Trời đã đổ bóng về chiều và tháng Sáu những cơn mưa ào ạt chợt đến rồi tạnh hẳn.
Ngoài đồng ruộng là những ánh trăng mênh mông. Lần đầu tiên tôi được thấy một đêm trăng quê hương như thế không phải trên thửa ruộng khô cằn và những cơn mưa dông bất chất đến mà ở giữa một đám mạ xanh non, nhú lên và những dòng nước chảy róc rách.
Đồng quê yên ắng và những tiếng gọi nhau í ơi vào mùa cấy sôi nổi. Trăng chan hòa ấm áp. Trăng soi cho đôi tay dẻo dai của người làm.
Những cơn mưa dông kéo về từ đằng xa mờ mịt, làm lay động cả đám rễ mạ run run. Trong làng, chắc là đã đến giờ, bác nông dân đánh những tiếng chuông rõng rạc gần một tiếng. Và mặc dù từ làng ra đến ngoài đồng còn xa, tiếng chuống ấy vẫn ngân nga trong gió và âm vang cả một làng quê đang chìm trong giấc ngủ nơi tranh tối tranh sáng chập chờn ánh trăng rạng rỡ nhắc mùa hội cấy trong đêm.
Tôi không biết nên gọi cái mùa cấy dưới đêm trăng như thế nào? Nhọc nhằn ? Hay vinh quang?
Bao giờ cũng vậy, tôi có cảm giác rằng sở dĩ có được những “hạt vàng” như thế là nhờ sự ưu ái vô cùng rộng rãi của thiên nhiên – trong những đêm mùa hội ấy có biết bao nhiêu là mồ hôi chan chứa và bàn tay nhọc nhằn của nhà nông: cắm sự sống vào đất.
Con người không thể nào đành lòng biết nhìn những thửa ruộng bỏ hoang, những hạt thóc nhỏ bé đó nhất định sẽ nảy mầm và đơm hoa kết trái. Chắc chính vì thế mà những hạt cơm với kiếp sống mong manh của người Việt chúng ta cũng gợi lên một nỗi niềm lo lắng, giống như tất cả cơn mưa rất cần cho đồng ruộng.
Có rất nhiều mạ non được xếp gọn gàng và chờ đưa sang ruộng cấy. Ở đây, không có con trai con gái nào không biết cấy lúa, trên những cánh đồng luôn luôn ngập lụt về mùa mưa. Có lẽ gió xuân đã bắt đầu vẫy gọi.
Tôi đến miền quê Thái Bình. Hồi chiến tranh vùng đất này đã trở thành hậu phương vững chắc về lương thực trong kháng chiến chống Mỹ với danh xưng “chị Hai năm tấn”. Một người nông dân đang kiên nhẫn làm việc trên thửa ruộng nhà mình và hơn nữa họ còn say sưa chia theo từng nhóm. Lúc ấy cụm từ “cấy đổi công” mới xuất hiện trong nông nghiệp.
Ông nhắc lại câu chuyện nhà nông học Lương Đình Của cho tôi nghe. Tôi bắt đầu cảm thấy ấn tượng với nhà khoa học tận tậm này. Các giống lúa, cây trồng được ông nghiên cứu và ứng dụng, lúc đầu là dừng lại cách cấy kiểu cũ, mất công và không năng suất, sau đó nhân rộng và nghiễm nhiên trở thành kỹ thuật “cấy ngửa tay” nổi tiếng.
Tôi từ nhỏ đã biết cấy lúa. Lúc đó tôi cấy chưa thành thạo (và mẹ bao giờ cũng ân cần chỉ dạy) rằng để cây lúa lớn lên sinh trưởng kịp mùa vụ, trong đó cách cắm cây lúa không được vụng về là yếu tố quan trọng. Khá lắm có ngày cũng chỉ có thể cấy được một vài ô ruộng nhỏ và không thể nào cho phép được chậm mùa vụ. Trong tôi, một lúc nào đó, bất kể cây lúa của tuổi thơ là hoài niệm, vẫn cứ chứa đựng tình cảm thiết tha đồng ruộng với những sự lớn lên của một đời người, đêm trăng thanh dưới đồng sâu, chị Trúc góa chồng, người cấy đẹp nhất đã khiến anh Quân động lòng, họ yêu nhau, thắp màu xanh cho cánh đồng và thắp lửa trong nhau.
