cần sa, thu giữ hơn 600 cây, 15 kg đã sấy khô, thu một số vũ khí, đạn dược và trang thiết bị cho vườn cần sa. Nghi phạm bị tạm giữ gồm 6 người (3 nam, 3 nữ với lứa tuổi 18-49).

Lúc 6 giờ 30 sáng 20/ 8/ 2008 tại biệt thự 3 tầng trong thị trấn Tarczyn ngoại ô Warsava (rất gần khu TTTM vừa bị cháy ở Wolka Kossowska), cảnh sát Ba Lan đã bắt một người đàn ông và hai phụ nữ Việt Nam vì tội trồng cần sa. Cảnh sát cho biết, hai người này đã trồng cần sa trong nhà ít nhất là từ đầu tháng 7 năm nay. Cảnh sát địa phương đã thu tại chỗ 500 chậu cây cần sa. Ngôi nhà được trang bị hệ thống trồng cần sa hiện đại với hệ thống tự động.

Các nguồn tin cảnh sát cho biết, hầu hết những người bị bắt đều là người làm thuê. Kẻ chủ mưu vẫn ngoài vòng pháp luật.

Cũng ngày 20 tháng 8, người phát ngôn của cảnh sát Cheb (Czech), ông Ladislav Böhm cho biết, chỉ tính riêng ở Cheb đã có 18 trường hợp người Việt bị truy tố về tội trồng cần sa.

Cùng ngày, 9 người Việt Nam liên quan đên việc trồng và vận chuyển cần sa đã bị tòa án tỉnh Ústí nad Labem đưa ra xét xử. Phiên tòa đã phải sử dụng cùng một lúc 2 phiên dịch.

11.

Ông Hải Phạm muốn đến thăm một tòa soạn báo. Con trai ông giới thiệu với ông một cô bạn người Czech tên là Marine. Marine học khoa ngữ văn trường đại học Charles, khoa tiếng Việt. Marine nói, cô có quen biết một biên tập viên Tòa soạn báo Literarni Noviny, sẽ hẹn trước để ông đến thăm.

Tòa soạn báo Literarni Noviny đóng ở một phố cổ gần trung tâm thành phố. Trưởng ban biên tập là Vasek Fiala. Fiala nói sõi tiếng Nga. Đúng vào khoảng trưa, Vasek mời ông Hải Phạm và Marine đi ăn trưa.

Vasek hỏi, ông uống được bia chứ. Hải Phạm gật đầu. Vậy thì chúng ta đi. Ba người đi qua một phố cổ, rẽ vào một quán bia trong một hẻm nhỏ. Uống bia vỉa hè thích hơn, Vasek nói rồi kéo ghế mời ông Hải Phạm. Tôi có đọc những bài viết về rượu Trung Quốc, chưng cất thật công phu, nhưng rượu càng có tiếng, càng ngon càng nhiều rượu nhái rượu giả. Người Việt các ông ở đây cũng giống người Trung Quốc hay làm hàng nhái và bán đồ nhái. Hải Phạm hơi nóng mắt, nhưng đáp nhẹ nhàng, nhà văn có xu hướng thích nhìn mặt trái. Phải, phải. Phản biện là phẩm chất căn bản của nhà văn.

Tuần bia đầu, ông Hải Phạm và Vasek im lặng uống. Marine lặng lẽ quan sát hai người. Tuần bia thứ hai, câu chuyện bắt đầu mở. Tờ báo của chúng tôi là tờ báo tư nhân, Vasek nói, được thành lập cách đây hơn trăm năm. Sau khi chính quyền nước Czech thuộc về tay cộng sản thì tờ báo bị quốc hữu hóa, nhiều nhà văn Czech đã được dồn tụ về đây. Jaroslav Seifert, một nhà thơ Czech vĩ đại, người đoạt giải Nobel văn học cũng đã từng làm việc ở đây.

Ông Hải Phạm nói, tôi đã đọc tiểu sử nhà thơ này. Tôi thích bài thơ Bồ câu đưa thư của ông. Vasek nâng cốc bia, cất giọng đọc:

Người vẫy chiếc khăn quàng trắng
và nói lời giã từ
Mỗi ngày một điều gì đó kết thúc
Một điều gì đó tuyệt vời không còn.

Bồ câu đưa thư tầng không đập cánh
Trở về từ phương xa
Tuyệt vọng hay mong ngóng,
Bao giờ ta cũng trở lại nhà.

Hãy lau nước mắt đi,
Và hãy cười với long lanh ngấn lệ
Mỗi ngày một điều gì đó bắt đầu
Một điều gì đó tuyệt vời xuất thế.

                              (Lương Duyên Tâm dịch)

Ông Hải Phạm thấy thích sự cởi mở của anh nhà báo kiêm viết văn này, bèn nhìn thẳng vào mắt anh ta rồi hỏi, anh làm ở tòa soạn báo này được bao nhiêu năm rồi? Vasek đáp ngay, tám năm và mười ngày. Tôi sinh năm 1969, đúng năm Jaroslav Seifert phải từ chức Chủ tịch Hội nhà văn Tiệp Khắc. Ông nên nhớ, tháng 8 năm 1968 nước Tiệp Khắc bị quân đội khối Warszawa do Liên Xô cầm đầu chiếm. Tháng 1 năm 1969, hai sinh viên trường Đại học tổng hợp Charles là Jan Palach, 22 tuổi và Jan Zajíc, 19 tuổi đã tự thiêu chỉ nội trong vòng 1 tháng đầu năm 1969 tại quảng trường trung tâm Praha Wenceslas để phản đối quân xâm lược. Những lời thống thiết trong chúc thư: “Cả đất nước đã đến giai đoạn tuyệt vọng, chỉ có cách duy nhất là tự thiêu để cảnh tỉnh nhân dân Czech”. Hội nhà văn Tiệp Khắc do Seifert đứng đầu với danh nghĩa là lương tâm của dân tộc đã ra tuyên bố kịch liệt phản đối quân chiếm đóng. Dưới sức ép của chính quyền Hucak do Liên Xô dựng nên, J. Seifert phải từ chức. Tờ báo của chúng tôi phải đình bản. Mãi đến năm 1989, mới được xuất bản lại.

12.

Năm 1968, ông Hải Phạm nhớ lại, vẫn còn học tập ở Học viện kĩ thuật pháo binh Nam Kinh, đang làm luận án tốt nghiệp. Một hôm, thiếu tá Phó tùy viên quân sự từ Bắc Kinh xuống, tập hợp lưu học sinh lại nói chuyện. Viên thiếu tá, mở đầu bài nói bằng cách đặt một câu hỏi, các đồng chí đã biết gì chưa? Rồi ông tự trả lời, thế giới vừa diễn ra một sự kiện quan trọng, vào đêm ngày 20 rạng sáng ngày 21 tháng 8 năm 1968, quân đội các nước thuộc khối Warszawa do Liên Xô đứng đầu cùng quân đội các nước BulgariaBa Lan và Hungary đã chiếm Tiệp Khắc, ngăn chặn từ trong trứng nước cuộc bạo loạn phản cách mạng, chống chủ nghĩa xã hội của nhóm Dubček, những tên tay sai của chủ nghĩa đế quốc, đội lốt cộng sản.

Hải Phạm cảm thấy bất ngờ, tại sao người ta có thể dễ dàng gán cho lãnh đạo một nước là phản cách mạng, rồi đưa quân vào chiếm đóng, dù đó là một nước độc lập. Hải Phạm rụt rè hỏi, thưa đồng chí Phó tùy viên, Liên Xô muốn chiếm Tiệp Khắc, một quốc gia độc lập thì cũng phải lấy một danh nghĩa gì chứ?

Thiếu tá Phó tùy viên nhìn khuôn mặt non choẹt của gã học viên năm cuối cùng, như muốn cật vấn, tại sao cậu dám hỏi tôi câu ấy. Nhưng chỉ giây lát sau, ông nở một nụ cười nói, câu hỏi rất hay, tôi rất thích những học viên biết động não như đồng chí này. Hoạt động quân sự là biểu hiện cao nhất của chính trị, là mũi giáo của bạo lực cách mạng. Việc Liên Xô đưa quân vào Tiệp Khắc chính là một minh chứng sinh động cho quan điểm đó.

