CHÚ CHIM SẺ VÀ CHIẾC LỒNG SON – Tản văn của Thiên Minh Nguyệt

Khi nghe tên của câu chuyện các bạn sẽ nghĩ nhân vật chính là một chú chim sẻ nhỏ nhưng thật chất câu chuyện này kể về một cây Nhãn. Đáng nhẽ ra nó thật bình thường nhưng trong ánh mắt một người nào đó hoặc chí ít là người viết nên câu chuyện này thì có một điều gì đó khác thường, đáng nhớ. Đôi lúc có những thứ không có giá trị với người này nhưng lại trở nên đặc biệt, quý giá với người khác. Những điều gần gũi sẽ thành thương yêu với ta, những thứ ta thích có thể người khác sẽ không thích thậm chí ghét nó. Cây nhãn trong câu chuyện này cũng vậy, nó có ý nghĩa với một đôi người nhưng những chị trong đội vệ sinh rất ghét nó vì nó rụng lá nhiều quá, lá bay khắp nơi vào mọi mùa trong năm.

Ở một góc ngã tư đường, cây nhãn đứng chơ vơ, lạc lõng như một loài cây khác với những cây cùng loài mà người ta trồng ven đường. Thật ra thì người ta đâu có trồng cây nhãn này, cây nhãn này thuộc về một hộ gia đình mà khi nhà nước giải tỏa đền bù đất để làm trung tâm hành chính huyện Bến Cát. Mọi người không ai biết nó có từ bao giờ, do ai trồng nhưng khi tiến hành làm đường thì đã nổi lên một cuộc tranh cãi xung quanh việc để cây nhãn hay đốn hạ nó đi. Cuối cùng phía thi công thấy được khả năng để lại cây nhãn vì nó nằm hơi chếch vào bên trong, mặc dù nó hơi to quá khổ, gốc của nó đã vượt ra ngoài hành lang an toàn đường bộ khoảng chừng hai tấc. Thế nhưng chín bỏ làm mười, người ta đã du di nhiều cho cây vì một nỗi cái cây này có không dưới năm mươi năm lịch sử. Có rất ít người nhớ được về nó, trong đó có một ông lão tuổi đã gần 60 kể rằng khi ông còn nhỏ đã thấy cây nhãn này. Như vậy chí ít cây nhãn cũng được năm mươi năm. Thật ra thì hiện nay trông cái cây ấy cũng đã già lắm rồi, gốc cây to xù xì, nhấp nhô. Từng cái vảy của nó cứ chen nhau hết lớp này đến lớp khác, thân nó thì quặt quẹo nhưng vẫn đứng vững và như tràn đầy nhựa sống trên từng chiếc lá, ngược lại hẳn với cái thân già nua của nó.Vỏ ngoài của nó khô đét lại, quăn queo lắm, nó chia làm hai nhánh thân cây đâm từ dưới đất lên. Cả hai nhánh thân đều đã khắc khổ với thời gian nên dường như không còn lành lặn và trơn mượt như những cây nhãn ta thường thấy. Cũng dễ hiểu thôi, từng ấy năm làm nhân chứng chịu trên một vùng đồi đầy nắng Miền đông này, nó đã vượt qua những nắng mưa và thậm chí là bom đạn một thời. Những nguy cơ bị đốn hạ và những sâu mọt. Thế mà nó vẫn đứng vững ngay ngã tư đường, tính từ ngã tư vòng xoay tượng đài gần chợ Bến Cát đi lên thì cây nhãn chỉ cách đó khoảng 150 mét mà thôi. Nó áng ngữ trước bưu điện huyện Bến Cát từ khi bưu điện được xây cho đến nay. Những tàng lá của nó làm cho người mới đến sẽ khó khăn trong việc xác định được bưu điện Bến Cát, hầu như ai đến đây muốn tìm bưu điện đều phải hỏi đường.

