CHAI RƯỢU SAINT-AMOUR – Truyện ngắn của Trương Lực

Có những thứ, càng già người ta càng không dám mở. Không phải vì tiếc. Mà vì sợ… mở ra rồi, không còn cái cớ để giữ. Một chai rượu để lâu, người ta gọi là có tuổi. Một mối tình để lâu, người ta gọi là có nghĩa. Nhưng rượu thì có lúc quá đát. Còn tình… có khi không hư, chỉ là không còn chỗ để đặt. Tôi không phải người sành rượu. Càng không phải người hiểu hết chuyện đời. Tôi chỉ là người đã đi qua vài mùa mưa nắng, có lúc tưởng mình hiểu, rồi lại thấy mình… chưa kịp hiểu gì.

Quí Thành tới, không báo trước. Cái kiểu của nó là vậy. Đi đâu thì đi, về tới xứ là lò mò rồi cũng ghé, tay xách túi, mặt cười như chưa từng vắng mặt. Nó đặt cái túi xuống bàn, moi ra một chai rượu bọc giấy cẩn thận, đặt ngay ngắn như đặt một câu chuyện. “Cái này… dành cho anh,” nó nói, giọng hạ xuống như sợ làm bể cái gì đó vô hình. Tôi nhìn chai rượu. Thân chai đen, cổ đỏ, cái tem dán trùm qua miệng như một dấu niêm phong. Nhãn ghi toàn chữ Tây. Ở giữa có hai chữ đỏ, rõ ràng như cố ý cho người không biết tiếng Tây cũng đọc được: SAINT-AMOUR. “Tình yêu… mà còn phải có thánh chứng giám hả mậy?” Tôi cười. Quí Thành cũng cười, cái kiểu cười của người đã chuẩn bị sẵn một câu chuyện. “Nó là rượu Pháp. Saint-Amour (một vùng rượu nổi tiếng). Người ta hay mua để tặng xui gia, hoặc người mộ đạo… vì cái tên nó đẹp. Còn năm này…” nó chỉ tay vô con số nhỏ xíu “…hai ngàn lẻ bốn. Năm đó… cũng có nhiều chuyện hay lắm.”

Nó nói tới đó thì ngưng. Cái kiểu “thổi hồn vô đá” của nó là vậy – không nói hết, để người nghe tự thấy đá bay. Tôi gật đầu. Không phải vì hiểu, mà vì… nể cái tình nó đem tới.

Ông ngoại tôi hồi xưa có dặn: “Của tặng là của lo. Của cho là của nợ. Khi không có người đến nịnh bợ mình… thì… cũng… phải… coi chừng.”

Tôi không biết cái chai rượu này thuộc loại nào. Nhưng tự nhiên thấy… không dám xem thường.

Chiều đó, hai đứa cháu nội tôi – thằng Tô – Mì với con An – Li, nó bu quanh cái bàn như phát hiện ra một vụ án. “Ông ơi, cái này tiếng Pháp nè!” “Để con tra coi!” Tụi nó bị cấm chơi điện thoại, mà hễ đụng chuyện “học hành” là nó “lách luật” còn giỏi hơn mình hồi xưa trốn học. Một đứa đọc, một đứa tra. Hai cái đầu chụm lại, nói tiếng Việt lẫn tiếng Tây, nghe như cháo lòng lại bỏ thêm… bơ. “Ông ơi,” con An-Li ngẩng lên, “Saint-Amour nghĩa là ‘Thánh Tình yêu’ đó ông.” “Ờ, hồi nãy ông đoán trúng rồi.” “Nhưng mà…” thằng Tô-Mì chen vô, “cái này là rượu vùng Beaujolais. Người ta nói là không phải loại để lâu đâu. Thường uống sớm hơn mấy loại khác.”

Tôi nhướng mày. “Ủa, vậy để tới hơn hai chục năm… là sao?”

Hai đứa nhìn nhau. Cái kiểu nhìn của tụi nhỏ bây giờ, nhiều khi làm mình thấy… mình già… lạc hậu thiệt.

“Chưa chắc càng cũ càng quý đâu ông,” con An-Li nói, giọng chắc nịch. “Có loại để lâu là hư.”

Tôi im. Cái chữ “chưa chắc” nó nhẹ mà… nặng.

