Bốn mươi năm dạy học, chưa lần nào cô Lan gặp phải bài toán hóc búa như hôm nay. Đáp án của cô là một trong hai bài thi, chúng đang đặt trên bàn, trước mặt cô. Người gián tiếp mang đến tình huống đặc biệt này, buộc cô phải chọn lựa là cô gái ngồi trước hiên nhà.
Cô đang ngồi trước giá vẽ. Dưới ánh nắng hồng của buổi sớm hè, khung gỗ óng ánh nước sơn nâu bóng, nổi bật trên tấm phông là bức tranh đang vẽ, mùi sơn phảng phất thơm. Cô Lan đứng dậy, bước ra hiên, đến sau lưng cô gái. Bức tranh chỉ mới phác thảo: ngọn núi sừng sững làm phông nền, con đường đèo quanh co, dưới chân đèo là đồng cỏ xanh ngan ngát… Biết mẹ đang xem tranh, cô gái cất tiếng hỏi:
- Mẹ có nhận ra con vẽ nơi đâu không hở mẹ?
- An vẽ làng Bân đó à.
An đứng dậy, nhường ghế mẹ ngồi. Cô ra đứng sau lưng, hai tay ôm lấy vai mẹ, cằm tựa nhẹ trên mái tóc lấm tấm sợi bạc. Ánh mắt hai người đều hướng vào bức tranh. Ánh nhìn của con trong sáng, say đắm, tự hào. Còn đôi mắt mẹ đăm chiêu, nghĩ ngợi.
- Mẹ ơi, chiều hôm qua, chị Trang có đến tìm mẹ.
Nghe An nhắc đến Trang, cô Lan cảm thấy lòng thêm nặng trĩu. Trang là cô giáo trẻ, năng động, được cô đề xuất với Ban giám hiệu thay mình phụ trách tổ Ngữ văn. Ấy vậy mà vừa lúc cô nhận quyết định nghỉ hưu thì Trang nhập viện vì ung thư vú. Lúc vào bệnh viện thăm Trang, nhìn khuôn mặt xanh xao, ngực lép kẹp, đôi mắt thâm quầng, cô Lan cố nén những giọt nước mắt thương cảm để an ủi động viên Trang.
Trang sùi sụt nói với cô: “Cô ơi, con biết cô đã nhận quyết định nghỉ hưu rồi. Nhưng cô gắng ở lại thêm vài tuần dạy thay con nghe cô. Con đã đề xuất với Ban giám hiệu. Chỉ còn chờ ý kiến của cô thôi.” Tất nhiên cô Lan không từ chối. Vì Trang không chỉ là đồng nghiệp mà còn là cô học trò mà cô thương yêu, từ lâu cô xem Trang như con gái của mình.

Trang đã đến ở cùng gia đình của cô giữa năm học lớp bảy. Năm ấy, cơn bão rớt cuối năm là cơn bão dữ. Bão đi qua quét sạch làng chài ven biển. Và khi mùa đông đến, đi liền với cái rét là cái đói. Học sinh đến lớp cứ thưa thớt dần. Sáng sớm, thay vì đến trường, chúng kéo nhau ra bãi biển: đào ngao, bắt còng, lượm vỏ lon nước ngọt, nhặt nhạnh những gì còn sót lại trên bãi biển có thể bán được. Khi bãi biển có người ra tắm là chúng quay về nhà. Rồi khi trở ra, trên tay là những món hàng đặc sản của đá núi Ngũ Hành. Vòng cẩm thạch, chuỗi ngọc, dây đeo tay, tượng Phật, móc khóa… Với vốn tiếng Anh ít ỏi, chúng chào mời khách nhiệt tình nhất có thể. Không cần biết khách từ đâu đến, nói bằng ngôn ngữ gì, và dù khách không mua hàng chúng vẫn cười tươi, vẫy tay chào từ biệt: “Thank you very much. See you again. Bye…bye…”. Tiếng cười rộn rã của những đứa trẻ dường như đã đẩy dư âm bão rớt dần ra khơi xa.
Trang không có mặt trong đám trẻ đó. Trang theo mẹ về làng Bân. Nếu ai từng qua đèo Hải Vân bằng tàu lửa, từ lưng chừng đèo nhìn xuống sẽ trông thấy một ngôi làng nhỏ bé, thơ mộng dưới chân núi. Bờ cát trắng xóa uốn quanh quanh. Nước biển xanh biêng biếc. Đàn bò như những chấm nâu vàng di động trên bãi cỏ xanh.