Đối diện bên tay phải của cây nhãn, băng qua bên kia đường là kho bạc nhà nước huyện Bến Cát. Nhìn nó trông cứ giống hao hao một cái dinh thự có từ đời Pháp vậy, với lối kiến trúc đặc trưng, những hoa văn họa tiết mang đậm dấu ấn Tây phương. Ngăn cách giữa con đường ấy là một dải phân cách bằng luống hoa, những cột đèn thường được thắp sáng hằng đêm. Cây nhãn đứng ở vị trí như dựa lưng vào bưu điện rồi nhìn trực diện vào kho bạc. Phía bên tay trái của nó cũng giáp một con đường thoai thoải nhưng ngoằn ngoèo dẫn xuống bờ sông. Bên kia đường là một văn phòng luật sư vừa mới mở đầu năm 2008. Nhìn về phía góc ngã tư đường hơi chếch là một cây bàng cũng táng lá cũng tương tự cây nhãn, nhưng nhìn cây bàng ấy còn trẻ trung lắm. Sau cây bàng có Tòa án huyện Bến Cát, một tòa nhà nhìn hơi cũ kỹ, một nơi thường có đông người lui tới. Cạnh bên là một con đường nhỏ khoảng 5 mét dẫn vào phía sau công an huyện Bến Cát. Con đường này nhìn trực diện vào mặt văn phòng luật sư và kết thúc bằng một ngõ cụt tại công an Bến Cát, nó có một nhánh khác cũng dẫn ra ngoài Quốc lộ 13.

Những ngày trước khi vào Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh – Khoa Văn, có một cô bé dáng người nhỏ nhắn, thấp bé nhưng có một cái tên lạ lùng độc nhất vô nhị, thường miên man bên góc cây nhãn. Cô bé nhà ở xã An Điền, từ nhà cô đến thị trấn khoảng 5 cây số, đi ngang một cây cầu, nơi người ta thường chất lá dừa thành từng đống để bán. Cứ mỗi ngày đạp xe đến trường đi ngang qua cây nhãn cô đều ngắm nghía nó, cái cái cây ấy cô nhìn thấy từ khi đi học đến bây giờ. Lắm lúc cô có những ý nghĩ tự hỏi rằng không biết cây này này có từ bao giờ nhỉ? Do ai trồng nhỉ? Lúc đó chỉ cách bây giờ độ hai năm, cô học ở trường phổ thông trung học huyện Bến Cát ngoài Quốc lộ 13. Cô còn nhớ những buổi trưa đi học về thường cùng lũ bạn tụm năm tụm ba dưới góc cây để buôn chuyện, để suy tưởng về tương lai nếu như đậu vào đại học và những chuyện khác nữa. Cả nhóm thích đến tán chuyện bên gốc cây một phần vì tán lá nó to, dày nên phủ được một khoảng không gian cho được đến hơn bảy người. Đôi lúc những người đi đường vẫn ghé chân nghỉ dưới gốc cây nhãn vào những ngày hè oi bức hoặc những buổi chiều mưa bay lớt phớt. Cũng có thể một phần là do cây nhãn nằm ở địa điểm thuận tiện nên mọi người, trong đó có cô bé và lũ bạn thường chọn gốc cây nhãn là điểm dừng chân…

Bây giờ khi trở lại thăm nhà vào những ngày chủ nhật, lễ tết, cô bé lắm lúc trông lại cây nhãn để hồi tưởng những ngày xưa đầy ắp kỷ niệm. Những hình ảnh thân thương quá mức và đáng yêu làm sao, những tà áo trắng nữ sinh dưới gốc cây cứ bay phấp phới trong lòng cô như những cơn gió nhẹ bất chợt ùa qua từng kẽ lá. Và cũng là bây giờ, có mấy khi cô bé ngắm nhìn cây nhãn nữa, những lúc trở lại Bến Cát cô bận rộn với ba mẹ, các chị gái. Có đôi khi cô vô tình lướt qua cây nhãn ngày nào một cách thờ ơ mà không để ý nó khác xưa như thế nào. Chỉ tội nghiệp thay cho cây nhãn như vẫn đợi vẫn chờ, đợi chờ những ngày xưa khi cô bé đến trò chuyện bên gốc cây. Tuy thế trong tâm hồn cô bé vẫn lẫn khuất đâu đó một hình ảnh Bến Cát ngày nào mà cây nhãn là một phần không thể thiếu.

