SÓNG VỖ VỀ BỜ –  Truyện ngắn của Nguyễn Thị Ngọc Diễm

Má con Diễm à… . Ông định cất lời…  Má con Diễm đừng như thế với tui nữa được không. Mỗi lần gặp ánh mắt cầu xin của tui bà lại trở nên dửng dưng quay đi, thế là tui lại sợ, không dám nói. Đời thằng đàn ông nói ra câu ấy khó lắm.

Ông thẫn thờ ngồi xuống bậc thềm, nhìn bóng dáng vợ mình thấp thoáng sau những chậu mai kiểng. Má con Diễm có biết vì sao tui lại chọn việc trồng mai kiểng để kiếm sống không, có biết tại sao tui đặt tên con là Ngọc Diễm không, muốn giãi bày lắm mà bà không cho tui nói. Má con Diễm biết rồi đấy, tui mê mai vàng từ bé, muốn sau này mình sẽ có một vườn mai thật đẹp để khi mùa xuân tới được ngắm sắc vàng rực rỡ cho đã mắt. Vậy mà thời cuộc đã cuốn cuộc đời tui theo hướng không mong muốn. Mỗi lần bà nói đùa, bây giờ thích ngắm bông mai trên ve áo tui giận lắm. Cái đời binh nghiệp chết tiệt của tui đã có bông mai nào trên ve áo đâu, từng ấy năm vẫn chỉ là anh lính quân y mèng. Được trở về, lúc đầu tui trồng một vài gốc mai chỉ muốn những lúc đi làm về mình có nơi tâm sự, chứ bà im lặng thế khiến tui trống trải lắm. Tui mát tay nhưng chỉ với trồng mai thôi chứ với bà lại là người thừa phải không. Tưởng trồng chơi vậy mà vườn mai lại trở thành nguồn thu nhập chính của tui. Ước mơ thuở nhỏ được toại nguyện, còn điều lớn lao hơn thì không biết tới khi nào đây.

Má con Diễm dừng lại bên gốc mai thế trực quân tử liên chi rồi kìa. Chắc má con Diễm biết tại sao tui không bao giờ bán gốc mai ấy à. Ước vọng của tui đấy. Đúng là trời đất đã phù hộ cho tui có được nghề kiếm sống, lại ban cho gốc mai ưng ý. Cái cây ấy, lúc đầu chỉ có phần thân dưới mập mạp, những chiếc rễ nổi cuộn lên khoẻ khoắn thôi phải không bà. Tui muốn tạo thế trực để tỏ mình là người ngay thẳng và thanh cao. Thế rồi, nẩy thêm ba cây nhỏ xung quanh. Tui nâng niu, kỳ công lắm để cho tán của cây mẹ xoà xuống che chở cho đàn con, để thế mai trở thành quân tử liên chi. Ông trời an ủi tui bằng thế cây gợi hình ảnh xum vầy, hạnh phúc bên nhau. Nhiều lần tui bắt gặp bà cũng đang nói chuyện với cây mai ấy, ánh mắt hình như vui hơn thì phải. Nhưng niềm vui ấy cũng chỉ loé lên như ngày tui trở về rồi lại….

Má con Diễm có nhớ hôm nay là ngày gì không. Là ngày tui trở về đấy. Nhớ lại những ngày kinh hoàng trong đời ấy tui thấy ân hận, thấy xấu hổ, thấy mình … . Đời thằng đàn ông nhắc tới câu này khó lắm.

Những tiếng rít gió của các loại đạn xé nát bầu trời. Tiếng nổ triền miên, dữ dội dường như đất dưới chân sụt xuống, kinh hoàng. Hoảng loạn. Những người lính cởi quân phục, quăng súng đạn, chạy. Mình chỉ là lính quân y cứu chữa người bị thương thôi chắc họ không làm gì đâu, tui tự nhủ như thế để mình bình tĩnh cột lại nút gạc cho người bị thương. Nhưng khi nhìn thấy lá cờ nửa xanh nửa đỏ trên tháp pháo chiếc xe tăng đang lao về phía mình tui đã run, vùng bỏ chạy. Gia đình là nơi trú ẩn tốt nhất, chợt nghĩ vậy thế là tui chạy về nhà. Gần năm cây số, vừa chạy tui vừa cầu mong ba má và vợ con đã chuẩn bị xong đồ đạc, sẵn sàng lao đi cùng tui.