Cô Lan tìm đến làng Bân vào buổi sáng chủ nhật. Men theo con đường dọc bờ biển, qua một truông nhỏ với nhiều cây cối um tùm. Trước mắt cô là một thảo nguyên nhỏ, đàn bò đang thơ thẩn gặm cỏ, vài chú bê con đang bú mẹ. Cô bé chăn bò, đội chiếc mũ cọ rộng vành, từ xa đã reo to khi vừa trông thấy cô: “Ôi! Em chào cô ạ!”
Cô bé ấy chính là Trang. Gặp cô chủ nhiệm, Trang mừng lắm, cô bé giao đàn bò cho đứa em trai rồi đưa cô Lan về nhà. Căn nhà ngói nằm ở đầu làng, cách đó không xa là ngôi miếu cổ mái ngói rêu phong. Ngôi nhà này của cậu Trang, sau cơn bão, mẹ Trang đưa hai con về tạm trú. Mẹ Trang, người phụ nữ gầy gò, nhiều năm hen suyễn, nước mắt ngắn dài kể cho cô Lan nghe về gia cảnh của mình. Cả nhà bốn miệng ăn, tất cả đều trông cậy vào những chuyến đi biển của ba Trang. Cơn bão số 12 không chỉ cuốn phăng căn nhà tôn lụp xụp mà còn cướp mất đi trụ cột của gia đình, người chồng đã đi biển không về.
Bão tan, chồng mất tích. Nhà không còn. Đành dắt díu hai con về ở nhờ cậu em trai. Cậu mợ của Trang cũng không khá giả, con lại đông, ba đứa trạc tuổi chị em Trang, giờ thêm hai cháu và người chị nay ốm mai đau lấy đâu ra tiền cho Trang đi học. Mà dù có tiền đi nữa, làm sao Trang có thể đi về mỗi ngày trên con đường cô Lan vừa đi, gần hai tiếng đồng hồ không dừng nghỉ.
Thương Trang, cô Lan bàn với chồng nhận đỡ đầu để Trang học hết cấp 2. Sang năm lớp mười, Trang cùng mẹ và em trai dọn về khu định cư. Do làng Bân được tỉnh đầu tư trở thành khu du lịch, tiền đất đền bù, cậu mợ Trang chia lại cho chị một nửa. Mẹ Trang đã xây nhà, mở cơ sở làm mắm. Mắm đặc sản từ cá cơm, cá rò, ruốc… của mẹ Trang nổi tiếng khắp chợ Hàn. Nhờ vậy chị em Trang được học hành đến nơi đến chốn.
Bẵng đi một thời gian rất lâu, chừng mươi lăm năm có hơn. Lúc chồng nghỉ mất sức, cô Lan xin chuyển về trường cấp 2 Phú Túc để cùng chồng trông coi việc thờ tự của họ tộc. Tại đây, bất ngờ cô Lan gặp lại Trang. Xưa là thầy trò, nay là đồng nghiệp nên càng gắn kết nhau hơn. Vì thế cô Lan nhận dạy thay Trang vì tình cảm hơn là trách nhiệm.
Khi Trang xuất viện, cô mang tiền quyên góp của tổ đến thăm. Vừa đến ngõ, đã nghe tiếng Trang giảng bài, vẫn giọng nói ấm áp, truyền cảm nhưng có lúc như hụt hơi. Nép người sau cánh cổng, chờ lớp học tan, học sinh về hết, cô Lan mới vào nhà. Cô giả vờ như không biết, nhưng Trang vẫn không giấu diếm: “Con xin xuất viện sớm cô à. Tranh thủ luyện thi chuyển cấp cho học sinh. Con biết hiện nay giáo viên không được dạy thêm. Cô thương con, xem như cô chưa đến nhà con hôm nay nghe cô.”