Tôi cho rằng cũng như không ai lớn lên thành người mà không ăn hạt cơm dẻo thơm đồng thời một bầu sữa mẹ ngọt mát, thì cũng không thể nào khôn lớn để thành hình hài một cuộc đời rạng rỡ.
Tôi được dì Hồng dạy cấy. Dì nói lớn, theo thói quen con phải ra mạ đều mới cấy nhanh được, nghĩ ngợi một lát rồi trả lời:
-Cháu yêu quý ạ, cấy nông tay là cây lúa không lớn được đâu đấy. Nhưng nói chung, cháu cứ thử làm đi. Có điều tay đừng ngượng nghịu. Thế nào cũng phải cấy thẳng hàng đấy nhé! Nhất định đấy.
Tôi nhớ đến cuộc nói chuyện ấy trong đêm cấy dưới đêm trăng và nghĩ rằng, thế nào cũng cố gắng noi theo lời dạy bảo đó. Tôi thích ngắm nhìn cánh đồng lúa chín. Điều đó, không biết lúc nào đã giúp tôi lớn khôn. Tất nhiên, tôi hy vọng sẽ có những chiếc máy cấy có thể giải phóng đôi tay của người nông dân tôi tự bao đời: Những đêm cấy lúa dưới trăng, không gian mát rượi, những tiếng nói thì thầm, nhịp điệu êm đềm của một đêm hội ra đồng khắp nơi, nhưng con chim trời vẫn bay về bất chợt, như thể dự báo thời tiết, những chiếc đèn pin rực sáng trên đỉnh đầu soi cho đôi tay dẻo dai lao động.
Cả vùng quê rộng lớn lúc này thật im ắng. Những gánh mạ non nằm gọn gàng trên bờ ruộng. Một làng quê như trong đêm hội. Chắc là do cái ánh trăng lấp lánh phản chiếu cảnh vật về đêm và do màu xanh của lúa đang như thì con gái, nõn nà, nhưng bát ngát, trong xanh.
Tôi ngồi lì trong khoảng sân kho rộng rãi và chỗ đặt Hợp tác xã cũ, bắt đầu nhớ lại tất cả những gì liên quan đến một thời no đói của ông cha. Lịch sử của đất nước thật kỳ lạ và phức tạp. Hùng Vương đã gieo nắm thóc nơi Thủa dựng nước, những con cháu, những kỹ sư nông nghiệp, những nông dân chân chất của đồng ruộng Việt Nam, phương pháp nhổ mạ từ ruộng ươm, những chiếc máy cày xới đất, đồng quê – tất cả những tuổi thơ lam lũ cho tôi ký ức vạm vỡ để lớn lên thành người.
Rời làng quê, tôi bỏ mấy ngày đi đến thành phố Thái Bình và đến Đông Hưng, ở đó những cánh đồng lúa chín vàng óng, với hương thơm của gạo Tám Xuân, Hom râu, nếp Bể – một đặc sản của vùng “vựa lúa” đồng bằng sông Hồng.
Tiếng sấm đầu mùa và kéo theo hơi ẩm từ cửa biển vọng vào như dịu mát và cồn cào của nắng.
Tôi nhìn thấy những cánh đồng lúa trên quê hương “chị Hai năm tấn” đang vẫy gọi. Tưởng chừng làm nên những mùa vàng như thế này cần phải có những bàn tay kỳ khôi và mất hàng trăm năm. Thế mà những người phụ nữ bình thường của chúng ta đã làm nên một kỳ tích hết sức ngỡ ngàng: 5 tấn thóc/ha/năm.