Viên thiếu tá nói, những rắc rối của một đất nước bao giờ cũng nẩy nòi từ đám nhà văn, đám trí thức quay lưng lại với sự giáo dục của đảng. Ở Trung Quốc như các đồng chí đã thấy, những phần tử nhà văn phản cách mạng như Hồ Phong, Đinh Linh là ví dụ rất cụ thể. Ở Tiệp Khắc cũng vậy, vào giữa năm 1967, một nhóm nhỏ các nhà văn như Ludvík VaculíkMilan KunderaJan Procházka, Antonín Jaroslav LiehmPavel Kohout và Ivan Klíma… đã cấu kết với nhau dùng tờ báo Literární noviny tung ra hàng loạt tác phẩm chống đảng, chống chủ nghĩa xã hội, đòi cải cách thể chế chính trị và kinh tế. Chính quyền Tiệp Khắc đã sử dụng các biện pháp hành chính mạnh mẽ, khai trừ đám nhà văn phản cách mạng, nắm quyền điều hành tờ báo Literární noviny cùng các nhà xuất bản. Lúc đó Dubček đã ủng hộ hành động đó. Nhưng tháng 1 năm nay, sau khi được chỉ định vào chức vụ cao nhất của Đảng, Dubček đã lại ăn phải đũa của bọn nhà văn phản cách mạng ấy. Viên thiếu tá cảm thấy lạc đề bèn nói, đây là vấn đề của đồng chí Tố Hữu, tôi xin lỗi vì đã đá lấn sân.

Hành động quân sự của Liên Xô, thiếu tá Phó tùy viên nói, đã làm cho đế quốc Mỹ và khối NATO phải run sợ. Không ai, kể cả những người giầu tưởng tượng nhất có thể hình dung ra kịch bản này.

Rồi Phó tùy viên miêu tả, 11giờ đêm ngày 20 tháng 8, một chiếc máy bay vận tải dân dụng của Liên Xô xuất hiện trên bầu trời Praha. Chỉ huy sân bay nhận được điện khẩn, xin hạ cánh khẩn cấp vì gặp trục trặc kĩ thuật. Sân bay Praha đồng ý. Chiếc máy bay hạ cánh, không dừng lại ở trên đường băng mà chạy thẳng về phía Trung tâm chỉ huy. Lập tức khoảng một trăm người mặc thường phục rời khỏi máy bay, chiếm cứ tất cả các vị trí chỉ huy của sân bay, nắm quyền điều khiển để cả trăm lượt máy bay vận tải quân sự chở quân dù, pháo và xe tăng lần lượt hạ cánh.

Các đơn vị vũ trang Liên Xô được các nhân viên sứ quán của họ ở Praha dẫn đường lập tức bao vây trụ sở trung ương đảng cộng sản Tiệp Khắc, chiếm tất cả các vị trí trọng yếu của thủ đô. Sáng sớm hôm sau, người dân Praha mở cửa đã thấy xe tăng Nga đỗ đầy các phố, ở các cửa ngõ biên giới, quân đội khối Warszawa nhanh chóng tiến vào. Toàn bộ nước Tiệp Khắc nằm trong tay quân đội Liên Xô và đồng minh.

Viên thiếu tá tỏ vẻ phấn khích, cao giọng các đồng chí có thấy tuyệt vời không! Đó là một đòn cảnh cáo đối với đế quốc Mỹ và khối quân sự NATO.

Bí thư Xuân Lại kính cẩn, thưa đồng chí Phó tùy viên, vậy thái độ của chúng ta đối với sự kiện này? Thiếu tá nói, chính vì chúng ta phải tỏ rõ thái độ nên cấp trên mới cử tôi xuống đây. Tôi nói ngắn gọn thế này, chúng ta đứng về phía Liên Xô, ủng hộ Liên Xô. Để bảo vệ lí tưởng cộng sản và chủ nghĩa xã hội chúng ta phải dùng mọi thủ đoạn cách mạng, kể cả bạo lực. Thái độ của Trung Quốc thế nào ư? Xin thưa, lúc này mâu thuẫn Xô- Trung chưa được giải quyết, thái độ của Trung Quốc là phản đối, nhưng cũng chỉ ở mức tuyên bố của thủ tướng Chu Ân Lai. Các đồng chí không phải giữ kẽ, cứ nói rõ quan điểm của ta với họ. Các đồng chí nên cử người đại diện phát biểu quan điểm của mình.

Hải Phạm viết ba chữ CON THÒ LÒ vào một mảnh giấy chuyển cho Mạnh Đoàn. Mạnh Đoàn nhíu lông mày, viết TAO Đ. HIỂU, chuyển lại cho Hải Phạm.

Hôm sau bí thư Xuân Lại họp đoàn, tuyên bố cử Hải Phạm làm đại diện phát biểu. Bí thư nói thêm, đồng chí đang phấn đấu trở thành đảng viên, đây là một thử thách. Hải Phạm nhớ lại, ngày cầm giấy gọi nhập ngũ, khi tiễn anh ra cổng, cha nói, con phải phấn đấu vào đảng. Có tí đảng mới hi vọng tiến bộ con ạ. Sau này, khi tốt nghiệp Học viện được phân công về làm giảng viên trường Đại học kĩ thuật quân sự, hiệu trưởng nhà trường nói rõ, trần của sĩ quan không phải đảng viên là trung úy, ông Hải Phạm càng khâm phục sự nhậy cảm của cha.

Dĩ nhiên những cuộc tranh cãi về quan điểm giữa các học viên ngoại quốc và giảng viên chính trị ở các học viện quân sự Trung Quốc khác với các trường quân sự ở Liên Xô. Người Trung Quốc rất giỏi ngụy biện và bao giờ cũng biết cách dẫn dắt cuộc chơi.

13.

Ông Hải Phạm nâng cốc bia vàng óng mầu sắc Czech, hỏi Vasek sinh năm 1969, anh biết gì về Tiệp Khắc những năm ấy. Vasek vui vẻ, sinh năm 1969, năm đáng lẽ số phận của tôi cũng như dân tộc Czech sẽ còn bị chìm ngập trong bức màn u tối của độc tài cộng sản, nếu không có thảm kịch quân đội Liên Xô cùng quân đội của các nước đồng minh khối Warszawa chiếm đóng Tiệp Khắc.

Sao lại nói thế? Ông Hải Phạm hỏi. Điều này cần phải dẫn giải dài dòng một chút, Vasek nói. Bởi vì, khi Dubček được chỉ định đứng đầu đảng cộng sản Tiệp Khắc ông đã đưa ra một chương trình cải cách gọi là chương trình xây dựng chủ nghĩa xã hội nhân đạo. Trước khi Dubček lên nắm quyền, nền kinh tế của Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc, một nước đã công nghiệp hoá từ trước Thế chiến II, là nền kinh tế kế hoạch hóa theo mô hình Xô Viết, rất không phù hợp, nên suy thoái nghiêm trọng. Những nỗ lực  của chính quyền Novotný nhằm tái cơ cấu nền kinh tế, xây dựng mô hình Kinh tế mới cùng với việc thúc đẩy cải cách chính trị đã thất bại.

Thế chỗ của Novotný, Dubček tuyên bố sứ mệnh của mình là “xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa tiên tiến trên những nền tảng kinh tế lành mạnh… một chủ nghĩa xã hội tương thích với các truyền thống dân chủ của Tiệp Khắc, gọi là chủ nghĩa xã hội nhân đạo”. Nội dung Cương lĩnh hành động của Dubček là tự do hoá, gồm tự do báo chí, tự do ngôn luận và tự do di chuyển. Dubček nhấn mạnh nền kinh tế hàng hoá và dự liệu khả năng một chính phủ đa đảng.

Dubček nói rằng, chủ nghĩa xã hội không thể chỉ có nghĩa là giải phóng người lao động khỏi sự thống trị của tầng lớp bóc lột, mà phải tính xa hơn nữa tới một cuộc sống đầy đủ cho cá nhân hơn bất kỳ cuộc sống cá nhân nào tại một chế độ dân chủ tư sản nào. Theo ông, nước Tiệp Khắc phải chuyển tiếp sang các cuộc bầu cử dân chủ và một hình thức chủ nghĩa xã hội dân chủ mới có thể thay thế hình thức hiện tại. Dù rằng chương trình hành động của Dubček công khai cho rằng phải được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, nhưng mùi vị dân chủ của nó, nhất là chế độ kiểm duyệt báo chí được chính thức bãi bỏ vào ngày 26 tháng 6 năm 1968 đã làm cho những người lãnh đạo Liên Xô bị sốc mạnh. Và họ đã quyết định hành động.

