Nét độc đáo trong bài thơ “Nhớ đồng” của nhà thơ Tố Hữu

Nhớ đồng là một bài thơ cách mạng tiêu biểu của Tố Hữu rút từ phần “Xiềng xích” thuộc tập thơ Từ ấy. Bài thơ được viết khi nhà thơ bị giam ở nhà lao Thừa Phủ (Huế) vào năm 1939. Bao trùm bài thơ là nỗi nhớ da diết đối với đồng quê, con người và cuộc sống bên ngoài của người chiến sĩ cộng sản. Đó cũng chính là khát vọng tự do, là tình yêu nhân dân, đất nước, yêu cuộc sống của bản thân người chiến sĩ. Tác phẩm đã được đưa vào phần bài đọc thêm của chương trình Ngữ Văn 11, tập 2 của chương trình GD 2006 nhưng đến chương trình GDPT 2018, bài thơ này được đưa vào đầu tiên của bài 2: Cấu tứ và hình ảnh trong thơ trữ tình, sách Ngữ văn 11, tập 1, bộ Kết nối tri thức. Điều đó khẳng định những giá trị riêng của bài thơ chúng ta cần quan tâm.

Xuyên suốt Nhớ đồng là sự giãi bày, phơi trải của nhân vật trữ tình với một cuộc hành trình vận động tâm trạng được khơi gợi từ tiếng hò thân thương vọng vào nhà giam. Hành trình vận động tâm trạng này được triển khai, tổ chức với cấu tứ đặc biệt: Mở đầu và kết thúc bài thơ đều ở thời điểm hiện tại với hình ảnh “trưa hiu quạnh”, “trưa thương nhớ” và điệp khúc “gì sâu bằng”. Đó là kiểu kết cấu vòng tròn thế nhưng mạch vận động tâm trạng không lặp lại mà có sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, lạc quan.

Hơn nữa, điệp khúc “gì sâu bằng” mở đầu và kết thúc bài thơ có sự khác nhau. Mở đầu là:

Gì sâu bằng những trưa thương nhớ

Hiu quạnh bên trong một tiếng hò

Kết thúc là:

 Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh

 Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi!

Lúc đầu tác giả gợi đến hình ảnh “trưa thương nhớ” cuối cùng lại là hình ảnh “trưa hiu quạnh”. Ở câu mở đầu sau điệp khúc “gì sâu bằng” là hai từ “thương nhớ” trĩu nặng ở cuối câu thơ.  Vì “thương nhớ” nên khi tiếng hò vọng tới người chiến sĩ cộng sản cảm nhận rõ nỗi “hiu quạnh” của bản thân mình. Đằng sau nỗi “hiu quạnh” đó là hàng loạt kỷ niệm, nỗi niềm về đồng quê với những cảnh vật, dáng hình thân quen; là nỗi nhớ khắc khoải về hành trình đi tìm lý tưởng cách mạng của bản thân và đằng sau nỗi “hiu quạnh” đó còn là khát khao tự do cháy bỏng trong hiện tại. Ở câu cuối sau điệp khúc “gì sâu bằng” là nỗi “hiu quạnh”, vì “hiu quạnh” nên nỗi nhớ niềm thương về đồng quê, về cuộc sống ở bên ngoài càng trở nên thiết tha, da diết. Nỗi nhớ chơi vơi, vang vọng không định hình định lượng kết thúc bài thơ như tiếng gọi ngân vang mãi trong sâu thẳm tâm thức của người chiến sĩ trẻ bị cầm tù: “thương nhớ ơi!”. Như vậy, nhân vật trữ tình ở đây đầu tiên vì nỗi lòng “thương nhớ” cho nên cảm thấy “hiu quạnh” và cuối cùng là vì xuất phát từ hoàn cảnh “hiu quạnh” nên lại càng “thương nhớ”. Kết cấu vừa lặp lại vừa khác biệt như thế tạo nên sự trùng điệp, diễn tiến về mặt cảm xúc, tình cảm. Kiểu kết cấu của bài thơ giống như vòng xoáy hình trôn ốc, vừa nhấn mạnh, vừa xoáy sâu, quy tụ vào một điểm- điểm tận cùng và cũng là điểm xuất phát đầu tiên- đó chính là nỗi niềm “ thương nhớ”.  Như vậy, “thương nhớ” chính là âm điệu chủ đạo xuyên thấm toàn bộ bài thơ.

Nỗi niềm “thương nhớ” ấy được gợi lên từ một âm thanh hết sức gần gũi, thân thuộc đó là tiếng hò. Tiếng hò chính là điệu hồn của dân tộc, của quê hương thân thương vọng lại đồng vọng với tiếng lòng của nhà thơ đang “cô đơn thay là cảnh thân tù”. Mỗi lần tiếng hò đó vọng lại là một nỗi nhớ niềm thương lại dội về trong tâm trí tác giả. Tất cả đều dồn tụ, hội tụ ở nỗi “nhớ đồng”. Thực chất nỗi “nhớ đồng” là nỗi nhớ người thân, nhớ đồng bào, đồng chí và khát khao tự do của chính tác giả. Hành trình vận động tâm trạng của nhân vật trữ tình được gợi lên sau âm thanh tiếng hò được nhà thơ tạo dựng nên bằng sự vận động của một loạt các hình ảnh. Đây là cách xây dựng hình ảnh tạo nên diễn biến tâm tư của Tố Hữu:

Lúc đầu trong dòng hồi tưởng của nhân vật trữ tình là hình ảnh quê hương trong những tháng ngày yên bình và cả trong những tháng ngày khổ đau, cực nhọc.Men theo dòng hồi tưởng đó, trước hết là hàng loạt các hình ảnh liên quan đến cảnh quê : gió cồn thơm đất nhả mùi, ruồng tre mát thở yên vui, ô mạ xanh mơn mởn, nương khoai ngọt sắn bùi, xóm nhà tranh thấp,… Tất cả hình ảnh đều toát lên vẻ đẹp bình dị, nên thơ nhưng đượm buồn, hiu hắt. Đó cũng là nét chung của làng quê Việt Nam lúc bấy giờ.

Tiếp theo đó là hình ảnh về những con người “một nắng hai sương”, rất cần cù, chăm chỉ và lạc quan, yêu đời – những con người đã tạo nên linh hồn, dáng hình của quê hương, xứ sở:

Đâu những lưng cong xuống luống cày,

Mà bùn hy vọng nức hương ngây

Và đâu hết những bàn tay ấy

Vãi giống tung trời những sớm mai, …

Cùng với hình ảnh về cảnh quê, người quê hồn hậu, thân quen hiện lên trong nỗi nhớ là hình ảnh những người thân yêu trong gia đình mà ám ảnh nhất là hình ảnh “mẹ già xa đơn chiếc”. Nỗi nhớ ấy còn hướng đến cả vong hồn những người đã khuất- “những hồn thân”, “những hồn quen dãi nắng dầm mưa”, “những hồn chất phác hiền như đất”- những hồn người đã làm nên “tình quê rất thiệt thà”. Nỗi nhớ của nhân vật trữ tình không gói gọn ở một thời đoạn cụ thể của một đời người mà như kéo dài, xuyên thấu cả lịch sử của quê hương, của dân tộc.

Đằng sau dòng hồi tưởng về quê hương là dòng hồi tưởng về con đường đến với cách mạng, con đường đi tìm lý tưởng của bản thân nhân vật trữ tình. Đó là những ngày tháng âm u, quẩn quanh, bế tắc:

Đâu những ngày xưa tôi nhớ tôi

Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời

Vẩn vơ theo mãi vòng quanh quẩn

Muốn thoát, than ôi, bước chẳng rời

đến những tháng ngày tìm được lý tưởng sống của chính mình:

Rồi một hôm nào tôi thấy tôi

Nhẹ nhàng như con chim cà lơi

Say đồng hương nắng vui ca hát

Trên chín tầng mây bát ngát trời…

Hình ảnh “con chim cà lơi” trở thành điểm vụt sáng lên trong bài thơ- trở thành biểu tượng của hình tượng nhân vật trữ tình đang say sưa với “mặt trời chân lý”, ca hát với hương đời, bát ngát với ánh sáng của niềm vui tự do. Chính vì vậy ở thời điểm hiện tại- khi đang bị cầm giữ trong nhà lao, nhân vật trữ tình khát khao tự do cháy bỏng hơn bao giờ hết. Hình ảnh “cánh chim buồn nhớ gió mây” với dáng điệu thầm lặng, buồn nhớ đã “thu” hết trong mình tất cả ước mơ hoài bão “phá cũi sổ lồng” để đến với cuộc đời rộng lớn của nhà thơ. “Gió mây”- chính là hương trời tự do- khung trời hoạt động, bay nhảy, cống hiến của nhân vật trữ tình:

Cho tới chừ đây, tới chừ đây

Tôi mơ qua cửa khám bao ngày

Tôi thu tất cả trong thầm lặng

Như cánh chim buồn nhớ gió mây

Cánh cửa nhà tù làm sao mà cầm giữ được hoài bão, mơ ước của người chiến sĩ cộng sản? Vì vậy, nói như tác giả cuốn Đọc- hiểu văn bản Ngữ văn 11: “Bài thơ kết thúc nhưng cảm xúc thơ lại được mở ra một chu trình mới. Bằng một hình thức trữ tình, nhà thơ đã diễn tả thành công dòng nội tâm của nhân vật trữ tình người tù cộng sản trong cảnh tù đày” (1).

Tóm lại với cấu tứ và cách xây dựng hình ảnh độc đáo như trên, bài thơ đã thể hiện hành trình vận động tâm trạng của nhân vật trữ tình diễn biến theo chiều hướng lạc quan, tích cực. Nhớ đồng quả đã đã đem đến cho thơ ca Việt Nam trước năm 1945 một cái tôi trữ tình cách mạng độc đáo: vừa buồn nhớ da diết về quá khứ, về cuộc sống bên ngoài với tình yêu quê hương, yêu cuộc sống, yêu đồng bào, yêu chính bản thân mình vừa phẫn uất với hoàn cảnh tù đày ở thực tại vừa hy vọng, mơ ước với khát khao tự do cháy bỏng, khôn nguôi. Đó cũng chính là đóng góp quan trọng của hồn thơ Tố Hữu nói riêng cũng như của văn học cách mạng 1930-1945 nói chung trong nền văn học Việt Nam hiện đại.

Hà Thị Vinh Tâm