Trong chuyến đi đó tôi đã gặp những cánh đồng trải dài thẳng cánh cò bay, mùi hương lúa, người dân cuốc đất, mở lối cho máy gặt xuống ruộng và nhiều thửa ruộng vàng óng chạy suốt đến chân trời nhưng không bao giờ sợ gió bão.
Ở Thái Bình về việc đầu tiên là tôi viết một cái phóng sự cho báo Nông nghiệp. Trong cái câu chuyện về cây lúa đó có nhiều chi tiết, nhiều trăn trở, nhưng ít người quan tâm.
Tôi quyết định tìm hiểu thêm về cây lúa ở đây, ở Đông Hưng và vì thế tôi cùng lội ruộng, xuống đồng với chị Lanh, chủ Hợp tác xã sản xuất kinh doanh nông sản. Đó là một người phụ nữ đã biến đất hoang thành những mùa vàng không có dáng vẻ gì một người lam lũ, trừ tính cách tần tảo và sự hiểu biết về cây lúa.
Tôi đã cố gắng tìm hiểu sự sinh sôi của cây lúa theo cách nghĩ của mình, nhưng tưởng tượng đến đâu, cây lúa vẫn cứ đứng vững trong gió bão. Tôi không sao hiểu được điều đó, làm sao chúng có thể cố kết với nhau, thành một dòng sông lúa bát ngát.
Những bông hoa lúa cứ xuất hiện. Dưới ánh trăng trong vắt trong bầu trời đêm tĩnh lặng, bao giờ cũng nghe tiếng nói thì thầm của chúng. Những thửa ruộng trống trải được nhuộm trong màu xanh và sự trù phú, không sao tách rời được với một cái đói nghèo duy nhất trói buộc sức sống cho những cuộc đời trong gió bão. Hạt ngọc vàng ấy là minh chứng đẹp cho tình yêu lao động, không khí của làng quê, số phận con người gắn với sự no ấm trong tôi.
Tôi nhìn về những chiếc máy cấy chạy băng băng trên mặt ruộng, về mùa vụ với những người phụ nữ đảm đang, trong niềm hy vọng sâu sắc, hiểu rằng trong khi tôi chưa kịp bước lên khỏi đồng ruộng với tất cả những sự lam lũ đó, trong khi thớ đất cằn khô dù mong mỏi đến nao lòng những cơn mưa sẽ làm cho cây lúa sống dậy, thì không thể có được hạt cơm vàng trong hạnh phúc. Và nói chung sẽ chẳng để đảm bảo sự sinh tồn nào hết.
Hồi đó tôi cũng muốn hiểu rằng muốn biết cây lúa sinh trưởng như thế nào thì cần phải xuống đồng với người nông dân –phải cầm cây mạ, cắm xuống, xem độ nông sâu đã đủ cho chúng sinh sôi chưa. Không biết người khác nghĩ thế nào chứ tôi bao giờ cũng thấy đau lòng thực sự cho những ô ruộng hoang hóa, chẳng như chiếc máy cấy không động đầu tiên ở “Thái Bình” của một kỹ sư ít học vẫn còn hết sức mới lạ với người nông dân chân chất. Dĩ nhiên, chiếc máy đó sau này cũng xuất hiện trên quê tôi. Có thể nó còn lạ lẫm, nhưng tôi tin chắc rằng đối với nông nghiệp, nếu như người nông dân có được chúng, thì phải coi như đôi tay được nghỉ ngơi. Tôi nhận thấy những người thợ cấy và những người đang làm nông dân thầm lặng đối với máy móc đều đón nhận thật nồng nhiệt.
Không có gì lo lắng hơn là năm ấy bị mất mùa.
Tôi cảm thấy như người dân đang làm việc câu chuôm thả ao vậy đó, như thể tôi phải nhịn bữa sáng hoặc không có tiền đóng học từ tay mẹ.