Vasek nói với vẻ đau đớn, đêm hôm đó, đêm ngày 20 rạng sáng ngày 21 tháng 8 năm 1968, hơn 200 000 binh lính Khối hiệp ước Warszawa và 2 000 xe tăng đã tiến vào đánh chiếmTiệp Khắc. Tất cả chỉ gọn trong vòng 24 giờ. Bị bất ngờ, các lực lượng của Tiệp Khắc không kịp phản ứng. Phong trào Mùa xuân Praha (tiếng SécPražské jaro), phong trào phi Xô Viết nền chính trị tại Tiệp Khắc do A. Dubček khởi xướng đã bị chấm dứt.

Ông Hải Phạm nhẩm tính, kể từ khi nhà cải cách người Slovak là  Alexander Dubček lên nắm quyền ngày 5 tháng 1 năm 1968, đến khi người Nga chiếm thủ đô Praha ngày 21 tháng 8, cuộc cải cách mang tên chủ nghĩa xã hội nhân đạo diễn ra chỉ có hơn nửa năm. Những người cộng sản Tiệp Khắc cấp tiến mong muốn khôi phục những giá trị tự do, dân chủ mà loài người cất công tìm kiếm thành tựu được đã bị những người theo Chủ nghĩa Staline coi là phản động, dập tắt một cách không thương tiếc.

Vasek nhìn cốc bia vẫn còn đầy của ông Hải Phạm, nói bia là một sản phẩm kết tinh những tinh hoa của người Cezch, như lá trầu quả cau của người Việt, là đầu câu chuyện. Ông Hải Phạm vội xua tay, nói tửu lượng thấp, nhưng hôm nay được gặp bạn đồng nghiệp, vậy xin cùng cạn.

Vasek nói tiếp, cú đánh của Liên Xô mặc dù hạ bệ được Dubček, đưa được Gustáv Husák lên thay, nhưng người dân Tiệp Khắc đã tỉnh ngộ, lương tâm của nhân dân đã thức dậy. Mùa xuân Praha không chết. Ông nên nhớ, ở những đất nước văn minh, các nhà văn luôn luôn là người phát ngôn của nhân dân. Những tác phẩm như kịch của Václav Havel, tiểu thuyết của Milan Kundera là những minh chứng.

Ông Hải Phạm nâng cốc bia nói, tôi đã đọc tiểu thuyết The Unbearable Lightness of Being (Đời nhẹ khôn kham) của M. Kundera, có thể nói tôi hoàn toàn cảm thông những điều mà ông ấy muốn gửi gắm, những đứa con của Chủ nghĩa Staline dù ở Czech hay ở Việt Nam sao giống nhau đến vậy.

Theo Vasek, Hội nhà văn Tiệp Khắc và tờ báo của hội, tờ Literární noviny, bị giải thể và đình bản. Đến sau này, khi cuộc Cách mạng Nhung năm 1989 thành công, mặc dù Hội nhà văn Tiệp Khắc không bao giờ còn nữa, nhưng tờ báo Literární noviny thì hồi sinh. Vasek hãnh diện lấy tặng ông Hải Phạm tờ báo mới ra lò còn thơm mùi mực.

Vasek là một nhà báo đích thực, có khả năng kết nối các sự kiện, so sánh và lẩy ra vấn đề cốt lõi. Vasek nói, Mùa xuân Praha bị bóp chết đã làm vỡ mộng nhiều người cánh tả chịu ảnh hưởng các quan điểm Mác-Lenin ở phương Tây, góp phần vào sự phát triển của các ý tưởng chủ nghĩa Cộng sản Tây Âu trong các đảng cộng sản phương Tây, đẩy họ tách xa Liên xô.

Vasek nói, ông đã qua Pháp, tất nhiên ông không thể không thưởng thức rượu vang, một thứ rượu cũng tuyệt vời phải không ông? Lịch sử rượu vang Pháp trải dài khoảng 2600 năm, còn bia thì có lịch sử dài hơn thế. Tôi là tín đồ của bia, Vasek vỗ vỗ vào ngực, bia là một trong những phát minh vĩ đại của loài người, là động lực của văn minh. Bia lúa mạch được phát hiện tại Godin Tepe miền trung dãy núi Zagros của Iran có niên đại khoảng 3400- 3000 năm TCN. Ở châu Âu, bia được cho là hiện diện vào thời kỳ đồ đá mới, khoảng 3000 năm TCN và được ủ chủ yếu trong gia đình. Người ta thừa nhận có văn hóa rượu thì cũng có văn hóa bia. Các nền văn hóa nên tôn trọng nhau.

15.

Ở gần mỗi tòa nhà chung cư khu Libus người ta đặt những chiếc thùng chứa rác bằng nhựa có nắp gắn bằng bản lề. Mỗi buổi sáng đi làm, dân cư đem rác được phân loại đựng trong các túi nilon mầu đen bỏ vào thùng rác. Sau đó, cũng vào sáng sớm xe rác đến lấy rác đưa đi nhà máy xử lí chất thải. Tất cả các khâu lấy rác đều được làm tự động. Cũng buổi sáng, trước giờ xe rác đến, ông Hải Phạm thấy có vài người, tay xách theo những chiếc túi vải thô, tay cầm que sắt đi đến các thùng rác, bới tìm những thứ còn dùng được. Xã hội nào chả tồn tại một lớp người dưới đáy. Vợ ông bảo, phần đông những người bới rác là những người Di gan.

Ở chợ Sa Pa cũng có những thùng rác. Một hôm đang ngồi uống nước nhân trần và tán gẫu với ông Hy Vọng, ông Hải Phạm thấy một thanh niên Czech ăn mặc vào loại bô nhếch cũng còn thua đi tới, sau khi đã ngó nghiêng cái thùng rác đặt ở cuối chợ. Tại sao ông Hải Phạm lại khẳng định anh chàng bô nhếch đó là người Czech? Cũng chả biết được. Có lẽ những người Digan mà ông Hải Phạm thấy đều tóc đen, còn anh này tóc vàng. Khi anh chàng đi qua chỗ hai người ngồi, ông Hải Phạm thoáng giật mình, vì anh ta nói to, đói quá. Ông Hy Vọng nói, anh ta là con lai. Bố Czech, mẹ Việt. Kết quả của một mối tình dang dở.

Ông có biết gì về cậu trai này không, ông Hải Phạm hỏi với một chút tò mò. Ông Hy vọng nói, dân chợ đây ai cũng biết, nhưng chẳng làm gì để có thể giúp cậu ta. Số là thế này, ông Hy Vọng kể, ngày ấy nước Tiệp Khắc chưa chia đôi, người Việt Nam sang bán sức lao động rất đông. Mẹ cậu trai này vừa mới tốt nghiệp cấp III, được ông bố là cán bộ cấp vụ gì đó làm ở Bộ Văn hóa gửi đi. Ông Hải Phạm nói, con nhà quan mà lại đưa đi lao động, không cho học lên thì cũng hơi lạ. Cũng chả lạ, ông Hy Vọng tiếp lời. Nghe nói ngay từ thời học sinh, cô này đã bất trị, ông bố đẩy đi cho rảnh mắt mà thôi. Cô ấy sang đây được bố trí về làm công nhân ở vùng Teplice, giáp Đức. Cô mê giai Tiệp, sống buông thả. Và kết quả là cậu bé được sinh ra, không có bố. Nổ ra “cách mạng nhung”, nước Tiệp Khắc xã hội chủ nghĩa sụp đổ, các hợp đồng lao động xuất khẩu mất hiệu lực. Cô gái giống như nhiều người Việt khác phải bế con về Việt Nam. Khi đó bố cô gái, ông vụ trưởng đã về hưu. Ông bố cảm thấy bị mất mặt với đồng liêu, bạn bè, hàng xóm. Nói con gái hư không có chỗ trong nhà này. Nài nỉ mãi, bà mẹ thương con xin được ông bố cho về ở căn hộ cũ trong khu lắp ghép vẫn cho sinh viên thuê.