Xóm nhỏ nơi gia đình mình sinh sống cả trăm năm nay đây rồi. Tui thở dốc, dừng lại ôm ngực đang đau thắt. Sao yên ắng thế, chẳng lẽ mọi người cũng bỏ chạy hết cả rồi sao? “Vô nhà đi con!” – Là tiếng má gọi, tui mừng lắm. Tiếp theo là tiếng của bà: “Mình đã về nhà rồi à. Em đi chợ mua được một ký thịt heo rừng ngon lắm ha”. Lúc ấy nghe tiếng bà sao thân thương. Tui chợt nghĩ, sao cả nhà lại bình thản thế. Chỗ dựa của mình đây rồi! Tui nhớ ra rồi, mình đã hẹn với ba má, với bà hôm nay về ăn cơm nhà. Chỉ một bước chân nữa là tui bước vào trong cổng nhà mình. Nhưng, “Chạy đi!” – Mấy người lính cuống cuồng chạy ngang qua thúc giục. Tui giật mình quay nhìn về phía con đường vào làng. Thấp thoáng sau hàng dừa là những người lính đội mũ tai bèo. Gần lắm rồi! Tui hoảng sợ. Và chạy. Tui lao về vườn chuối. Chiếc xe Honda 67 vẫn còn chỗ đó. Tui nhảy lên xe, nổ máy, chạy. Có người níu lại nhảy lên theo càng khiến tui không làm chủ được mình, chỉ biết chạy theo đoàn người.

Bây giờ tui cũng chẳng thể nhớ nổi, tại sao mình cùng chiếc xe Honda 67 lại bị “cơn lốc” cuốn lên chiếc tầu Mỹ đang chuẩn bị tháo dây neo rời cầu cảng. Boong tàu chật cứng người cùng đồ đạc mang theo. Con tầu quá tải đùn ra những đụn khói đen đặc, vật vã rời bờ. Mùi mồ hôi, mùi dầu máy, mùi sợ hãi trộn vào nhau, nồng đến buồn nôn. Đã xa bờ, xung quanh chỉ còn một màu xanh ngắt đại dương. Sống rồi, mọi người hồ hởi. Ai cũng thở phào nhẹ nhõm, tìm chỗ ngả lưng sau những giây phút căng thẳng, mệt mỏi. Nhưng cuộc đời đâu dễ trôi xuôi ngay được. Sóng bắt đầu đánh mạnh. Con tàu chao nghiêng ngả. Những thân hình mỏi mệt không đứng vững xô đẩy nhau khiến con tàu muốn lật úp. Tiếng la hét, chửi bới nhau càng thêm hoảng loạn. Một tràng AR15 vang lên thị uy để giữ trật tự. Một tiếng nổ dù nhỏ nhoi, lạc lõng thôi nhưng cũng khiến những con người đang bị ám ảnh của chiến tranh giật mình sững lại. Rồi có lệnh vang lên, gắt gỏng và dứt khoát: “Vứt hết hành lý xuống biển!”

Những ánh mắt thất thần hướng về người nói đang đứng trên boong chỉ huy rồi thẫn thờ nhìn xuống đống đồ đạc mình đã gắng sức mang theo. Đó là cả cơ nghiệp tích cóp được và cũng có cả những kỷ niệm cuộc đời trước đây của mình. Một con sóng lớn ào lên trên boong, xô mọi người ngã dúi dụi. Tiếng rên la đau đớn. Không thể chần chừ được nữa. Tiếng người chỉ huy ra lệnh: “Các người nghe đây, trước hết phải cứu mạng mình đã. Vứt hết hành lý xuống biển!”. Lúc này mọi người đã nhận ra sự an nguy của tính mạng, không ai bảo ai, những thứ đồ nào gần mình đều ném hết xuống biển. Những chiếc va li chìm nhanh đến tàn nhẫn. Có người gào khóc, với tay ra về phía những con sóng cố níu lại cuộc đời mình đã gửi vào trong thứ đồ đó. Có người đứng chết lặng, hai tay buông thõng, đành để cuộc đời trôi xuôi cho ông trời định đoạt.