Tối đó, cơm nước xong, cái chai rượu vẫn nằm đó. Không ai nhắc tới. Nhưng ai cũng nhìn.

Quí Thành đã về từ hồi chiều. Nó đi nhẹ như lúc tới, để lại cái chai… và cái khoảng lặng. Tôi ngồi, nhìn cái tem niêm phong. Nghĩ tới lời nó: “Rượu này uống –  tốt cho tim mạch”.

Tim tôi… bác sĩ đã đặt mấy cái stents vô rồi. Sắt thép trong người mà uống thêm rượu vô… nghe cũng không được “thơ” cho lắm.

“Ông ơi,” thằng Tô-Mì lên tiếng, “hay mình mở ra thử?” Con An-Li lại tiếp lời: “Cô AI nói có cách nhận biết rượu hư hay không mà.” Tôi nhìn tụi nó. Hai cặp mắt sáng, không phải vì rượu – mà vì muốn biết.

Tôi thở nhẹ. “Ờ… thì thử.” Cái đồ khui rượu được lôi ra. Chính là cái “học cụ Vật lý” mà cô giáo dặn tìm. Thằng Tô-Mì làm như đang thi thực hành. Nó vặn từ từ theo vòng trái, cái mũi nhăn lại vì tập trung. Con An-Li đứng kế bên, thỉnh thoảng nhắc: “Nhẹ thôi, gãy là tiêu đó!” Cái nút bần từ từ nhích lên. Có tiếng “bụp” – không lớn, nhưng đủ làm cả ba ông cháu khựng lại. Tôi cầm cái nút, đưa lên ngửi. Không mốc. Không hôi. Có cái mùi gì đó… cũ cũ, nhưng không khó chịu.

Tôi rót ra ly. Màu rượu không phải đỏ tươi như tôi tưởng. Nó có màu… như nước trà đậm, có chút hơi nâu. Tôi nhớ lời cô AI – do tụi nhỏ đọc “Nếu ngả nâu đậm quá… coi chừng.” Tôi đưa cái ly lên mũi. Ngửi lại lần nữa. Im. Hai đứa nhỏ nín thở nhìn tôi, như chờ kết luận của một… Hội đồng giám định tối cao.

“Ông thấy sao?” Một đứa hỏi. Tôi không vội trả lời liền. Trong cái mùi đó, không chỉ có rượu. Có cái gì đó… của thời gian. Của những thứ mình không còn nhớ rõ, nhưng vẫn biết là đã từng có. Tôi đặt ly xuống “Thôi,” tôi nói, giọng nhẹ như gió lùa qua cửa, “đóng nút lại.” “Hả?” hai đứa đồng thanh. Tôi chốt lại “Không uống.” “Sao vậy ông? Cho con thử chút xíu đi! Mẹ nói rượu nho dễ tiêu cơm mà!” Tô Mì lên tiếng. Tôi cười “Để đó… cho cái tình nó còn nguyên.”

Hai đứa nhỏ im. Không hiểu, nhưng cũng không dám cãi.

Đêm đó, tụi nó “lén hỏi cô AI”. Sáng ra, con An-Li nói nhỏ với anh nó: “Có mấy loại rượu mở ra là phải uống liền. Để lâu là hư thêm.” Thằng Tô-Mì gật gù.

Hai đứa nhìn cái chai rượu – giờ đã được đóng lại cẩn thận – bằng ánh mắt khác. Không còn là một món đồ cần khám phá nữa. Mà là một thứ… cần giữ.

Tôi ngồi một mình, nhìn chai Saint-Amour. Tình yêu. Có khi… không phải để dùng. Mà để biết là mình đã từng được người ta nghĩ tới.

Ngoài hiên, gió thổi nhẹ. Xóm vẫn yên như mọi bữa. Tôi chợt thấy, có những thứ: Không mở ra… mà lại giữ được lâu hơn. Và có khi, cái quý không nằm ở thứ được cho – mà nằm ở cách người ta… giữ lại cái tình khi nhận.

Đêm xuống sâu thêm một chút, cái yên của xóm như thấm vô từng thớ gỗ của bộ ván hương tôi đang nằm đây. Tôi ngồi dậy, tay chạm nhẹ vào thân chai rượu, mà đầu óc thì trôi ngược về buổi chiều.