Cậu trai lớn lên không có khai sinh, không được đi học, lêu lổng với đám trẻ khu tập thể, biết đủ mọi thứ, chỉ trừ không biết chữ. Đám trẻ khu tập thể gọi cậu là thằng Tiệp. Cậu hỏi mẹ, bố đâu thì mẹ bảo ở bên Tiệp Khắc. Biết một chút, cậu nằng nặc đi tìm bố. Mẹ cậu chỉ im lặng. Rồi mẹ cậu cũng tìm được người đàn ông cho mình. Nhưng muốn cưới thì phải gửi trả thằng Tiệp về cho bố nó. Mẹ cậu bèn tìm cách gửi cậu trở về nơi cậu đã sinh ra. Về Czech, cậu không biết bố ở đâu, tên gì mà tìm. Tiếng Czech không biết, cậu chỉ còn duy nhất một cách sống dựa vào chợ. Người Czech trong chợ gọi cậu là thằng Việt Nam. Vậy là cậu có hai tên, nhưng chả biết tên thực của mình là gì. Cay đắng thế.

16

Buổi trưa uống bia với nhà báo Vasek Fiala ở phố cổ trung tâm Praha, ông Hải Phạm đã hỏi, cộng đồng người Việt có thể được coi là cộng đồng dân tộc thiểu số ở Czech không, những sáu, bẩy mươi vạn cơ mà. Vasek nói, người Việt được hoan nghênh ở Czech, nhưng họ cũng làm nhiều điều khiến người Czech phiền lòng. Người địa phương không ăn thịt chim bồ câu, người Việt thì ngược lại, họ bắt chim giết thịt ăn. Người địa phương nuôi chó, quí chó như bạn. Người Việt Nam ăn thịt chó. Một việc thật khủng khiếp.

Thực lòng, ông Hải Phạm không thích nghe những điều ấy. Những ngày còn công tác ở Hà Nội, hầu như tuần nào ông cũng lên phố thịt chó Nhật Tân, quen thân một cô chủ quán xinh đẹp, đến mức cô ta hỏi vay tiền,  ông cũng cho vay. Cuối cùng không sao đòi được. May mà không nhiều. Nhớ lại một lần ông đi xuống gầm sàn nhà hàng, thấy những lồng sắt nhốt chó, những dăm chục con. Có cảm giác những con mắt chó nhìn ông một cách ghê tởm. Trên chiếc bàn gỗ, người ta để ba bốn con chó vừa thui vàng. Những con cho bị giết rồi, nhưng hàm răng nhe ra vẫn đầy đe dọa. Ông Hải Phạm vẫn không quên cái cảm giác kinh hãi khiến ông rùng mình, lạnh buốt sống lưng. Sau đó hầu như ông không ăn thịt chó nữa. Những người bạn thịt chó của ông ngày trước mắng ông, đồ gàn. Rằng hãy qua chợ Mông Tự (Vân Nam, Trung Quốc) mà coi, la liệt chợ thịt chó, bốn bề sùng sục lẩu thịt chó. Một mùi chó tràn ngập. Lại nữa, ở Hàn Quốc nhé, thịt chó là món không thể thiếu trong quốc yến.

Ông Hải Phạm thừa nhận, chẳng hạn người Việt Nam không ăn bọ xít vì mùi hôi, nhưng người Quảng Đông, Trung Quốc lại ăn. Mấy người bạn Quảng Đông nói với ông, bằng hữu ạ, người quê chúng tôi, tất cả những con gì bay trên trời, trừ máy bay, con gì chạy trên đất, trừ xe tăng đều ăn hết. Người Trung Quốc xưa còn ăn thịt tù binh, đám lục lâm thảo khấu Thủy Hử thường xuyên làm bánh bao nhân thịt người. Từ thế giới dã man đến thế giới văn minh con đường quanh co lắm.

Nhưng ông Hải Phạm không tranh cãi với Vasek. Ông muốn nghe tiếp. Ông muốn biết tại sao người châu Âu khó dung nạp người Việt, hay nói một cách khác, người Việt khó hòa nhập với người châu Âu.

Hình như khi đề cập đến vấn đề này, Vasek có gì đó bức xúc. Anh cầm cốc bia nâng lên, rồi đặt xuống. Ông Hải Phạm hỏi, what happened? Sao vậy? Vasek cười, no problem. Nhưng mà buồn, vì nhiều người Việt sang Czech như là đi buôn chuyến, đánh quả đậm rồi về, có đâu coi nước Czech là quê hương thứ hai. Sao cơ? Trước hết, họ không biết tiếng Czech, không có bạn bè người Czech thì làm sao hiểu được văn hóa bản địa để hòa nhập? Người Việt ở đâu cũng tụ cư, lập chợ rồi tạo ra một thế giới khép kín. Có vị dân biểu Czech đã từng than phiền ở quốc hội, chợ của người Việt đã hình thành một thế giới riêng, thực hiện một thứ luật pháp riêng, luật pháp của Czech không len vào được? Có nên tồn tại những chợ như thế không? Nghe nói Việt Nam có một câu tục ngữ rất hay, đáo giang tùy khúc, nhập gia tùy tục. Họ có quên không nhỉ?

Hiển nhiên Vasek có lí. Nhân khẩu Czech chỉ khoảng hơn mười triệu người. Đất nước trung Âu này cũng nhỏ. Chạy xe từ Praha sang Berlin (CHLB Đức), hay sang Viên (Áo) chỉ trong buổi sáng. Chợ của người Việt có ở Praha, có ở các thành phố lớn, ở ở các vùng biên giới. Hầu như chợ nào cũng có chùa. Một đội ngũ sư đông đảo ùa vào Czech mà chả biết những vị sư đó lai lịch gốc gác, phật pháp ra sao, họ dẫn dụ dân chúng đi theo hướng nào, tà đạo hay chính đạo?

17.

Sang Praha hơn tháng thì ông Hải Phạm liên lạc được với một người bạn đồng ngũ là Đình Đông A, cư trú tại Berlin. Cuối những năm 1980, Đình Đông A đi lao động xuất khẩu sang Liên Xô, rồi duyên nợ sao đó chuyển sang Đức, lấy vợ, có con. Con gái có quốc tịch Đức. Đình Đông A tha thiết mời ông Hải Phạm qua chơi. Con trai ông bèn quyết định thu xếp đưa ông đi.

Sáng sớm lên đường, gần trưa thì đến trung tâm Berlin, xe của cha con ông dừng lại bên một siêu thị trên đại lộ Moll. Trời nắng, vòm trời trong xanh ngỡ tầm nhìn có thể mở rộng ra mãi, không như buổi sáng, lúc rời thủ đô Praha mưa nhỏ, mây nặng như chì. Thời buổi những trạm kiểm soát biên giới quốc gia được dỡ bỏ, từ Praha đi Berlin dài ngót 400 km, xe chạy thong thả mất chừng 4 giờ.

Ông Hải Phạm nhận xét, hệ thống đường cao tốc ở Đức tốt hơn Czech, xe chạy êm hơn, nhiều khi chỉ nghe tiếng ma sát giữa bánh xe và mặt đường. Một đất nước dân số nhấp nhỉnh dân số Việt Nam, tài nguyên khoáng sản có lẽ khó so sánh với Việt Nam, nhưng GDP 2009 của Đức đạt 2.407 tỉ Euro (3.409 tỉ USD), bình quân thu nhập đầu người 41.000 USD. Nếu ông Hải Phạm nhớ không nhầm, thì nền kinh tế Đức vào hàng mạnh nhất Liên minh châu Âu.

Ông Hải Phạm gọi điện để Đông A ra đón. Người bạn ông tính tình vẫn như xưa, sởi lởi và hay chuyện. Đông A phóng xe đạp từ trong khu nhà ở rợp cây xanh ra phía đường, nơi cha con ông đứng chờ. Thả vội chiếc xe đạp xuống lề đường, Đông A lao về phía ông. Hai người ôm chầm lấy nhau, cùng nói mấy chục năm rồi, mấy chục năm rồi. Rồi, Đông A bật khóc, hai hàng nước mắt tuôn dài trên má. Đông A nói, tao bây giờ khỉ thế đấy, hay khóc như trẻ con. Hôm nào tiễn mày về, chắc còn sướt mướt hơn nữa. Đừng cười nhé. Ông Hải Phạm nói, chúng ta đều qua tuổi bẩy mươi cả rồi, mọi sự ở đời không gì không trải qua. Bây giờ chỉ còn là kí ức, đôi khi trở thành gia vị, nhưng sao chỉ thấy chua cay thôi nhỉ? Cũng có ngọt ngào, nhưng tao nghĩ chua cay có ý nghĩa hơn, để tỉnh ra. Ở nhà nghe đám bạn bè kể, ông Hải Phạm nói, mày định cư ở Đức, thì biết thế. Nhưng mày đi Nga cơ mà, mày ở Nga thì hợp lí hơn chứ, sao lại lưu lạc sang Đức. Đông A cười, nhiều cái cứ nhìn bề ngoài, xét thuần lí thì thế. Nhưng logic cuộc sống lại khác, có lối đi riêng, nhà văn nhà báo như mày cũng chả tưởng tượng được đâu. Chuyện này tao sẽ không kể bây giờ. Sau này mày sẽ biết. Tôn trọng bạn, ông Hải Phạm không nài.