Tui cố níu lại chiếc xe máy của mình nhưng rồi cũng đành bất lực buông tay để người ta ném nó vào con sóng. Tui thấy mình nhẹ bẫng, linh hồn mình đang bị bóc ra khỏi cuộc đời, chìm khuất vào mênh mông đại dương. Bà nó ơi, lúc đó tui gọi tên bà, rồi nhủ thầm, chiếc xe đó là tâm tình của bà gửi vào, giờ tui không giữ lại được rồi. Mấy năm trước, tui đưa tiền cho bà, nói rằng mua chiếc xe honda C50 để đi làm, đi chợ cho đỡ mệt thì bà lại mua chiếc 67. Bà nói, để những ngày nghỉ ở nhà tui đi đây đó, sĩ diện với bạn bè, tui đi xe đạp quen rồi. Bà lo cho tui cả cái việc nhỏ nhoi ấy vậy mà tôi nỡ lòng nào giật nó mang đi. Giờ không được ở gần, tui mong tình cảm của bà với tui đừng bị cuốn đi. Mình biết đi đâu bây giờ! Lênh đênh vô định trên biển, biết phương hướng nào an toàn đây, tui ân hận lắm, muốn lao xuống biển để quay lại bờ. Nhưng đâu là bờ? Tui bị mất phương hướng cả về đường đi và đường đời má con Diễm ạ.

“Kia rồi, đất liền!” – Tiếng ai đó reo lên. Nhưng đây là đâu? “Đây là Phú Quốc, sao lại vào?” – Ai đó hét lên. “Tàu hết dầu, phải quay vào bờ!” – Thuyền trưởng đứng trên ca bin chỉ huy thông báo. Có không ít tiếng hét giận dữ giục tàu quay ra. Còn tui thấy mừng. Thế là mình có hy vọng được trở về quê nhà.

Hãy cút đi, những kẻ hèn nhát. Đám đông người dân trên bờ không chấp nhận bọn tui đặt chân lên mảnh đất của họ. Câu nói đó với người đàn ông sao thấy sợ. Nhưng không vào bờ thì chỉ có để tàu lênh đênh trên biển và rồi sinh mạng của mọi người phó mặc cho con sóng. Tui hoảng, mình không thể chết trên biển được, cũng không thể để những người trên bờ bắt giữ. Lợi dụng lúc lộn xộn, tui cùng một số người nữa trốn được vào rừng.

Được vài người dân bản địa thông cảm với hoàn cảnh đã che chở, cho tui cư ngụ. Một năm ở Phú Quốc, đêm nào cũng gần như trắng đêm tui nằm nghe tiếng sóng vọng về, nhớ nhà, lo lắng không biết bà cùng sáu đứa nhỏ có hoảng sợ bỏ chạy giống tui khi nhìn thấy bóng những người lính giải phóng tiến vào làng. Tui nhớ lại từng ngóc ngách trong căn nhà cũ kỹ của mình. Nếu yên ổn thì sang năm nhà mình sẽ sửa sang lại, hai vợ chồng đã dự tính rồi mà. Sáng ra, tiếng đàn chim hải âu kêu chao chát trên mặt sóng, tui nghĩ tới mâm cơm gia đình, không biết có còn đủ bát hay không. Tui muốn khóc lắm nhưng không thể, nước mắt cứ trôi ngược vào trong. Phải về thôi, dũng cảm lên, phải đối diện với thực tế của xã hội dành cho mình, miễn sao được gặp lại gia đình.

Một năm không thư từ, không tin tức về gia đình, đại dương trước mặt tui là một bức tường ngăn cách hai thế giới mà mình không thể vượt qua. Bức tường bên kia là ba má, là vợ con chắc ngóng chờ trong vô vọng. Lúc đó hẳn bà nghĩ tui đã chết phải không. Người lính chết trận gia đình còn biết tin tức, còn mình bặt vô âm tín sao. Bức tường bên này tui dằn vặt, thấy mình bị bỏ rơi, bơ vơ. Thà rằng mình bị đắm tàu, đạn lạc hay bị cướp biển còn hơn phải sống khổ sở thế này. Phải về thôi!