Trong ký ức thi thoảng nhưng nhức lời thở dài của anh kỹ sư Dũng: “Có điều anh không biết. Làm nông nghiệp thế nào cũng sẽ không đói!”.
Tôi cảm thấy nuối tiếc vì một trong những ngành sản xuất trọng điểm của đất nước mà tôi được biết đã mất dần. Tôi cho rằng chỉ có người nào kiên trì và không để mất bản sắc của dân tộc mình, làm chủ được hết thảy mọi thời tiết, người đó mới là nhà nông chân chính.
Cái suy nghĩ trăn trở ấy của tôi đã thay đổi bằng việc những đồng lúa vẫn được duy trì, không mất đi và rời bỏ làng quê Việt Nam.
Một người nông dân đứng ngở ngẩn trước cánh đồng trắng nước của mình, ngoài ông Bình, chủ tịch Hợp tác xã nông nghiệp. Tôi đã giãi bày cho ông nghe cái lo lắng của người dân quê mình, nhưng thực ra ông đã lường trước được điều đó, chắc là do thói quen lo lắng của người không thể từ bỏ.
Ông không lấy gì mặn mà với những cô gái ngây thơ đã thoát khỏi ruộng đồng trước khi lên thành thị – ông bảo tôi. Họ đã quen với đủ thứ mùi vị xa hoa phố xá nên chẳng còn nhớ gì nữa và chẳng hiểu đồng quê là chốn đi về quan trọng, cái đó không mất đi. Ông chẳng qua chỉ đang nghỉ ngơi sau giờ lao động mệt nhọc đó thôi. Tôi không biết hạt thóc có đủ nuôi sống cuộc đời không ông, nhưng tôi nghĩ rằng trên cái đồng ruộng ấy có những cơn đói đã được lấp đầy. Chẳng có ích gì cho việc làm giàu cả. Mà hạt thóc vừa có cái khó lại vừa rẻ rúm. Người dân ơi, xin đừng nóng vội mà bỏ đi đồng đất. Hãy nghĩ xa hơn. Trong các hạt thóc, có một tình quê ấm áp. Làng quê của chúng ta rất đẹp, bình yên, rất giản dị. Có khi rồi ông cũng làm được khối chuyện từ cây lúa nhỏ bé này.
Nhưng rồi tôi vẫn cứ quyết đi xa làng quê. Trước lúc lên đường, tôi ngồi hàng giờ liền ngẩn ngơ trên cái bờ ruộng mà tuổi thơ tôi gắn bó. Dường như tôi chưa bao giờ ra khỏi làng, cho đến khi quyết định lập nghiệp ấy.
Tôi đi dọc dòng sông Nhuệ Giang và triền đê thoai thoải. Dòng sông vẫn mang nước đến cho đồng ruộng, qua mùa Đông qua tới Mùa xuân. Những dòng nước nối tiếp nhau chảy vào đồng ruộng xâm xấp. Giữa những đám mạ non ấy đây đó có đám cỏ dại và những con sâu bò lổm ngổm.
Một người phụ nữ đang làm cỏ cho những luống mạ dang dở. Tôi hỏi chị bao giờ có thể đưa chúng vào ruộng cấy được.
-Phải đủ số ngày mới được – Chị trả lời ngập ngừng – Chẳng như người ta vẫn mong những quy luật cộng sinh hơn là hiện tượng phản sinh đó sao. Bây giờ cánh đồng này đã thành khu công nghiệp cao hiện đại, chẳng còn cái màu xanh êm ái ấy nữa. Mảnh ruộng nào còn lại thì cũng vô cùng thưa thớt. Đến mùa xuân tới mới thấy được.
Qủa là vậy, đồng ruộng còn rất ít, tất cả chúng đã biến mất. Một trong những cánh đồng đó ở đây, ở Việt Nam gần gũi này, vẫn được vun xới bởi những bàn tay lao động vâm váp khỏe mạnh và hy vọng.