Ông Hải Phạm và Đông A vốn cùng một tiểu đoàn Thiếu sinh quân ở trường Văn hóa quân đội Lạng Sơn. Đông A nhập ngũ năm 1960, còn Hải Phạm nhập ngũ năm 1961. Đời lính quăng quật sao đó, cuối cùng cả hai cùng vào học một trường đại học, tốt nghiệp cùng được điều về làm giảng viên Đại học kĩ thuật quân sự. Sau hơn mười năm làm công tác giảng dậy, ông Hải Phạm bỏ nghề kĩ thuật quân sự theo nghề viết lách, thì Đông A cũng chuyển đi nhận công tác khác. Từ đó mất liên lạc, nhưng trong tâm tưởng vẫn không quên nhau.

Sau cái ôm bạn bè, ông Hải Phạm và Đông A rời nhau, cùng vỗ vai, cùng ha hả cười. Mái tóc bồng bềnh rất đẹp ngày xưa của Đông A bạc xóa, trong veo trong nắng. Đông A nói, mày dường như chả có thay đổi gì. Ông Hải Phạm nói, thoạt nom mày thấy khác quá, mái tóc bạc mà lại trong veo, gương mặt hơi bệu bệu. Chỉ giọng cười, điệu bộ là chẳng thay đổi. Đông A nói, chỉ vài năm nay tao ba lần đối mặt với tử thần. Bệnh tim. Vừa mới đại tu xong. Nếu mày đến trước ít tháng, chắc tao không khỏe mạnh thế này. Nói rồi, Đông A dẫn cha con ông Hải Phạm về nhà, một căn hộ có hai phòng ngủ, phòng khách, phòng ăn và bếp, tận tầng 17 trong khu chung cư đại lộ Moll. Sau bữa trưa nhẹ, con trai ông trở về Praha để ông lại với bạn.

Cuối thu. Buổi tối Berlin hơi lạnh. Uống gì nhỉ, Đông A hỏi. Ông Hải Phạm hơi e ngại nói, ông bệnh tim có uống được không, bác sĩ có cấm không. Đông A đáp không cấm, khuyến khích uống là đằng khác, dĩ nhiên là chừng mực. Bà vợ Đông A cười cười, hóa ra cũng là người quen cả. Ông Hải Phạm nhớ lại, ngày còn ở trường Đại học kĩ thuật quân sự, bà là cô nhân viên kĩ thuật xinh đẹp phòng thí nghiệm hóa. Trời ơi, thì ra Đông A đã có tình ý với nàng này từ thời đó. Đông A rót ba li rượu vang, chạm lanh canh và uống, uống nhâm nhi.

Trong thâm tâm, ông Hải Phạm nghĩ, người bị bệnh tim thường hơi béo, chậm chạp. Đông A cũng béo, đến mức ngạc nhiên lúc vừa gặp mặt, nhưng lại nhanh nhẹn. Cơm nước xong, Đông A đưa chiếc va li của ông Hải Phạm vào góc căn phòng chính nói, đây là phòng của vợ chồng tao nhường mày. Chúng tao ở phòng con gái, cháu đi học ở Hamburg. Ngắm kĩ căn hộ của Đông A, thấy cũng giống căn hộ của gia đình ông Hải Phạm ở Praha. Tiêu chuẩn châu Âu chăng? Cả hai vợ chồng Đông A đều đã nghỉ hưu, hưởng trợ cấp xã hội của Đức, sống tùng tiệm. Đêm đầu tiên ở Berlin, ông Hải Phạm và Đông A gần như thức trắng.

Ở Czech, ông Hải Phạm quan sát, người Việt nào cũng sắm ô tô, tùy túi tiền mà xe sang hay xe thường. Người Việt ở châu Âu chắc cũng thế. Vốn là một tay mê tốc độ, ông Hải Phạm chắt bóp cũng mua được chiếc xe rẻ tiền Dawoo Lanot. Ông hỏi Đông A, mày đi xe gì? Đông A đáp, tao đi cái Passat, nhưng bán rồi. Người mắc bệnh tim không nên lái ô tô. Phương châm của tao bây giờ, gần thì đi bộ, xa thì đi phương tiện công cộng: tầu điện có đường ray, tầu hỏa trên cao, tầu điện ngầm, xe buyt. Ở Đức, những người trên sáu mươi đều được cấp thẻ miễn phí đi các phương tiện công cộng.

Sáng hôm sau, Đông A dẫn ông Hải Phạm đi xe điện đến quảng trường Alex nơi có ga chính (cũ), rồi lên tầu trên cao đến ga mới, ga Berlin Hauptbahnhof. Đông A nói, đây là một nhà ga vĩ đại, đầu mối giao thông của châu Âu. Nước Đức xây nhà ga Hauptbahnhof để chuẩn bị đón Giải bóng đá thế giới năm 2006, chỉ xử dụng hai loại nguyên liệu chính là thép và kính, thi công trong vòng 8 năm. Ga này khánh thành trước khai mạc Giải vô địch bóng đá thế giới, báo chí Việt Nam cũng đưa tin khá nhiều. Ông Hải Phạm không thể tưởng tượng việc thiết lập hệ thống chỉ huy điều hành 1.000 đoàn tầu cùng khoảng 30.000 hành khách đi đến trong một ngày đêm như thế nào. Chỉ biết khi tận mắt nhìn những trụ thép, những ống thép, những cấu kiện thép, ông không khỏi tấm tắc khâm phục. Sau này, khi ngồi tầu nhanh EC rời Berlin trở về Praha mỗi khi qua một ga lớn, ông Hải Phạm lại được chiêm ngưỡng những cấu kiện thép như vậy. Di dạo mỏi rồi, Đông A đưa ông vào một quán vỉa hè uống bia Đức, nói mày khâm phục nước Đức bằng mắt, còn tao thì tự thân trải nghiệm. Rồi mày sẽ biết tại sao tao không về sống ở Việt Nam nốt những năm cuối đời.

Hôm ấy tuyết xuống nhiều, Đông A kể, tao có việc phải lái xe đi, nhưng không nổ được máy. Tao xuống xe, vòng ra phía sau, lấy hết sức đẩy nó. Rồi lại ra phía trước, đẩy. Lúc ấy trời còn sớm, người đi lại thưa thớt. Cậy mình có sức khỏe, tao ra sức đẩy. Bỗng nhiên thấy tức ngực, nhức hai bên thái dương, mắt tối sầm, như trời sập. Vô thức bảo tao, trái tim trở chứng rồi. Tao nhớ ngay đến trạm y tế cách đấy độ dăm trăm mét, liền bỏ xe và chạy. Tao không biết mình chạy được bao xa thì gục ngã, bất tỉnh nhân sự.

Rồi mở mắt ra thấy một màu trắng toát. Ông bác sĩ người Đức khẽ nheo mắt, nói tim anh bạn có vấn đề, phải đưa lên bệnh viện mổ ngay. Xe cấp cứu chở tao đi, người ta mổ, không phải là phanh ngực ra đâu mà là rạch ở bẹn, thông qua tĩnh mạch đặt cho trái tim giở quẻ của tao một ống thông, thuật ngữ nghề nghiệp gọi là sten. Nhưng trái tim bướng bỉnh, sáu tháng sau lại phải đặt thêm một sten nữa.