Tui khao khát khi nhìn con đường đã quen thuộc với mình mấy chục năm nhưng chưa thể về nhà ngay được. Tui phải ra trình diện chính quyền Cách mạng, nghe theo lời khuyên của những người đã cưu mang mình ở Phú Quốc. Đó là con đường gần nhất để tui về với gia đình. Lúc đi trên đường tui lo lắm. Tại sợ. Tui sợ những người ngang qua, không biết có phải người quen. Có ai nhận ra mình không.

Cải tạo sáu tháng.

Sáu tháng, tui sống cùng những người đàn ông có hoàn cảnh giống mình. Mọi người hỏi nhau, mình đã bỏ chạy à? Không ai dám trả lời câu này. Thấy xấu hổ. Ban đêm trong dãy nhà dài, khó ngủ, những tiếng thở đều đều vang lên. Mọi người nghĩ gì mà không ngủ được? Còn tui, nhớ tới ba má, vợ con và dằn vặt bản thân. Nhà mình ở ngay gần thôi, chỉ hơn tiếng chạy xe mà sao xa vời vợi. Lúc ấy tui có ý nghĩ “Nếu trở về mà không còn ai, mình có được trách số phận không?”. “Không! Tại tui, má con Diễm à. Một anh đàn ông không thể bỏ gia đình lại để chạy trốn một mình được. Bà có tha thứ cho tui không?”. Dù hoàn cảnh nào tui vẫn tin tình yêu của bà dành cho tui. Hy vọng!

Vì công vụ, đã nhiều lần tui phải xa nhà, thời gian còn dài hơn nhưng lần trở về này tui lại thấy run, chứ không có cảm giác vội vã, phấn chấn như mọi khi. Không biết gia đình thế nào rồi, đó là câu hỏi trên suốt chặng về. Tui lo lắng, tự đoán xem ai sẽ là người đầu tiên mình gặp. Mặc dù có lúc tui đã nghĩ mọi người cũng bỏ đi nhưng vẫn cứ hy vọng. Nếu gia đình mình vẫn còn ở lại thì có như những lần trở về trước đây, ba má thì phấn chấn, những đứa trẻ reo vui, còn vợ thì cố nén niềm vui khiến ánh mắt long lanh, mặt bừng đỏ không. Ngực tui thắt lại, bước chân trở nên run rẩy khi đi chính trên con đường làng mình.

Cánh cổng hé mở khiến tui vừa mừng vừa lo. Trong nhà có người! Tui khẽ đẩy cánh cửa. Tiếng ken két khiến tui giật mình rụt tay lại. Tui sợ tiếng động. Người lính trải qua chiến trận luôn ám ảnh về tiếng nổ. Mấy chục năm rồi tui vẫn không thoát ra khỏi những tiếng nổ má con Diễm ạ. Bà đấy à! Bà bất ngờ xuất hiện trước mặt khiến tui giật mình lùi lại. Đấy cũng là một trong những khoảnh khắc tui thấy ân hận trong đời. Tui bắt gặp một thoáng vui loé lên nhưng rồi vụt tắt sau bước lùi chân của tui, để cho cái sững sờ chăm chắm của bà soi vào. Im lặng. Tự dưng có một bức tường vô hình chặn tui lại. Tui cúi đầu như người chịu tội, người run lên, không biết bà có nhận ra không. Mãi rồi tui cũng cất được lời: “Tui … tui tưởng bà với tụi nhỏ …!” Câu này khiến bà chạnh lòng lắm phải không. Bà hờ hững đáp lời: “Tui cũng tưởng ông chết rồi.” Giọng nói của bà lúc ấy sao tàn nhẫn thế.

Chỉ vậy.

Không ai nói thêm lời nào.

Những ngày sau vẫn vậy.

Tui bước qua cổng nhà mà sao nặng nề. Hơn một năm qua tui cũng đã chuẩn bị cho mình tình huống này nhưng sao vẫn thấy hụt hẫng. Tại tui.

Bà giận tui lắm phải không? Mỗi khi tui định nói lời này thì bà lại quay đi. Tui mặc cảm, đành nín lặng. Tui cố làm mọi việc nhà như trước đây mong nối lại những hình ảnh quá khứ để khảng định hiện tại của mình. Bà lặng lẽ khiến tui càng âm thầm hơn, có cảm giác dư thừa trong chính căn nhà và vợ con mình. Tới bữa cơm, lỡ tay để đũa của mình va vào bát lanh canh cũng khiến tui giật mình. Nhìn sáu đứa con đang tuổi ăn tuổi lớn tui càng ân hận hơn. Chúng gầy gò quá là do tôi không chăm bẵm tử tế. Có đứa rụt rè liếc nhìn tui, có đứa cúi xuống tránh ánh mắt tui và vội miếng cơm vào miệng mà thấy thương. Tại mình.