Tôi lại gần những thửa ruộng đang dở dang. Trên cánh đồng mênh mông đó vẫn còn chỗ chưa cày xới trông rõ từng dấu tay để lại. Một cái cây mọc cô đơn che bóng mát phủ kín gần hết.
Tôi ngồi xuống nghỉ một lát và hát, bài hát của nhạc sĩ Hoàng Vân: “Tôi hát bài ca ngợi ca cây lúa/Và người trồng lúa cho quê hương/Quê hương ơi, có gì đẹp hơn thế/Đồng lúa hẹn hò những mùa gặt/Tình yêu bắt đầu từ đôi mắt/Ngày mai bắt đầu từ hôm nay.” Cầu cho câu hát xua đi đói nghèo trên đồng ruộng của người dân được hiện thực.
Tôi nhận ra trước mắt tôi là cánh đồng lúa đang lớn lên khác thường, nông dân có một số phận nhỏ nhoi, rằng chính họ vẫn sẽ vun đầy cho bát cơm chúng ta.
Tôi trở về nhà, nghỉ ngơi còn mẹ tôi vẫn tiếp tục làm việc và ngồi nghỉ ngay trên đầu bờ nắng gắt.
Người cặm cụi bên thừa ruộng bên kia là một người phụ nữ da xám, mảnh mai, đến nỗi tưởng chừng cái cánh mảnh mai đó làm cho thân hình chị trở nên cứng cáp. Trước kia chị là một cô giáo tiểu học dạy văn. Dù cuộc sống không đủ đầy, nhưng chị vẫn kiên quyết không bỏ đồng ruộng.
Tôi trò chuyên với chị một lát. Chị ấy có phần rụt rè. Chị đã quen với việc soạn những trang giáo án khô khốc, hầu như là những kiến thức chỉ phù hợp với học sinh, trẻ nhỏ, không có gì hấp dẫn mà việc đó cũng chị mới cảm thấy thích thú, vậy mà bây giờ lại phải làm một việc mưa nắng và khắc khổ là hoàn thiện những ô ruộng nhọc nhằn mà dường như không liên quan đến nghề nghiệp của chị là mấy, người ta không hiểu vì sao một phụ nữ rất áp lực với nghề truyền chữ lại có những giờ vất vả trên đồng ruộng thế được.
Cả người già, trẻ nhỏ, cả tôi – tất cả đều lo lắng. Không hiểu rồi đây có thể đuổi kịp mùa vụ này hay là đảnh bỏ dở, để có thể giúp cây lúa trổ bông trong tiếng sấm đằng đông hay không? Hay là chúng tôi chỉ nhìn thấy lá lúa khô cằn, vàng úa rồi chết hết?
Thế rồi bất thình lình mẹ tôi nhắn nhủ rằng bà sẽ không về nhà nghỉ và sẽ cấy hết ô ruộng này xong trong chiều tối. Tôi muốn phụ giúp cùng bà nhưng tuổi nhỏ lại ham chơi. Tôi bèn lên bờ ngồi nghỉ, uống nước, chờ đợi và thở nhẹ, mong cái nắng dịu lại để cho bà có thể hoàn thành ô ruộng và về nhà.
Việc cấy đuổi mùa vụ kéo dài suốt hè Thu. Cứ mỗi sáng mẹ lại thúc giục tôi đưa cho một số cái bao tải mà mẹ muốn là tôi sẽ xếp chúng ngay ngắn để khi cấy xuống thân mạ không bị gãy. Cạnh đó những chân ruộng đang làm dở mẹ dánh dấu “40 – 20 -22” giống như cách tính trong “toán học”.
Suốt những mùa cấy như thế ánh trắng vẫn chiếu sáng cho cả một làng quê vào đêm hội trong một cảnh sắc lao động vui tươi.
Qua đến tháng Giêng người ta mới xuống đồng trong tâm thế sẵn sàng, còn ánh trắng vẫn đứng đó trong vắt, không bao giờ lặn đi, của một đêm hội làng quê vẫn lao động ngay trên đồng đất quê mình “Ánh trăng đã thắp sáng cho mối tình của chị Trúc và anh Quân từ hai người xa cách đến tình chồng vợ thủy chung”.