Sten là cái gì? Là một ống thép được đưa theo đường tĩnh mạch lên làm nhiệm vụ thông tắc ở động mạch vành. Nhưng trái tim của tao dù có hai sten rồi, vẫn bướng bỉnh và ngoan cố như tính cách của chủ nhân nó vậy. Mày ở với tao ngần ấy năm, biết tính tao rồi, cứng đầu, không dễ bảo. Khi tao về công tác ở Bộ môn, nói là Bộ môn nhưng chỉ có nhõn một, kĩ sư Lý Phan. Trong lần tháo quả đạn Mỹ, không may quả đạn nổ, Lý Phan hy sinh. Đó là một điều đáng tiếc. Sau này, người ta muốn phong Anh hùng cho anh ấy, đã gợi ý để tao nói những điều không có trong thực tế, tao đã dứt khoát từ chối. Không phải khi người đã mất rồi, muốn đặt vào miệng người ta điều gì thì đặt. Mình phải biết ngượng nếu mình nói dối chứ. Ông Hải Phạm thở dài, bây giờ nhiều thằng nói dối hơn Cuội, nhưng nom mặt cứ nhơn nhơn, phát ghét. Chả trách, Đông A cảm thán. Nói về trái tim của tao. Đặt cái sten thứ hai không được bao lâu, lại trở chứng. Bác sĩ bảo phải phẫu thuật, bắc cầu tim nối động mạch chủ- vành. Mổ tim là một cuộc đối đầu sinh tử. Vợ và con gái tao nước mắt ngắn dài. Tao động viên bảo, kiếp người là một vòng tròn, sinh- lão- bệnh- tử, chết già hay chết trẻ thì vẫn là chết, là một phần trong cái vòng tròn ấy. Hãy đón nhận nó như một phần của sự sống.

Ở Việt Nam, ông Hải Phạm tiếp lời, những ca cấp cứu hoặc mổ tim như thế đâu có đơn giản. Một trong những mối lo của người mổ tim là tiền, phải có hàng trăm triệu đồng. Lại còn đủ các mối quan hệ ở bệnh viện. Một ma trận, không khéo có thể mất mạng như bỡn. Nổi cơn tò mò, ông Hải Phạm nói, một anh người Việt ngụ cư lại có thể được giải quyết nhẹ nhàng nhanh gọn như mày nói sao? Đông A cười ha hả, sự thực là như vậy, ở Đức người ta căn cứ vào bệnh tật mà quyết định phương thức điều trị, chữa trị chứ không căn cứ vào túi tiền.

Đông A kể ca mổ tim của ông kéo dài chừng 10 giờ, nằm ở phòng hậu phẫu hai ngày thì chuyển xuống phòng bệnh. Rồi ngay sau đó phải chuyển đi đến một nơi xa mấy trăm cây số để điều dưỡng. Tao nằm cùng phòng với một bệnh nhân người Đức, Đông A kể tiếp. Cha này là giám đốc một công ty gì đó, rất có tiếng ở Đức. Chúng tao thi thoảng nói chuyện với nhau về gia đình, về quê hương. Tao được dịp khoe Thái Bình, những cánh đồng thẳng cánh cò bay và bờ biển xanh rờn sóng vỗ cùng con đê Nguyễn Công Trứ đắp thuở khai hoang ngạo nghễ hiện lên cuối đường chân trời. Ông bạn Đức tấm tắc, thật tuyệt, nghe kể tôi cứ muốn sang liền thăm quê bạn. Một lần không hiểu sao, thằng cha độp hỏi, bạn nghĩ thế nào về người Đức? Tao nhớ trong một cuộc tọa đàm ở Diễn đàn các tổng biên tập báo xuất bản bằng tiếng nước ngoài ở Đức, một vị tổng biên tập báo ở một đất nước phương Đông xa xôi đã kể một câu chuyện nghe vui, nhưng cũng không kém phần ý nghĩa. Rằng ông nội ông ta mua một chiếc xe đạp Đức, đi hàng chục năm, để lại bố ông ta đi, bây giờ ở nhà ông ta vẫn đi chiếc xe đạp đó. Tao đáp, nước Đức rất khoan hòa, đã chấp nhận chúng tôi, những người Việt Nam. Con gái tôi quốc tịch Đức, sắp đến tuổi đi bầu cử rồi. Khi tôi lên cơn đau tim bị ngất trên đường, những người Đức vô danh đã đưa tôi đến trạm y tế, cứu sống tôi. Ông bạn Đức nắm tay tao rất chặt. Tao cảm thấy bàn tay ông ta ấm nóng, thân thiết. Thật tình cờ, hai chúng tao cùng ra viện một ngày. Hôm đó tao có bạn đánh xe đến đón. Tao nói với ông bạn cùng phòng, lên xe bạn tôi đưa về luôn thể. Ông bạn suy nghĩ rất lâu, vẻ lưỡng lự. Tao nói đây là xe của bạn rất thân, sẽ đưa về tận nhà, đừng ngại. Cuối cùng ông bạn người Đức đồng ý lên xe. Tuy nhiên, khi về đến nhà, ông bạn móc túi lấy tiền, dứt khoát phải thanh toán tiền xe. Người Đức không muốn nợ (mang ơn) ai cái gì. Ông Hải Phạm biểu đồng tình, đúng tính cách Đức.

Những ngày ở Berlin, Đông A đưa bạn đi thăm thành phố, đi về tận Postdam thăm cung Sans Souci, cung Vô ưu của Hoàng đế nước Phổ, vua Phriedrich Đại đế. Đi thăm đại học tổng hợp Hambol. Ông Hải Phạm tự nghĩ, một người bị bệnh tim như Đông A làm sao lại có thể nhanh nhẹn và dẻo dai đến như vậy. Đôi lần ông rụt rè bầy tỏ, không muốn buộc Đông A phải vì mình mà vất vả đi lại như vậy. Đông A vỗ vào ngực bảo, tao vừa bảo dưỡng tim xong, chứ cách đây ít ngày không được như thế này đâu. Ông Hải Phạm hỏi bảo dưỡng như thế nào? Đông A nói, y học bây giờ hiện đại lắm, có thể dùng robot vệ sinh toàn bộ hệ thống mạch máu. Tao đã nằm nhìn lên màn hình, thấy con robot cần mẫn dọn dẹp những cặn bã ở mạch máu, để sự sống được thông suốt, không tắc nghẽn. Chợt nẩy mơ ước, con người đến một lúc nào đó có thể tìm ra cách thức để kéo dài tuổi thọ, biến ước mộng Tần Thủy Hoàng tìm thuốc trường sinh thành hiện thực. Ông Hải Phạm cảm thấy cái không khí lạc quan lan tỏa, nhìn Đông A nói, người ta có thể tìm ra phương thức làm cho trái tim trẻ mãi không già. Đông A cười thiệt to, tao cũng hy vọng như thế. Nhưng bây giờ thì chưa có, cứ phải dự phòng trước cái đã. Nói thật nhé, trước đây tao nghĩ, già mình sẽ về quê Thái Bình, cơ ngơi đã xây dựng đầy đủ rồi, sẽ sống với làng xóm, trông coi mồ mả tổ tiên. Nay thì tao quyết định ở lại Đức, trái tim tao bảo tao thế. Trong túi áo tao đây lúc nào cũng có tờ giấy, ghi tôi Đình Đông A, vợ… con… địa chỉ… điện thoại… Tôi không nợ ai cái gì và cũng không có ai nợ tôi cái gì. Trong phòng tắm tao có một cái chuông, có chuyện gì thì giật báo cho vợ con biết, đi đâu xa tao luôn đưa vợ đi cùng để nếu có chuyện gì thì vợ tao có thể sử lí được ngay. Có lẽ ở Đức lâu năm, Đông A cũng đã ngấm phần nào tính cách Đức chăng.

18.

Buổi chiều khi đến Berlin, Đông A đưa ông Hải Phạm đi dạo trên Karl Marx Allee, rất rộng, hai bên trồng những cây có tán lớn xanh rờn. Đông A bảo, nguyên tắc trồng cây xanh ở đây, theo khung 03 năm hoặc 05 năm. Nghĩa là anh thầu trồng cây, phải trồng và chăm tưới 03 năm hoặc 05 năm, bảo đảm cây sống mới được nhận tiền công. Thời còn CHDC Đức, đại lộ Karl Marx này rất sầm uất, đông đúc. Những kiến trúc theo khuôn mẫu Chủ nghĩa xã hội vẫn còn sừng sững hai bên đại lộ, những tòa nhà có cấu trúc vuông vức giống nhau, nay nhiều tòa bỏ không. Berlin là thành phố vào loại đông dân nhất Tây Âu, khoảng 3,5 triệu người, nhưng không có cảm giác chen chúc, chật chội. Ô tô nhiều, dĩ nhiên, nhưng người đi xe đạp không ít. Có lối dành riêng cho xe đạp. Trên quảng trường có đài phun nước, nghe nói ngày trước có đặt hai pho tượng đồng Karl Marx và Phriderich Engels, sau khi nước Đức thống nhất đã được rời đi nơi khác, đến đầu cầu bắc qua sông Spree, lối sang Cung Cộng hòa.