Mình phải làm lại từ đầu. Nhưng làm gì đây. Đó là bế tắc của tui. Rồi nhận được việc gì cũng không nề hà, để rồi đã nhận là làm hết sức mình có thể. Bà có nhớ xóm láng khi ấy ví tui thế nào không, trông ông ấy như bánh đường đen. Đó là tôi gầy gò, đen nhẻm. Không quản nắng mưa, ngày nào tui cũng đạp xe hàng chục cây số tới các lò nấu đường lấy hàng đem giao ở chợ. Rồi mọi người còn nói, bà được hưởng sự ngọt ngào của “bánh đường đen”. Không biết bà nghĩ gì. Tui và bà vẫn im lặng.

Tui mệt nhưng gắng làm lụng nhiều hơn vừa để có tiền vừa để khuây khoả.

Càng ngày tui càng thấy trống trải bởi không nói được, không giải thích được. Tui chỉ biết gắng. Bà có nhớ lần đầu từ ngày trở về tui chủ động gắp miếng cá ngon để vào chén cho bà. Tui hồi hộp, run lắm. Đón đợi ý bà. Bà không gắp trả lại tui mừng và hy vọng. Và mọi bữa tui vẫn gắp thức ăn, chan canh nóng cho bà. Nếu một bữa tui quên làm việc ấy tui cũng nhận ra bà không ưng. Nhưng mãi chỉ là hy vọng bởi bà vẫn không nói với tui. Nhưng tui biết, bà vẫn còn thương.

Hôm xin được cây mai thế trực có gốc mập mạp, tui mừng lắm, khi bước vào cổng muốn gọi bà thật to để khoe. Nhưng bà quay đi, không nhìn. Lúc ấy tui nghĩ, bỏ cây mai đi để chiều lòng bà. Nhưng như thế càng tệ hơn phải không bà.

Và cũng từ ngày ấy, ban đêm trong gian nhà mình bắt đầu không yên tĩnh như người ngoài tưởng. Bà kình tui từ chuyện cũ tới chuyện mới, từ chuyện ngày tháng biền biệt không tin tức tới chuyện từng bữa cơm tui về trễ. Bao nhiêu câu hỏi dồn nén mấy chục năm nay chỉ chờ đến lúc tối trời, khi chỉ có hai vợ chồng bà mới nói ra được. Vẫn là tại tui. Tui đã mang cây mai về. Ngày yêu nhau, tui với bà đi ngắm vườn mai. Mải ngắm những gốc mai đẹp tui đã bỏ mặc người yêu đứng lạc lõng giữa người lạ. Thế là lần đầu tiên bà giận tui. Nhưng cũng từng ấy năm chung sống tui hiểu, bà luôn tôn trọng sở thích của tui một cách tế nhị và kín đáo.

Bà không gào, không khóc nhưng giọng đều đều lại cứa vào lòng tui, xót lắm. Tui nằm im lắng nghe, chỉ biết thở dài.

Thế rồi con Diễm ra đời trong những đêm thở dài của tui.

Tiếng trẻ con làm căn nhà ấm lại. Nhưng vẫn là chuỗi ngày im lặng của bà. Tui vẫn mang cảm giác mình đến sau trong gia đình này, sau cả con Diễm nữa. Tại có một câu tui không dám nhận với bà, với các con. Đàn ông nói ra câu này khó lắm.

