Món Mộc Tồn – Tản văn của Nguyễn Phú Hoàng Nam

“Sống trên đời ăn miếng dồi chó, thác xuống âm phủ biết có hay không?”. Đó là câu cửa miệng chỉ nhắc đến một trong số 7 cách nấu nướng món “Mộc tồn”. “Mộc tồn” là kiểu chơi chữ Hán Việt, tạm dịch ra là “cây còn”, mà đọc ngược lại là “con cầy” (thịt chó).

Cách chế biến món ăn này thường được coi như đúng điệu, “chuẩn bài” nếu đủ 7 đĩa/tô: Thịt chó hấp/luộc, chả chó (thịt chó nướng), rựa mận, xáo măng, xào xả ớt, giả cầy, và dồi. Nghe qua đã thấy toàn món hương sực nức, vị đậm đà phục vụ dân nhậu.

Với tôi, thịt chó là hiện tượng bướng bỉnh tồn tại bên lề danh mục ẩm thực đặc trưng của người Hà Nội. Có lẽ người Hà Nội nào cũng từng nghe tới, từng nếm hoặc “nghiện” rồi bỏ rồi tái “nghiện”, hoặc không bao giờ ăn kèm theo những phê phán về món này. Thịt chó tồn tại như cái gai góc trong mắt người không ưa và thức khoái khẩu trong lòng kẻ say sưa.

Hà Nội từng có thời nức tiếng với khu phố Nhật Tân, nhà nhà mở quán thịt chó, người ra người vào tấp nập. Mà trong đó có cha con tôi cùng những bạn nhậu của cha. Thuở đó, tôi chưa ý thức về những vấn đề phức tạp liên quan đến việc ăn hay không ăn một món gì đó lại có thể gợi nên thiện cảm hoặc ác cảm nơi người đối diện- mà cũng rất có thể, thời ấy người ta chưa nặng nề câu chuyện “Chó là bạn, không phải thức ăn”. Giờ đây đời sống an ổn, thịnh vượng, thì những tư tưởng “phú quý sinh lễ nghĩa” mới có dịp đua nở. Cộng thêm làn sóng văn hóa ngoại quốc, một bộ phận không nhỏ đã bàn đến chuyện ủng hộ hay không ủng hộ miếng ăn của nhau, lo xa rằng loài chó sẽ tuyệt chủng trước sự phàm ăn của con người.

Thời ấy, cứ mỗi lần ngoài giờ làm là cha đưa tôi hết quán nhậu này sang quán nhậu khác. Tôi mang theo chiếc túi đựng vài quyển truyện hoặc hai ba món đồ chơi siêu nhân để nghịch. Màn đối ẩm, rượu vào lời ra miên man giữa cha tôi và bạn nhậu dường như không bao giờ có kết thúc. Mỗi lần tưởng xong trận rượu để được về, thì một chú, bác nào đó lại xướng lên đi uống thêm vài cốc bia cho mát. “Vài” là từ số nhiều, thành ra tôi lại lẽo đẽo theo cha đi tiếp để rồi phụng phịu khi phải đợi dài cổ mà chưa được về với mẹ.

Trong chuỗi bữa nhậu ấy, thịt chó xuất hiện dày đặc. Tôi vẫn nhớ quán thịt chó ở Nhật Tân thường trải chiếu trên sàn cho khách ngồi. Sau một loáng những tiếng xoong chảo, mùi riềng mẻ bay ra là trên bàn đã đầy đủ bát đĩa chuẩn bị cho cuộc nhậu. Tôi ngồi một góc chơi đồ chơi, các chú, các bác hỏi tôi thích ăn gì rồi gắp cho đầy một bát chả nướng thơm phức, thêm một bát óc và tim, gan chó đầy ụ. Cặm cụi ngồi xúc, tôi chỉ biết đó là thịt như bao loại thịt khác, lúc đầu ngon mà về sau ăn nhiều nên chán. Sau này, khi đọc truyện ngắn “Trẻ con không được ăn thịt chó” của nhà văn Nam Cao, tôi mới biết mình may mắn nhường nào khi vẫn có cái để ăn trong cuộc rượu của người lớn.

Mà ngẫm lại, việc “được” hay “không được” ăn gì đó dường như là mệnh lệnh cha mẹ áp đặt lên con cái, vì sức khỏe của con. Ngoài động cơ thuần túy ấy ra, tôi vẫn chưa hiểu được dựa trên cơ sở nào, người khác có quyền lên tiếng bình phẩm, can ngăn miếng ăn của đồng loại. Vì ăn là một hành động bản năng. Mà bản năng không phải là điều có thể vùi dập hay chế ngự – chỉ có thể thuần hóa nó bằng sự thiện ý và tính kiên nhẫn.