Hồi nãy, lúc Quí Thành còn ngồi đây, có thêm một người nữa là ông Sáu Hưng, dân buôn đồ gỗ, đi nhiều, biết nhiều, mà cái kiểu biết của ổng là biết… để nói cho vui miệng, chứ không phải để hơn thua.

Quí Thành rót trà, chứ không rót rượu. Cái chai Saint-Amour, lúc đó vẫn còn nguyên tem niêm. Ông Sáu Hưng nhìn nó, cười: “Rượu Tây hả? Mấy cái này… vô giá!” Tôi hỏi lại: “Vô giá là sao? Không có giá hay… mắc quá không dám hỏi?” Ổng cười ha hả: “Có chai vài trăm ngàn. Nhưng cũng có chai vài chục triệu. Có chai… tính bằng ngàn đô.” Tôi liếc qua Quí Thành. Nó không cãi, chỉ nhún vai: “Thiệt đó anh. Nhưng cái người ta bán… không chỉ là rượu.”

“Sao nữa?” Tôi hiếu kỳ. Nó gõ nhẹ lên nhãn chai: “Bán thương hiệu. Bán năm sản xuất. Bán cái câu chuyện phía sau.” Ông Sáu Hưng tiếp lời, giọng như chốt hạ: “Bán cái… cảm giác mình đang uống thứ đáng giá.” Tôi im.

Ba người đàn ông, ba tuổi đời khác nhau, ngồi quanh một cái bàn nhỏ, mà nói chuyện… nghe như bàn chuyện thiên hạ. “Nhưng lạ nghen,” tôi nói chậm, “mắc vậy mà sao vẫn có người mua?” Quí Thành cười nhẹ: “Người ta đâu có mua để say không đâu anh. Người ta mua để… kể.”

“Để kể?” Tôi nhìn Quý Thành thắc mắc. Y nói: “Ừ. Kể với bạn bè. Kể với đối tác. Kể với chính mình. Rằng mình đang cầm trong tay một thứ… mà… không phải ai cũng có.” Tôi gật gù bên ngoài mặt, chứ trong bụng lại thấy… không gật nổi. Cái chữ “kể” đó, nghe như quen mà lại lạ.

Ngồi một hồi, tôi bỗng dưng… đói. Không phải đói cơm tối. Mà là cái kiểu đói… từ trong ký ức. Tự nhiên tôi nhớ cái mùi cơm da. Cơm nếp lứt nấu trong nồi đất, lửa riu riu, tới lúc đáy nồi bắt đầu cháy xém, dẻo mà giòn. Bà ngoại cạy ra, trải lên tấm lá chằm cho nguội. Cái mùi thơm nó bốc lên… không phải thơm kiểu sang trọng, mà thơm kiểu… làm bụng mình réo.

Hồi đó, mỗi lần bà chuẩn bị ủ rượu, là nhà có cái mùi đó. Tôi cứ lảng vảng gần bên, giả bộ phụ này, phụ kia, mà thật ra là chờ… lén bẻ miếng cơm da cắn một cái cho nó đã. Bà ngoại hay cười: “Đừng ăn hết, để bà còn ủ rượu!” Nói vậy. Nhưng rồi bà cũng làm lơ hay giả bộ đi đâu đó để cho tôi bẻ một miếng. Nóng hổi. Giòn bên ngoài, dẻo bên trong. Ăn xong, thấy… đời nó đã một cách lạ lùng.

Thứ rượu bà ngoại tôi nấu có tên chung là rượu đế. Thứ rượu mà mấy ông già trong xóm uống, mặt đỏ lên, nói chuyện rôm rả. Không ai kể nó là năm nào, ủ bao lâu. Không ai nói thương hiệu là gì. Chỉ có một câu: “Rượu này êm… được đó!”

Tôi nhìn lại chai Saint-Amour đã được đặt lên kệ rượu của tôi. Một bên là rượu Tây, có tên, có năm, có câu chuyện. Một bên là rượu đế, không nhãn, không mác, cùng lắm chỉ có ngâm ong ruồi, ong vò vẽ, ong bầu, hay chuối hột sấy khô, mít kẹp gắp nướng hay trái nhàu già chín… không ai “thổi hồn”… mà vẫn có hồn. Tôi chợt nghĩ: “Rượu mình cũng đa dòng, đa dạng đâu kém ai, cũng ngon và cũng nhiều… câu… chuyện… đâu có thua gì ngoại quốc. Mà sao giá… cứ thấp tè?”

“Có phải vì mình không biết kể? Hay vì mình không nghĩ cái thứ mình làm ra… nó đáng để kể? Hay vì… cái ngon của mình nó nằm ở chỗ khác – chỗ mà không cần nói ra, không cần in chữ dán tem… người ta vẫn hiểu?”

Gió ngoài hiên thổi vô, mang theo mùi nước ròng xen lẫn mùi đất ẩm. Tôi khẽ cười một mình. Hóa ra, người ta bán rượu… là bán luôn cả một câu chuyện để con người tin mà uống. Còn mình… nhiều khi có chuyện rồi, mà lại không biết kể – nên đành để cái ngon… nằm yên trong cái bình, giá rẻ, mà lòng thì… dù không rẻ cũng không mấy ai quan tâm.

Tôi đứng trước kệ, một lần nữa mắt dừng lại ở cái nhãn Saint-Amour tôi vừa mới quay mặt nó ra ngoài. Ngoài hiên, gió thổi qua mấy tàu dừa, nghe xào xạc như có ai đang thì thầm câu chuyện cũ. Tự nhiên, trong đầu tôi bật lên cái giọng của Quí Thành – cái điệu hát nửa tây nửa ta, trật lên trật xuống mà nó cứ hát hoài mỗi lần say: “Đời là si la vi… tình là si a mua…” Tôi không biết nó hát đúng hay sai. Hình như là tiếng Pháp tiếng Tây gì đó. Nghe nói “si la vi” đó là cuộc đời, còn “si a mua”- chắc là tình… là tôi, hay tình là… cái gì đó… của nó. Mà thiệt tình, hỏi cho ra nghĩa thì tôi chịu. Chỉ biết, mỗi lần nó hát câu đó, là y như rằng… nó đang ở cái ranh giới của lúc chưa buồn hẳn mà cũng không phải còn vui nữa. Nó hát, mắt nhìn đâu đâu, không nhìn ai. Ly rượu cầm trên tay mà như quên… quên uống. Giọng thì không hay, mà cứ lặp đi lặp lại: “Đời là si la vi… tình là si a mua…” Nghe riết rồi, tôi cũng thuộc lòng. Không phải vì thích. Mà vì… thương. Có bữa, mấy người ngồi chung cũng hát theo. Ban đầu còn cười, sau không hiểu sao… im dần. Cái câu đó, nó dính. Dính kiểu như một cái gai nhỏ, đâm dằm trong lớp da nghịch mắt – không đau lắm, nhưng khó lể và cứ nằm hoài ở đó.

Tôi nhìn chai rượu Saint – Amour. Rồi nhìn mấy cái chai rượu khác bên cạnh. Tự nhiên thấy, mỗi chai là một bài nhạc, một câu hát hay một câu chuyện… Có câu rõ lời. Có câu… nghe hoài mà không hiểu. Có người nhớ, có người quên, có người nhớ không đủ mà luôn tưởng mình nhớ… Quí Thành chắc cũng vậy. Cả đời nó đi, nó chọn, nó mang về những cái tên đẹp. Nhưng có khi, chính nó cũng không biết mình đang hát, đang nhớ cái gì trong lòng.

Tôi với tay, chỉnh lại mấy cái chai rượu cho ngay ngắn. Ở giữa, chai Saint-Amour đứng đó – cái tem, tôi dán lại như còn nguyên. Không thèm mở ra. Cũng không cần mở nữa.

Ngoài kia, xóm đã ngủ yên. Trong nhà, hai đứa nhỏ – cháu nội tôi – cũng đã ngủ, chắc đâu đó trong giấc mơ của tụi nó còn lẩn quẩn cái chuyện “mở hay không mở”.

Tôi khẽ cười. Rồi không hiểu sao, tôi lẩm bẩm theo, rất nhỏ: “Đời là si la vi… tình là si a mua…” Lần đầu tiên, tôi thử nghe… coi trong lòng mình nó là cái nghĩa gì. Mà lạ. Tôi như cũng không cần hiểu rõ. Chỉ thấy… hơi buồn một chút. Mà lòng như cũng… nhẹ hơn một chút. Giống như một ngụm rượu không uống – chỉ nghe mùi, nhớ bạn – đã say./.

TCL