Mùa cấy lúc nào cũng gấp gáp đến thế. Nhưng những người nông dân lúc nào cũng hào hứng vì thắng lợi trong mùa này sẽ làm động lực để nối tiếp cho những mùa sau của họ.
Khi ánh trắng vừa mới hiện ra là trong làng đã có tiếng gọi nhau đi cấy sớm và tất cả những bước chân lặng lẽ không hề có tiếng động nhỏ nào, trên kia trăng ghé xuống nhập vào đồng ruộng.
Chúng nhập vào cảnh lao động im ắng và sôi nổi, ánh sáng nào cũng đẹp, chung quanh cái đồng ruộng rộng mênh mông ấy, nó đã cùng nhà nông, chẳng điều kiện khi sáng rực khi thầm lặng đi tới những mùa vàng bình yên và đã sống cùng đời sống bình dị bao đời.
Việc lao động trên những đồng ruộng của tất cả những người con Việt Nam chẳng bao giờ dừng lại ở đó.
Khi tiếng sấm đầu mùa đang tới cũng sẽ là lúc trẽn đòng đòng vươn mình sống dậy.
Dĩ nhiên, tất cả những dông bão bất ngờ ập đến chẳng bao giờ quật ngã chúng được. Giờ đây đã có cả những con người bỏ ra cuộc đời mình và thời gian để trồng lại sức sống một cách vững vàng. Họ như một ánh trắng hiên ngang soi cho đất trời rực rỡ những vòng tuần hoàn lặp đi lặp lại, nhưng có lúc còn chất chứa nhiều mồ hôi chan chứa trong tất cả những gì mà tôi gặp ở mỗi người.
Trong làng quê ấy đã có người đi xa. Lời thì thầm của những cây lúa như người mẹ vẫn hát ru gọi ta trở về từ những lo lắng có thật. Chuyện no đói chẳng bao giờ muốn nhắc đến nữa.
Tôi đi đến những vùng đất nông nghiệp lớn nhất trên cửa biển Thịnh Long, từ Cửa khẩu Cảng Hải Thịnh đến các miền phụ cận. Ở nơi nào đi qua, hình như cũng thấy mùa xanh của lúa chín, người ta vẫn cắm cây lúa vào đất của niềm hy vọng đơn sơ bằng lao động.
Về sau tôi mới biết là dọc Hải Hậu có một nền nông nghiệp lâu đời nhất và giàu sức sống nhất chẳng bao giờ mất đi. Những bông lúa, bạn nhà nông chúng ta, quyết định chọn cây lúa như một hình hài xứ sở suốt dòng sông Hoàng Hà đến Cửu Long như muốn tươi tắm cho bao thế hệ lớn lên từ quê hương thân yêu của mình. Và dù sao đồng ruộng vẫn còn để nông dân trong các làng quê được sống thêm một lần cùng mảnh đất thân yêu mà họ rất gắn bó, người này đi xa người kia ở lại một đời gắn bó.
Vấn đề là ở chỗ Hải Hậu vẫn ngàn con sóng dữ và có dông bão. Người nông dân không có bản lĩnh giàu kinh nghiệm không thể nào chinh phục được những ghềnh sông Ninh Cơ. Vì thế trên những dòng sông này từ xưa đã có một thế hệ cư dân làm nghề lúa nước, cố kết như một cộng đồng chặt chẽ.
Khi đi qua những dòng sông lúa, mắt chúng tôi như mở hết tầm mắt, mặc dù màu xanh bạt ngàn của lúa chín đã làm dịu sự căng thẳng.
Trên đồng ruộng, người ta vẫn đang lao động. Cả những chiếc máy gieo sạ với tiếng nổ sình sịch chạy băng băng trên mặt đất để cho đôi tay nghỉ ngơi và khỏi phải mệt mỏi làm việc.