Miếng thịt chó khiêu khích bản năng khiến các tín đồ của món này nhỏ dãi thèm thuồng. Song cũng chính “miếng ăn là miếng tồi tàn” ấy, người không ưa sẽ ngoảnh mặt khinh ghét. Nhìn vào miếng ăn, tôi chợt nhận ra món ăn, cách người ta ăn và thói quen để ý người khác trong việc ăn uống cho thấy chiều sâu trong nhân cách của con người. Mà kể ra cũng tài tình, khi chó còn sống, người ta nuôi nó để giữ nhà, trước cửa đình, chùa, miếu đôi khi cũng đặt tượng chó đá để phân biệt người ngay, kẻ gian. Lìa đời rồi, thịt xương nó vẫn có thể phân biệt lòng dạ con người, tạo nên ranh giới giữa kẻ thanh cảnh và người phàm trần.

Bố tôi thường hay tâm sự với tôi: “Cha con mình tuổi Tuất, tuổi Tuất có nhiều cái hay nhưng cũng lắm cái dở”. Hay, dở đó lớn hơn dần dần tôi mới hiểu. Hiểu con chó là con vật được cưng nựng, yêu thương vì lòng trung thành, sống tình cảm. Nhưng cũng bị rẻ rúng, coi thường vì địa vị thấp kém, chuyên ăn cơm thừa canh cặn (xưa còn tệ hơn là chuyên “dọn” phân trẻ con), lúc nóng nảy, dại dột còn cắn càn để rồi bị lôi xềnh xệch đi chơi với riềng.

Chắc cũng bởi vai trò của chó lệ thuộc vào tính tiêu chuẩn kép của con người, nên người đời khen chê thì nó cũng chỉ vẫy đuôi – vô tri hay bao dung, tùy mỗi người mỗi cách cảm nhận.

Nhiều năm trước, tôi từng đọc được một bài trên tờ báo giấy An Ninh Thế Giới có liên quan đến miếng thịt chó. Phóng viên phỏng vấn một người tù hoàn lương. Việc anh ta hoàn lương sau khi ra tù là điều hết sức bất ngờ. Bởi anh này tiền án, tiền sự không ít. Anh ta kể sau khi ra tù, đang định đi cướp thì gặp một nhà sư. Ông này giảng pháp, anh ta cười khẩy, phỉ báng mấy ông thầy tu ngớ ngẩn. Anh ta cho rằng nếu ông thầy này muốn độ mình thì tốt nhất nên đi xơi ngay một bữa thịt chó – yên chí nghĩ rằng thầy tu chẳng thể nào phá giới ăn thịt, lại còn là thịt chó nên ông này sẽ bẽ bàng bỏ đi. Nhưng không. Ông thầy mời anh ta rượu thịt chó thật. Trong cuộc rượu, ông tâm sự mình cũng từng vào tù ra tội. Nay muốn hoàn lương, tu hành để trả nghiệp. Anh ta xúc động. Rồi từ đó, quyết tâm thay đổi cuộc đời, làm ăn lương thiện, chăm chỉ, dù nghèo cũng không phạm pháp. Nhưng mãi vẫn chưa có duyên gặp lại ân nhân.

Đến tận bây giờ, tôi vẫn suy nghĩ về câu chuyện này. Thực hư khó kiểm chứng, nhưng miếng thịt chó quả nhiên không đơn giản như những miếng thịt khác. Ăn nó mang nghiệp mà cũng có thể ăn nó là trả nghiệp – hóa kiếp cho nó và cũng là hóa một đoạn đời lầm lạc cho mình.

Một kỉ niệm đáng nhớ nữa về thịt chó đến với tôi vào một ngày đầu tuần trời đẹp, tôi được mời đi quán buffet chay. Đồ ăn chay tịnh, không gian sâu lắng, hương trầm phảng phất, nhạc thiền du dương. Nhưng oái oăm sao, ngay hôm sau tôi lại được mời đi ăn thịt chó. Quán ăn xô bồ, ồn ào pha tạp, mùi riềng mẻ, mắm tôm nồng nặc, chả nướng khói um. Hôm trước ăn chay, hôm sau ăn thịt chó.

Đọc đến đây, bạn nghĩ thế nào thì việc nó là như vậy. Tôi thì chỉ nhớ đến câu “Không Phật, không Tiên, không vướng tục” trong “Bài ca ngất ngưởng” của tài tử Nguyễn Công Trứ. Hình như ông cũng sinh năm Mậu Tuất.

Chuyện về món “mộc tồn” là câu chuyện để ngỏ, chưa cần vội vàng kết luận. Chẳng khen, chẳng chê. Hiểu được tâm sự của dân nhậu là hiểu được một phần không lời trong lòng thành phố lắm điều, nhiều lời.

Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát từng phát nguyện: “Ta không vào địa ngục thì ai vào”. Nhưng dân nhậu cũng chẳng kém cạnh khi bộc bạch: “Sống trên đời ăn miếng dồi chó, thác xuống âm phủ biết có hay không?”.