Căn hộ của Đông A trú ở ngay trung tâm thành phố, đi bộ khoảng mươi phút thì đến quảng trường Alexander, nơi có lắp đặt một chiếc đồng hồ Thế giới, với phía trên là biểu tượng của khoa học kĩ thuật hiện đại. Trên quảng trường còn có tháp truyền hình cao 365 mét với quả cầu nặng 4,800 tấn. Xếp hàng đi thang máy lên đó, uống một li cà phê hay một li bia ngắm nhìn Berlin ngập trong ánh đèn đêm thì thật lí thú. Từ trên cao có thể nhìn thấy sông Spree uốn lượn, có thể hình dung ra Dinh Thủ tướng, Nhà Quốc hội Đức và nhà ga Berlin Hauptbahnhof ở bên bờ sông, sát bức tường Berlin nay còn lại ít đoạn như một chứng tích lịch sử.

Một buổi, ông Hải Phạm ngồi uống bia với Đông A ở quảng trường Postdam, lẫn với những khách du lịch và người dân sở tại. Người Đức cũng như người Czech đều thích uống bia. Đi tầu hỏa trên cao, nhìn xuống hai bờ sông Spree, những phố đi bộ, những quảng trường thấy quán bia nối nhau một cách hòa bình. Đông A kể, ngày 8/8 là Lễ hội bia Berlin, ngày 29/9 Lễ hội bia thế giới ở Munchen. Bia có độ cồn thấp. Quán bia là nơi để người ta gặp gỡ, chuyện trò, trút bầu tâm sự. Ông Hải Phạm còn nhớ, nhà viết kịch Vaxlav Havel, cha đẻ cách mạng nhung Czech đã nói, đại ý quán bia chính là nơi làm dịu đi những bức xúc xã hội.

Đông A thao thao hơi có chút “kiêu ngạo hãnh diện”, nước Đức có thể xem như một cuốn sử châu Âu. Mày đi thăm Berlin là khám phá những trang sử đó. Rồi quyết định luôn, mai đi Postdam. Ông Hải Phạm không có lí do gì để phản đối. Những năm còn làm việc, thông tin mà ông tiếp nhận đều từ trên chọn lọc rồi ùn xuống, nhận định và đánh giá thế giới đều được các nghị quyết Đảng định hướng. Mỹ mà xấu, chủ nghĩa tư bản đang rẫy chết. Ông không hiểu được hoặc hiểu rất định hướng, tại sao hàng triệu dân chúng miền Bắc lại sợ hãi cộng sản, cuống cuồng di cư vào Nam. Những cuộc chiến tranh, những cuộc di tản có qui mô lục địa hoặc toàn cầu giống như những va đập kinh khủng, đập vỡ thành trì tinh thần bưng bít con mắt ông. Và ông đã nhận ra nhiều điều. Như thế có muộn quá không? Lần này đi châu Âu, ông có điều kiện kiểm nghiệm lại những kiến giải của mình. Phương châm của ông lúc này gói trong mấy chữ, “đi- nghe- nhìn- suy ngẫm”.

Đông A thành thạo như một hướng dẫn viên du lịch, rất biết hài hước, nói. Tao cứ định hướng cho mày trước, nhưng tao cũng khuyến khích mày độc lập suy nghĩ. Và kể. Postdam là thủ phủ của tiểu bang Brandenburg, là nơi vua nước Phổ, Friedrich Đại đế xây cung Vô ưu, cung Sans Souci. Bởi Postdam thuộc vùng đô thị Berlin- Brandenburg, giao thông từ Berlin đi Postdam thật thuận tiện. Sáng hôm sau, vợ chồng Đông A cùng ông Hải Phạm đi về Postdam.

Họ đáp tầu hỏa trên cao đi xuống Postdam. Xuống ga, ra bến xe buyt chờ không đến 5 phút thì có xe đi Sans Souci.

Cung điện được xây trên một ngọn đồi chắc do có sự cải tạo của con người tạo ra nhiều bậc thang. Bao quanh là những cánh rừng được chăm xóc chu đáo, những pho tượng nghệ thuật được dựng lên ở khắp nơi. Khách tham quan rất đông. Hôm đó trời nắng gắt. Nhưng trong bóng râm thì lại mát. Những người khách Việt Nam dừng lại nghỉ dưới bóng một chiếc cối xay gió. Mải nghe một nhạc công đường phố tấu bài Trống cơm, ông Hải Phạm quên mất ý định hỏi xem nó được xây dựng từ thế kỉ nào, sau này ông không có điều kiện để tra cứu nữa. Trong khi đó Đông A vẫn cần mẫn như một hướng dẫn viên du lịch thật sự nói, Sans Souci này nghe đồn được xây dựng bởi hậu duệ những người Ethiopia, Ai Cập, Carthage, và Tây Ban Nha cổ đại. Mày hãy để ý những chi tiết thiết kế của Sans Souci sẽ thấy một vẻ đẹp tổng hòa, vô tư lự. Vì thế nên được mệnh danh là cung Vô ưu. Năm 1982, UNESCO đã công nhận cung điện Sans-Souci cùng pháo đài gần đó là di sản thế giới.

Ông Hải Phạm nhớ lại gương mặt của nghệ nhân kéo violon đứng dưới bóng râm chiếc cối xay gió cổ lỗ, một gương mặt đôn hậu với cặp mắt thông minh. Khi thấy nhóm ông Hải Phạm dừng lại, anh mỉm cười kéo bài Trống cơm, dù không có một lời đề nghị nào. Bằng vốn tiếng Anh ít ỏi, ông Hải Phạm hỏi sao lại biết chúng tôi là người Việt Nam? Người kéo đàn nói, không phải người Nhật vì người Nhật tự tin hơn, không phải người Trung Quốc, vì người Trung Quốc khó hiểu và cần phải đề phòng hơn. Ra thế. Theo sự hiểu biết của ông Hải Phạm thì tại nơi đây, chủ nhân của cung Vô ưu, Friderich Đại đế đã kết bạn với triết gia Pháp, nhà văn Voltaire, biến nó thành thủ đô triết học của nước Phổ.

Đi mỏi chân, dừng lại nghỉ trên một bãi cỏ xanh, Đông A lại tiếp tục phần công việc dang dở của mình. Nhìn đi, Đông A nói, với những giàn nho xanh mướt, chiếc đài phun nước khổng lồ và một mặt hồ phẳng lặng in bóng trời xanh, Sans Souci còn được gọi là cung Mùa hè. Lịch sử là một giòng chẩy cuốn phăng mọi thứ rác rưởi đồng thời cũng đưa những sự vật, những con người về đúng vị trí của nó. Ông Hải Phạm hơi ngạc nhiên, nói mày thành triết gia từ khi nào vậy? Tao nhớ có lần đã chấm cho bài thơ dự thi của mày giải nhất, rồi sau phát hiện ra mày thuổng từ một cuốn sách, mày thú nhận và bảo quan trọng đếch gì, báo tường í mà. Đông A cười, ở đời này thuổng của nhau là chuyện cơm bữa. Như thơ Đường đấy, mày có muốn tao chỉ ra cho mày biết những ai thuổng không? Vấn nạn lớn nhất của chúng ta là thuổng của người khác, coppy ý tưởng của người khác. Và thoái hóa trở thành động vật. Mai tao sẽ đưa mày đi thăm Bức tường Berlin. Người ta luôn nói phải xây dựng bức tường thành lòng dân, nhưng những người cầm đầu Liên Xô và CHDC Đức thời bấy giờ lại chủ trương xây bức tường Berlin, lại nghĩ là mình khôn, nhưng than ôi, sự thật  không phải thế.

Sự sụp đổ của bức tường Berlin là một sự kiện lịch sử, nhưng cũng là một sự kiện có tính tượng trưng của một thời đại. Sau khi thống nhất nước Đức, người ta đã phá bức tường ngăn cách Đông- Tây, chỉ để lại một đoạn như là vật chứng. Phần còn lại của bức tường lưu giữ nhiều bức tranh của nhiều họa sĩ. Những bức tranh biểu thự sự phẫn nộ, sự bất bình, sự hoan hỉ, sự diễu nhại. Và… tất cả những gì là biểu tượng của cảm xúc đều được thể hiện. Có một bức tranh lớn khá ấn tượng, khiến ông Hải Phạm chú ý, tranh Vua Chuột. Bức tranh gợi lại một câu chuyện, như một ẩn dụ.