Người dân đã lợi dụng những con nước xuôi dòng khắp hạ lưu sông Ninh Cơ để dẫn nước cho đồng ruộng khỏi phải khô cạn khiến cây lúa có sức sống. Vì thế ở ô ruộng nào cũng có những bờ bao kiên cố che chắn. Những bà mẹ lom khom đội nón trùm khăn len lên đầu chân ngâm trong bùn lạnh. Khi đôi tay vừa dứt thì cũng là lúc mặt trời biến mất và đồng ruộng lại im ắng.
Những mùa cấy náo nhiệt nên thờ ấy cứ lặp đi lặp lại. Với tôi, mỗi mùa lúa là mỗi lần họ chắt chiu nhặt nhạnh.
Đó là một trong những câu hát:
“Tại sao mà người ta không nỡ bỏ đất đai để đổi lấy vàng? Vì sao mà người ta không nỡ bỏ bát cơm, tháng năm đói rét? Có lẽ chúng ta đã không lớn lên bằng lòng tham, bằng lời ru êm ái? Hãy nhìn sông Hoàng Hà đi, hãy nhìn dòng Cửu Long ngạo nghễ thềm lần nữa. Bỏ đất như bị bỏ đói, đồng ruộng toàn lo lắng chúng ta những bà mẹ anh hùng. Than ôi? Vì sao cái cơn đói năm tháng kia lại ra đi đúng lúc? Hỡi em, vì sao suốt dòng Hoàng Hà này lại chảy ngầm những nhựa sống bất diệt?”
Cứ như thế chúng tôi đến Hải Hậu trong tiếng hát thì thầm những cây lúa bất tận.
Đến Hải Hậu những người thương lái sắc sảo chờ đợi mua hàng và ký kết hợp đồng quan trọng. Một anh chàng cửu vạn vâm vác, màu da sám sịt với thân hình nắng gió nâng những bao tải gạo chất đầy thùng xe.
Người ta xếp những bao tải gạo vào những kho rộng lớn trong tiếng thở dài nặng nhọc. Một cô gái trẻ nhẩm tính những con số xuất nhập với hành động dứt khoát. Cô gái đếm số gạo còn sót lại trong kho. Theo sau người người phụ nữ mấy bước là một bác nông dân đứng tuổi trong bộ quần áo cũ kỹ. Đó là anh nông dân, yêu đất và bỏ làng của một địa chủ đã chết.
Trên ruộng, lúa vẫn đứng thẳng hàng và máy cấy nổ những tiếng êm ái, khi người ta bắt đầu gọi nhau vào vụ.
Chẳng có mùa cấy nào không để lại những ấn tượng trong câu chuyện muôn đời. Không có trận bão nào làm nghiêng ngả ý chí đó nhưng không hiểu sao cây lúa vẫn đứng đó hiên ngang như bản lĩnh của người Việt Nam quật cường trong trí nhớ của tuổi. Đó là màu xanh lấp lánh khác thường của sao Thần Nông.
Tôi chưa bao giờ nhìn thấy ánh sáng lấp lánh tinh khôi và kỳ diệu như thế bao giờ. Sao Thần Nông mạnh mẽ và bí ẩn giữa ngân hà trong đường chân trời đang lặn dần trước hoàng hôn vô tận.
Đó là sứ giả của nhà nông, người mang niềm hy vọng rực rỡ cho họ. Không hiểu vì sao mà với những nông dân thật thà ở các làng quê và ở tất cả con người Việt Nam nữa, trái tim Việt Nam, tôi đã không nhận ra nó. Còn ở đây, sao Thần Nông lấp lánh trong cái mạnh mẽ bí ẩn bên trên những đồng ruộng mênh mông, trên những bờ bao, trong những mùa cấy trên từng mảnh quê hương, nó làm điểm tựa cho đất đai phương Đông, trên sông Hoàng Hà và Cửu Long, trên phù sa Đông Sơn và vùng châu thổ Mê Công.

Bài viết liên quan: