La Đà Quán Xá – Tản văn dự thi của Nguyễn Phú Hoàng Nam

Ngày hè oi bức quá! Người ta ra quán ven hồ hóng gió. Ngày đông u buồn lạnh lẽo quá! Sà vào nhâm nhi gì đó bên đường cho ấm bụng. Xuân sang ấm áp quá! Dạo bước du xuân kẻo uổng phí. Thu sang rồi, trời hanh hao có nắng có gió mà lại không có thời gian ngồi thưởng thức cà phê thì phí phạm! Bốn mùa nối tiếp nhau như vậy. Và người Hà Nội cũng quen với quán xá đến thế đấy.

Lối sống “An cư lập nghiệp” ở nơi đây thật linh hoạt, tài tình. Từ người có nhà, có chung cư, đủ hộ khẩu cho đến người thuê trọ tứ phương, “di cư” hết từ phố này sang phường khác, đều trân trọng nơi ăn chốn ở. Nhưng có nơi ăn, chốn ở để trở về rồi thì họ lại không thích ở trong căn nhà, căn phòng quá nhiều. Xong xuôi là cứ phải tếch ra đường, la cà quán xá.

Nhìn vào lớp thanh niên thì chắc dễ chê trách phong cách “Coi nhà ở như cái nhà trọ” mà các ông bà già hay cằn nhằn con cháu mình. Do đám trẻ chỉ toàn đi sớm về khuya, thích vi vu phố phường mà ngại ở nhà dọn dẹp, thu vén. Nhưng cũng trong mùa đại dịch năm ấy, khi giãn cách diễn ra, người người được khuyến cáo ở nhà cũng không thiếu hình ảnh những ông chú, bà bác tìm cách leo rào, thoát ly. Lại còn có những ông cụ, bà cụ thập thò tìm cách ra khỏi nhà đi tập thể dục bằng được trong bối cảnh ấy. Ở yên một chỗ hóa ra cũng chẳng dễ dàng.

Đô thị hối hả có thể khiến người ra khó ung dung. Hàng quán tấp nập làm cho tâm hồn chẳng thể hờ hững. Mà nói đến hàng quán ở phố phường Hà Nội thì muôn màu muôn vẻ. Từ những cửa hàng ăn uống kinh doanh bề thế trên khu phố cổ cho đến những quán cóc vô danh bên đường, rồi còn biết bao quán xá, bảng biển vui mắt, sáng tạo với đủ mọi phông chữ, hoạt cảnh bay bướm cho đến gánh hàng di động, cần là hạ gánh mà bị đuổi thì mau chân quang gánh- mỗi nơi mỗi kiểu dù cung cấp thức quà dù hàng hóa na ná nhau, thừa sức khiến cho lòng người xao xuyến.

Sinh ra và lớn lên ở mảnh đất này, tôi cũng trót mắc tính la cà quán xá, dù chẳng đến mức thường xuyên, khi mà vòng tròn quan hệ bạn bè cứ ngày một thưa thớt dần. Giờ viết những dòng này tôi đột nhiên nhận ra là đời sống ít quán xá là đời sống ít giao du. Có cô đơn hay cô độc thì còn tùy mỗi người cảm nhận và tùy thuộc mục đích mà nỗi đơn độc ấy đang chưng cất.

Ngày bé, những xe đạp thồ đầy bánh kẹo, đồ chơi “made in China” ở cổng trường luôn thu hút đám học sinh bé xíu chúng tôi. Đôi tay non nớt của mấy cô cậu học sinh vui vẻ vung vẩy những tờ tiền mệnh giá be bé mà cha mẹ cho để đổi lấy những chiếc mô hình xe tăng, người máy bằng nhựa cả thèm chóng chán, cây kem mút, kẹo mút xanh đỏ tưới đẫm phẩm màu và đường hóa học hoặc những bịch xoài dầm, cóc dầm đẫm chua ngọt, tứa nước miệng mà bụng sôi sùng sục như van xin chủ nhân đừng ngược đãi.

Thời sinh viên, quán mà tôi ghé vào nhiều nhất là quán trà đá và quán cơm bụi. Gọi là vào “quán” cho sang nhưng chỉ có dăm ba chiếc ghế nhựa, cốc nước chè cao lênh khênh đập đầy đá lạnh, màu đùng đục. Tớp miếng nào buốt giá miếng đó. Mùa đông thì có trà nóng, miệng thổi phù phù rồi rít vào chỉ còn hơi âm ấm, đặc sít, váng vất. Bên cạnh tôi thấy chủ quán còn kiêm thêm cả việc bán cơ hội đổi đời cho mấy sinh viên nghèo hoặc vì ham mê đỏ đen nên thành ra nghèo bền vững: Một cuốn sổ chi chít chữ số- toán “cao cấp” thời sinh viên, trả đáp số lúc 18h30 chiều hằng ngày.

Bắt đầu đi làm, tôi được tiếp cận với những quán xá chỉn chu hơn. Có người mở cửa, hỏi han, phục vụ ăn uống rất lịch thiệp. Nhưng thú thực ở những nơi đó bạn bè và tôi đôi lúc vẫn có cảm giác hơi bí. Quán dĩ nhiên hiện đại, to đẹp thì không thiếu điều hòa không khí. Nhưng có lẽ, cái chúng tôi cần là không khí thực sự, hơi thở thực sự của nhịp sống phố phường mà không phải thông qua cái máy nào cả. Dịch vụ càng thêm nhiều thì chi phí đương nhiên cũng lại càng cao. Giao lưu nơi sang trọng mà không được việc thì đôi bên thường cảm thấy khó vui lòng. Người ta rời khỏi nhà là để ra đường, đâu phải là để chui vào một cái nhà khác to hơn nhỉ?

La đà quán xá bao lâu rồi thì ai cũng nhớ ra “nhà là nơi để về”. Nơi giản đơn ấy bình dị, lặng lẽ chờ đón ta. Cho ta những tiện nghi nho nhỏ nhưng ấm cúng. Nơi ấy ta thoát khỏi nỗi lo âu “Sểnh nhà ra thất nghiệp”.

Quán xá náo nhiệt. Nhưng chỉ hứng khởi khi người ta có tri kỷ đối ẩm. Một mình một điếu thuốc, một tách cà phê thì khó nói được là đang vui. Mà có thể đó là lúc người lãng khách chìm trong hồi tưởng về những chiếc ghế từng được lấp đầy, về phút chuyện trò rôm rả, cốc tách bát đũa la liệt, ngôn từ hào sảng, phóng khoáng. Tất cả chỉ còn là những “Vang bóng một thời” như tên tập tùy bút của nhà văn Nguyễn Tuân.

Phố lên đèn, quán xá lại tưng bừng, tấp nập. Ngày, tháng, năm cứ thi nhau tiếp nối. Chiếc ghế ta rời đi sẽ lại có vị khách khác ngồi vào. Hai ta đều chỉ là khách.