Hai mươi năm sau khi bức tường ngăn cách Đông- Tây sụp đổ, nhìn lại người ta dễ thấy sự phi lí, sự vô luân, sự sợ hãi và các sắc đạo đức giả. Riêng với sự từng trải của bản thân mình, ông Hải Phạm thực sự nhận ra rằng, khao khát tự do, dân chủ dù có bị đàn áp đến cùng cực vẫn lớn hơn nỗi sợ hãi. Con người dù có bị coi như con vật, bị cướp mất tiếng nói thì kí ức vẫn có cách bảo tồn để một ngày nào đó trở lại làm người, nói tiếng nói của con người.

Ngày 13/8/1961, sau một đêm thức dậy, người dân Berlin ngỡ ngàng thấy một bức tường dài hàng ngàn mét dựng lên ngăn cách giữa Đông và Tây. Tất nhiên đó chỉ là cách miêu tả của báo chí. Thực ra phía Đông Đức và Liên Xô đã chuẩn bị xây dựng bức tường này từ lâu, vì số người dân Đông Đức và Đông Berlin chạy sang Tây Đức ngày càng nhiều. Theo Wikipedia từ năm 1949 đến năm 1961 đã có 2,6 triệu người Đông Đức bỏ sang Tây Đức. Đe dọa, khủng bố, ngăn cấm không thể làm giảm làn sóng di cư. Các nhà độc tài hoàn toàn không hiểu tại sao thần dân của mình lại không yêu thiên đường mà họ đem lại. Việc xây bức tường Berlin là bước cùng quẫn cuối cùng.

Đường biên giới giữa Đông Berlin và Tây Berlin dài 43,7 km, nhưng biên giới giữa Đông Đức và Tây Đức dài đến 156,4 km. Bức tường Berlin thực tế dài hơn chiều dài thực tế giữa Đông và Tây Berlin nhiều, gồm hai bức tường kích cỡ khác nhau và hàng rào thép gai: tường cao 3,60m dài 41,91 km; tường cao 3,4m dài 58,95 km; hàng rào thép gai cao 2,90 m dài 68,42 km. Cũng là một thứ vạn lí trường thành của Tần Thủy Hoàng thu nhỏ. Sau khi chính quyền Hunggari mở cửa biên giới, dưới sức ép của người dân Đông Đức mỗi ngày một lớn, chính quyền Đông Đức buộc phải nới rộng việc hạn chế người đi ra nước ngoài. Và đến ngày 9/11/1989 mọi sự ngăn cấm tê liệt, bức tường Berlin sụp đổ. Người dân Đông Đức tràn qua bức tường, được dân Tây Đức đón tiếp nồng nhiệt, Chính phủ Tây Đức đã tặng cho mỗi người 100 DM.

Ông Hải Phạm đi dọc bức tường, dừng lại lâu trước bức tranh Vua Chuột. Bức tranh được sáng tác dựa theo câu chuyện có thật về những người trẻ tuổi đã tìm cách đào hầm ngầm để trốn khỏi phía Đông. Ở Đông Berlin, khi còn hiện diện CHDC Đức, người ta có làm một đài lửa vĩnh cửu, có lẽ phỏng theo đài lửa vĩnh cửu trên quảng trường Đỏ ở Maxkva, trên một nền rộng, khuôn che bằng một tòa nom giống như lâu đài. Đài lửa ấy đã tắt, giờ thay thế bằng bức tượng bà mẹ ôm trong lòng người con trai. Nom gương mặt người con trai sương gió như gương mặt một người lính, sau chiến tranh trở về, được mẹ ôm vào lòng, che chở như ngày nào còn thơ dại. Cuốc chiến tranh thế giới đã cướp đi hàng triệu triệu sinh mạng, tổn thất không gì bù đắp được đi qua đã lâu. Cuộc chiến tranh ý thức hệ sau này, cuộc chiến tranh lạnh, chỉ riêng nơi chân tường Berlin đã có hàng ngàn người chết. Cái đài tưởng niệm này đã có bao người viếng thăm. Cái đài tưởng niệm đã thay đổi. Con mắt nhìn cũng đã khác. Tiếng nói cũng đã khác.

Cái hôm, trước khi vượt cầu qua sông Spree đến Cung Cộng hòa, Đông A dẫn ông Hải Phạm đi qua một quảng trường nhỏ, một ngôi nhà thờ đến một công viên nhỏ. Ở đấy ông Hải Phạm thấy người ta đặt hai pho tượng đồng rất lớn, Karl Marx và F. Angels. Gần chỗ đặt hai ngôi tượng, nhiều tấm đá đen to và cao được dựng lên như một rừng bia đá. Không thấy có hoa tươi. Ông Hải Phạm nhớ lại, ngày bé, ông đã thấy ảnh của hai vị lãnh tụ cộng sản này ngay tại nhà mình, khi người ta làm lễ kết nạp cha. Ông chợt nhớ đến con gái của Đông A. Cháu có quốc tịch Đức, sang năm là đến tuổi bầu cử.

Con gái Đông A tên Phương Phương. Cháu học giỏi, được công ty IBM cấp học bổng, đang theo học đại học ở Hamburg. Khoảng hai hôm, sau khi ông Hải Phạm đến thì Phương Phương về thăm nhà. Hai bác cháu đã nói chuyện với nhau thật bình đẳng. Phương Phương rất thạo tiếng Việt. Mặc dù nghỉ thăm nhà, nhưng do Phương Phương đang tham gia nhóm thiết kế mẫu thời trang, lấy cảm hứng từ phim hoạt hình Nhật Bản, nên đêm nào cháu cũng thức đến một hai giờ sáng vẽ mẫu và cắt may.

Với ông Hải Phạm, có thể Phương Phương là điển hình của một người Đức gốc Việt, đã vượt khỏi con người của nền văn hóa Khổng Nho sang nền văn hóa hiện đại của nhân loại. Ông biết Đông A rất yêu con gái, và với tính gia trưởng của mình cũng muốn áp đặt nhiều điều mà người cha nghĩ là tốt cho  con. Nhưng thường Đông A thất bại. Sợ con mất gốc, Đông A tự soạn một chương trình học tiếng Việt cho con. Để luyện phát âm, hàng ngày Đông A buộc con mở ti vi xem chương trình của đài truyền hình Việt Nam. OK. Nhưng đến năm vào lớp một, Phương Phương nhất quyết không chịu để bố cầm tay luyện viết chữ đẹp. Cháu nói theo giọng người lớn, chữ viết là tính cách riêng của con, bố hãy tôn trọng con. Năm học lớp 7, cháu ứng cử làm “người phát ngôn của lớp”. Trong các trường học ở Đức, người ta không có chức danh lớp trưởng. “Người phát ngôn của lớp” như là tiếng nói đại diện, không phải chỉ huy. Khi VTV có chương trình Đường lên đỉnh Olympia, cháu rất thích theo dõi, nhưng từ khi đi tham quan Hylap một tuần trở về, cháu từ chối xem chương trình rất hấp dẫn đó. Cháu nói với bố, con ghét nói dối. Thoạt đầu Đông A không hiểu, nhưng sau khi lục tìm trên mạng, mới biết rằng, làm gì có đỉnh Olympia mà leo. Olympia là cánh đồng bằng ở vùng Elis, nơi đã diễn ra các đại hội thể thao Olympic, còn dãy núi có đỉnh cao nhất Hylap gọi là dãy Olympus, theo thần thoại Hylap là nơi thần Zeus (Dớt) trú ngụ.

Ông Hải Phạm hỏi, cháu đã về Việt Nam rồi, cháu có ấn tượng gì về quê cha đất tổ. Cô con gái Đông A mắt sáng lên. Cảm giác của cháu là thế này: Sông- núi- đồng bằng- biển đều rất đẹp, cảm giác là choáng ngợp. Thỏa thuê màu xanh. Nồng nàn nắng gió. Cháu tự hào. Vậy cháu không thích gì, cháu sợ gì, bụi bậm, còi ô tô, xe máy? Dĩ nhiên là có loạn và ô nhiễm nặng, Phương Phương nói, nhưng đó là Đông- Nam Á đang phát triển, chấp nhận. Cái cháu ghét nhất và thật khó hiểu, tại sao ở ngã ba ngã bảy, khi có đèn đỏ người ta không dừng lại mà cứ bấm còi inh ỏi và vượt (?!) Ông Hải Phạm nói đùa, đến ông hết đời người rồi cũng không hiểu nữa là.