Một ngày đầu tháng 12/2008, có một thanh niên dáng người cao ốm đến Bến Cát. Anh làm việc cho văn phòng luật sư đối diện bên kia đường với cây nhãn. Anh chỉ là một người bình thường nhưng trong tâm hồn anh, anh nhận thấy có một sinh vật bình thường với mọi người nhưng có ý nghĩa với anh là cây nhãn. Anh vẫn thường ngắm nhìn cây nhãn vào những buổi sớm tinh sương, để ý nó vào những ngày cuối đông hoặc đầu xuân. Những ngày cuối mùa đông ấy, cây cứ rụng lá dần dần, thân cành nó trơ trọi lắm, khẳng khiu như mang những mối sầu chất chứa từ rất lâu mà không biết tâm sự cùng ai. Anh thì thầm: “Cây ơi! Mi tâm sự cùng ta nhé! Nói ta biết mi nghĩ gì đi và ta sẽ nói cho mi biết ta nghĩ gì – Hãy bầu bạn cùng ta!”

Anh cứ nghĩ miên man trong đầu như vậy, cây không trả lời nhưng những chiếc lá nó cứ lay động vì gió. Sự đồng cảm mà chỉ rất ít người biết đến, một phần đời chúng ta phải để nó chìm lặng trong suy tư thì mới thấy được hết ý nghĩa của cuộc sống này. Không chiêm nghiệm sẽ không phát hiện được những gì tâm hồn chúng ta đang sao động và những kẻ nổi loạn là những kẻ không hề biết đến hạnh phúc an bình của tâm hồn. Những ngày này lạnh lắm, người thanh niên mặc đến hai ba lớp áo vẫn thấy lạnh run. Anh thấy nhức đầu kinh khủng, choáng váng, tay run lẩy bẩy. Từ khi đến Bến Cát, anh ở lại văn phòng chỉ có một mình, tự nấu nướng và giặt quần áo lấy. Đêm đông ấy, anh sốt và mê sảng, trong giấc mơ  anh chỉ nghĩ về cây nhãn mà thôi. Rồi những ngày anh bệnh đã qua, một sớm mai anh thức giấc thấy lòng khoan khoái lạ thường và càng yêu đời hơn bao giờ hết.

Hôm ấy anh về nhà đón tết cùng gia đình, anh nhìn thấy cây nhãn vẫn trụi lá và khô khốc. Anh buồn buồn nghĩ rằng cây nhãn này chắc phải sắp bị đốn đến nơi chăng. Thế nhưng  sau khi anh quay trở lại thì: Chao ôi! Cây nhãn đã xanh rờn, xanh một màu xanh mượt mà làm mát mắt người ta, nó ra hoa nhiều quá, nhiều gấp mấy lần một cây nhãn thông thường ta vẫn thấy. Cây nhãn vẫn sống, và nó sẽ sống rất lâu nữa…

Một ngày như bao ngày lại đến, nhưng hôm ấy thật là trùng hợp đối với họ. Trên một chuyến xe buýt đi từ thị xã Thủ Dầu Một về Bến Cát, cô bé và người thanh niên nói trên tình cờ trò chuyện và quen biết nhau. Cô học khoa văn, người thanh niên trước cũng là người yêu thích văn học. Vậy là họ tìm thấy một tiếng nói chung, một suy nghĩ chung. Họ trao tay số điện thoại và một ngày nọ, cô bé đến thăm người thanh niên. Họ trò chuyện qua lại chỉ vài phút nhưng có lẽ đã đủ hiểu tính cách của nhau. Cô bé kể cho người thanh niên nghe về cây nhãn, nơi ngày xưa cô đã cùng bạn bè trèo hái từng chùm quả còn xanh nhưng sao cô vẫn thấy ngọt ngào thế nào ấy. Lúc ấy gốc cây chưa bị trùm lại bằng một chiếc lồng sắt như bây giờ. Không hiểu họ làm thế để làm gì nhỉ, bảo vệ cây khỏi những người nghịch ngợm, hay tránh việc cây bị chặt trộm. Chiếc lồng ấy làm cho gốc cây bị bó rọ, nhìn vào trông rất khó chịu. Người ta bảo vệ nó nhưng đã làm mất mỹ quan của chính nó. Anh nghe câu chuyện của cô bé và đồng cảm lắm. Chao ôi! Vậy mà anh cứ nghĩ mình là người duy nhất ở Bến Cát này nghĩ về nó. Cái cây anh thường ngắm nghía vào mỗi buổi sớm mai, từng sờ từng thớ gỗ xù xì của nó, từng nhặt từng chiếc lá rụng rơi ngoài đường và nghĩ ngợi điều gì đó. Anh hiểu, anh hiểu hết đó cô bé ơi! Bến Cát này vô vị lắm nếu không có cây nhãn, đời người cũng sẽ vô vị lắm nếu thiếu những tâm hồn đồng cảm. khi có dịp đi ngang qua gốc cây nhãn để gửi một bức điện tín hay một công văn gì, anh cũng dùng tay chạm vào cây nhãn. Anh thấy cây nhãn hay hay thế nào ấy.

– Chú cứ làm như người ta không bằng! Chị ta đáp lại bằng giọng mỉa mai.

– Cây này có lịch sử lâu lắm rồi chị ơi! Tôi ở nơi khác đến, nghĩ cũng chẳng liên quan gì đến mình nhưng tôi thấy mọi người thường nghỉ chân dưới gốc cây này. Nếu chị vẫn để lửa táp vào nó như thế một ngày nào đó cây sẽ chết thì khách đi đường sẽ mất một chổ nghỉ chân và chị cũng sẽ không có một bóng mát để bán nữa. Chị nghe tôi nhé, chỉ cần dịch bếp ra xa một chút là được mà.

Người thanh niên nói một lúc nữa thì chị ta đồng ý và họ cùng nhau dời bếp lửa vào sát bờ tường của bưu điện.

Ở Bến Cát này, mỗi đêm vẫn có những cặp trai gái đợi chờ nhau dưới gốc cây nhãn. Có lúc thấy người con trai đợi người con gái hoặc có lúc lại thấy người con gái đợi một người con trai nào đó. Những điều ấy, cây nhãn thấy hết, biết hết và hình như nó cũng mỉm cười. Nó dang những tán lá hớp lấy bóng tối để cho những đôi lứa tâm sự với nhau dưới gốc cây. Nhìn về phía góc đường bên kia, người ta vẫn thấy hai vợ chồng thường bán hủ tiếu dưới gốc cây bàng. Lúc đầu họ vẫn bán dưới gốc cây nhãn nhưng một thời gian sau không hiểu vì sao lại chuyển sang phía ấy. Mỗi buổi chiều, họ đẩy xe hủ tiếu đi từ phía bờ sông lên, đi ngang qua gốc cây nhãn. Họ bày bán đến đêm mới đẩy xe về nhà và một ngày nọ, người thanh niên từ văn phòng luật sư ra thấy chiếc xe hủ tiếu của họ dựng bên gốc cây nhãn, bể nát, chén đĩa rơi vỡ khắp nơi trên đường mà không thấy đôi vợ chồng nọ đâu cả. Người thanh niên không hiểu chuyện gì xảy ra, anh nghĩ chắc hẳn phải có một tai nạn giao thông xảy ra nhưng không biết họ có ai bị gì không. Vài ngày sau, anh không thấy họ bày bán hủ tiếu nữa và hỏi ra mới được biết người chồng bị một thanh niên phóng nhanh tông trúng làm gãy chân nên phải tạm nghỉ bán. Chao ôi! Nếu như có chuyện đau lòng ấy xảy ra thì anh sẽ buồn lắm và cây nhãn cũng đau lòng nữa.

Rồi một ngày cuối tháng 3/2009, người thanh niên nhận được tin anh sắp phải đi công tác ở xa. Văn phòng của anh sắp mở một chi nhánh và anh sẽ công tác tại chi nhánh mới này. Thật ra anh phải mừng mới đứng chứ vì anh sắp được trở về nhà kia mà, nhưng anh lại thấy buồn buồn thế nào ấy. Hơn nữa anh cũng vừa từ đó xuống Bến Cát này chỉ được vài tháng thôi mà, vậy tại sao anh lại cảm thấy buồn nhỉ. Anh nghĩ đến một ngày nào đó anh không còn bắt gặp những hình ảnh về cây nhãn nữa, những hình ảnh về những người gắn liền với cây nhãn và cô bé khoa văn sẽ không còn ghé thăm anh nữa. Đời là vậy, cứ tan rồi lại hợp, hợp rồi lại tan. Mai mốt chắc có lẽ anh không còn gặp cây nhãn và cả cô bé nữa nhưng tất cả sẽ vẫn nằm lẩn khuất đâu đó trong một phần ký ức của anh…..