*

Má con Diễm có thấy cây mai thế trực quân tử liên chi ấy năm nay nhiều nụ không. Chắc bà chưa biết vì sao tui đặt tên con là Ngọc Diễm. Ngày tui biết có thai con Diễm thì cây mai ấy đơm nụ. Khi tui đang mê đắm ngắm nhìn những chiếc nụ nhỏ xinh thì bà đi ngang qua, tui bất ngờ reo lên: “Nhìn như những hạt ngọc, bà nhỉ!”. Có lẽ lúc ấy trông nét mặt tui phải cải lương lắm nên bà nói phớt câu: “Diễm lệ thế!”. Bà nói nhỏ tôi nghe không rõ, có phải bà nói thế hay tui tự nghĩ thế. Đêm ấy, sau khi nghe bà ca thán xong tui vội nói chen vào: “Đặt tên con là Ngọc Diễm bà nhỉ. Một viên ngọc đẹp.” Là tui vẫn còn đang nghĩ tới nụ mai đẹp như viên ngọc. Không biết bà có nghĩ như thế không, hay là chiều lòng tui.

Con Diễm về kìa.

– Sao rồi, có phải thằng Thanh không muốn đến nhà mình nữa phải không?

Kìa bà, để con xuống xe đã rồi hãy hỏi chuyện.

– Má! Má nghĩ chi kỳ vậy.

– Thì nửa tháng nay không thấy nó đến. Có phải nó biết chuyện ba tụi bây ngày xưa …

Thế là tui hiểu rồi. Bà lo lắng, bà giận tui ra mặt từ hôm tui nói chuyện với người yêu con Diễm về lai lịch của tui. Bà lo cho hạnh phúc, cho tương lai của con Diễm phải không. Bà sợ thằng Thanh đang là cán bộ có triển vọng của Trung đoàn không quân 910 tại sân bay Tuy Hòa và gia đình ngoài Bắc của nó sẽ không chấp nhận tình yêu của chúng nó ư. Lo thì đúng rồi nhưng để con có được hạnh phúc thì chúng nó phải hiểu tường tận về nhau, chấp nhận những nỗi đau của nhau. Bà hiểu cho tui nhé.

Con gái đi lại khiến ông lúng túng. Con Diễm ngồi xuống cạnh, tựa đầu vào vai ba. Nó muốn truyền tình cảm sang mình đây mà. Muốn an ủi mình chăng. Không ít lần con gái thể hiện tình cảm nhưng lần này ông hồi hộp, đón đợi điều gì đó bất ngờ chăng.

– Hồi đó sao ba không quay về liền?

– Con giận ba vì chuyện đó à?

– Hổng phải đâu ba.

– Vì ba không biết mình còn được quyền quay về hay không.

– Sao vậy ba?

– Tại cái hình ảnh chiếc xe Honda 67 má mua cho ba chìm dần xuống biển khiến ba thấy mình có lỗi. Và những lúc quan trọng nhất ba lại không có mặt ở bên gia đình.

– Thì ba đã trở về rồi mà.

– Ba không bỏ gia đình. Sóng bao giờ cũng vô bờ mà con. Nhưng có một điều ba không thể nói được với má con.

– Điều gì ba?

– Nói ra câu này với người đàn ông khó lắm. Đó là …

– Kìa ông, sao ông lại nói thế. Là tại tui, ông à!

Má con Diễm đó à. Có phải má con Diễm nói với tui đó không! Mấy chục năm rồi.

– Tại tui! Lúc nào tui cũng canh cánh lo cho tương lai của các con thành ra thế. Phụ nữ mà ông. Những đứa lớn đã yên ổn rồi tui mừng lắm, nay còn con Diễm chẳng biết thế nào.

– Má lo chuyện gì chớ. Lo anh Thanh bỏ con sao. Không phải rồi má ơi, anh Thanh nửa tháng nay không đến nhà là ra ngoài Bắc thưa với gia đình. Chỉ chốc lát nữa thôi là bố mẹ anh ấy sẽ đến chơi rồi đặt vấn đề đó.

– Vậy hả! Má con Diễm à …! Ông định cất lời. Thế là tui được toại nguyện rồi. Không gì vui hơn là được má con Diễm mở lòng, lại ở trong tâm trạng vui như vậy. Nhưng … Nói thế có được không? Đắn đo khiến ông không cất nổi lời. Tại? Bây giờ lại không phải tại cái câu khó nói nhất của người đàn ông, đó là tự nhận mình hèn mà tại mấy chục năm rồi tui chưa được mở lòng với bà. Điều đó giống như như cái khoá lâu ngày không mở bị rỉ sét, phải mất thời gian, phải lựa, má con Diễm chờ tôi nhé.

 

Tuy Hòa, 10/2008