Lời sám hối bên dòng nước nổi – Tản văn của Mai Thị Như Ý

Con nước ròng miền Tây dâng lên trắng bãi, tràn qua những bờ lục bình tím ngắt. Gió mùa bắt đầu thổi rát mặt. Tôi trở về xóm cũ sau mấy năm biền biệt, lòng nặng trĩu như túi hành lý chất đầy những vụn vỡ của quá khứ đã qua. Tin đầu tiên đón tôi ở đầu hẻm là tin hàng xóm đã hóa thành mây khói. Ông đi rồi, nhẹ tênh một đời như lời tôi từng nghe: “Người ta sống cho nặng nợ, chứ chết rồi thì chẳng còn gì để oán, chẳng còn gì để giận”.

Trong ký ức của một con bé ngây ngô như tôi, vợ chồng ông lão là một sự tồn tại kỳ quặc giữa xóm nghèo này. Ông lão có đôi mắt sáng quắc nhưng tâm trí lại mờ mịt như sương sớm trên sông. Còn bà, đôi mắt khép chặt vĩnh viễn trong bóng đêm nhưng lòng lại sáng như trăng rằm.

Họ nương tựa vào nhau bù trừ cho sự nghiệt ngã của tạo hóa. Sáng sáng, bà bám lấy bờ vai gầy guộc của ông, hai cái bóng liêu xiêu đi dọc từ chợ trên xuống chợ dưới. Bà bán vé số, đôi bàn tay gầy guộc, nhăn nheo như rễ cây già rờ vào xấp giấy biết còn bao nhiêu tờ. Ông chồng thì chỉ thèm một chén tàu hủ nước đường gừng hay miếng bánh ngọt. Mỗi lần được bà mua cho, ông lại cười ngây dại vang động cả một khúc sông.

 

 

Nhưng kỳ lạ nhất là cái tính của ông. Cứ hễ trong xóm có tiếng kèn đám ma nổi lên, dù đang ăn cơm hay đang ngủ, ông cũng chạy tới. Ông tới để khóc. Ông khóc như thể người nằm trong quan tài kia chính là ruột rà máu mủ của mình. Người ta khóc cha, ông gào “Ba ơi!”. Người ta khóc vợ, ông cũng luýnh quýnh gọi “Vợ ơi!”.

Lúc đó, người ta ghét ông vô cùng. Họ ghét cái cách ông luôn xuất hiện sớm nhất trong mọi đám tang. Đứa trẻ mười tuổi khi ấy cảm thấy ông có lẽ là người duy nhất trong cái xóm này mang một trái tim quá đỗi nhạy cảm với nỗi đau của nhân thế, đến mức ông phải khóc thay cho cả những người đã cạn lệ mà rơi.

Tôi kéo lê chiếc túi hành lý qua vạt cỏ may đã bạc màu. Ngoại ngồi đó, dưới hiên nhà thấp lụp xụp, tay vẫn thoăn thoắt tước những cọng lá dừa khô để bó chổi. Ngoại chỉ cần nghe tiếng bước chân rệu rã của tôi, đã cất tiếng run run: “Về rồi đó hả con?”

Ngoại vẫn vậy như gốc củi già không chịu mục, cứ lẳng lặng che chở cho cái nhà này bằng mùi dầu gió trường cửu và những câu nói nghe như tiếng thở dài của đất. Cạnh nhà, Dượng Ba hàng xóm đang lúi húi bên hàng rào dâm bụt. Dượng thấy tôi, cười hiền khô, phô ra hàm răng ám khói thuốc lá:

“Con nhỏ về đúng lúc lắm. Ông lão khóc mướn đi rồi, xóm mình tự nhiên vắng bặt tiếng động. Hồi đó ghét ổng quậy đám tang, giờ thiếu tiếng ổng, thấy cái chết sao mà nó im lìm, lạnh lẽo quá chừng.”

Dượng nói xong rồi thở ra một hơi dài, tay vỗ vỗ lên đầu mấy đứa mèo nhỏ đang quấn quýt dưới chân. Đó là bầy mèo hoang mà dượng nhặt về từ mé sông sau cơn lũ. Có con cụt đuôi, có con mắt mờ đục như màu khói, tụi nó giống như những mảnh vụn của xóm nghèo này cứ lầm lũi mà sống. Một con mèo mướp nhỏ xíu, lông xám tro, nhảy phóc lên đùi tôi, cọ cái mũi lạnh ngắt vào bàn tay tôi như thể nó nhận ra mùi hương của một kẻ cũng vừa đi lạc từ phương xa trở về.

“Tụi nó cũng như người ta vậy con,” Ngoại tôi ngước lên, đôi mắt mờ đục nhìn xoáy vào khoảng không trước mặt. “Cũng biết đau, biết nhớ, chỉ là không biết nói thôi. Hồi ông lão đi, bầy mèo này kéo ra đầu hẻm ngồi chầu chực mấy đêm liền. Chắc tụi nó cũng hiểu, từ nay không còn ai vừa cười ngây dại vừa chia cho tụi nó nửa miếng bánh ngọt mỗi sáng chợ về…”

Tôi nhìn những cánh lục bình vẫn lững lờ trôi ngoài bến, nghe tiếng kèn đám ma xa xăm vọng lại từ phía cuối bãi. Tôi tựa vào cây lam dừa, để mặc cho những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài, hòa vào dòng nước nổi đang dâng cao dưới chân. Đây chính là lời sám hối muộn màng tôi gửi lại cho dòng sông này, cho xóm nhỏ này, và cho cả linh hồn người đàn ông đã hóa thành mây khói ấy.