Hôm ấy, cô Lan đạp xe đi loanh quanh đến khuya lắc khuya lơ. Cô thấy thương cho Trang và nhớ đến hoàn cảnh của mình hơn hai mươi năm trước. Hồi ấy, chồng công tác xa, một nách hai con nhỏ, đồng lương của hai vợ chồng chỉ đắp đổi qua ngày, nhiều khi thiếu trước hụt sau. Nghe theo lời vận động của các bạn đồng nghiệp, cô cùng họ viết đơn đề xuất ban giám hiệu trường mở lớp bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu kém. Thật ra đó là hình thức hợp pháp hóa việc dạy thêm trong trường mà thôi. Hiệu trưởng trường đồng ý với điều kiện giữ lại năm mươi phần trăm tiền học phí sung vào quỹ Đời sống nhà trường. Hết năm học, nguồn quỹ ấy không được công khai.
Phản đối việc “ngồi mát ăn bát vàng”, nhiều giáo viên lần lượt nghỉ dạy. Chỉ có cô Lan vẫn bám trụ với lớp học của mình. Với cô, số tiền học phí được nhận ít ỏi nhưng dù sao chắt chiu cũng mua cho con đồng quà, tấm áo. Phần khác, có lẽ nhiều hơn là những ánh mắt ngây thơ trong sáng của học sinh, những ánh mắt khát khao tri thức. Cô đã đem hết tâm sức chắp cánh, thổi bùng tình yêu văn học cho các em. Chuyên cần chăm cây, đến mùa hoa đơm quả ngọt: hai học sinh của cô đạt học sinh giỏi cấp tỉnh.
Khi cô cùng thầy Hiệu phó đưa học sinh đi nhận giải thưởng, thầy rỉ tai cô: “Em có ý kiến này cô xem có được không nhé. Năm nay cô hãy tham dự Hội giảng mùa xuân. Nếu cô đạt giải trong kỳ thi cộng với thành tích có học sinh giỏi cấp tỉnh nữa là đủ điều kiện mở lớp dạy thêm ở nhà rồi đó cô.” Chính nhờ sự động viên và nhiệt tình giúp đỡ của thầy Hiệu phó trong các khâu soạn giảng giáo án điện tử, cô đã được công nhận giáo viên dạy giỏi cấp thành phố. Cũng từ đó cô mở lớp dạy thêm tại nhà. Tiếng lành đồn xa, học sinh đến học ở nhà cô ngày một đông, nhiều phụ huynh ở các trường lân cận cũng đến gửi gắm con em của mình.
Tính ra cô Lan may mắn hơn Trang bây giờ rất nhiều. Vì lúc đó ngành giáo dục chưa ra chỉ thị nghiêm cấm việc dạy thêm học thêm. Xưa nay, thói thường “trâu buộc ghét trâu ăn”, và việc Trang dạy thêm sẽ như cây kim trong bọc chẳng mấy chốc sẽ đến tai Ban giám hiệu nhà trường và tổ chuyên môn. Lúc ấy, liệu cô Lan có làm ngơ cho Trang như hôm nay không.
- Mẹ ơi, chiều hôm qua, chị Trang nhờ con chuyển cho mẹ hồ sơ cuối năm. Con để trên bàn, mẹ đã xem chưa? – An cất tiếng hỏi mẹ, cắt đứt dòng suy tưởng của cô Lan.
- Mẹ xem rồi. Bản kiểm điểm, đánh giá xếp loại của Trang đó mà.
- Nghề giáo cuối năm căng thẳng quá mẹ nhỉ? Nghe nói Bộ Giáo dục có nhiều cải cách trong năm học sắp tới hở mẹ?
- Cải cách mới nhất của Bộ là cấm giáo viên đứng lớp dạy thêm đó con.
- Nhưng giáo viên vẫn lách luật như thường đó mẹ.
- Là sao An?
- Họ hoán đổi lớp cho nhau để dạy thêm. Chẳng hạn chị Trang dạy học sinh của mẹ. Còn mẹ mở lớp dạy thêm từ học sinh của chị Trang. Như vậy không ai mang tiếng ép học sinh lớp mình học thêm cả.
Cô giáo Lan quay người lại, nhìn An ngỡ ngàng. Không đời nào Trang lại làm như thế. Có lẽ An chỉ đưa ví dụ trùng hợp vậy thôi. Cô Lan bỗng đứng lên nói với An:
- Con có muốn uống một cốc cà phê sữa không An?
- Dạ có mẹ.
Cô Lan đi vào nhà, An trở lại ngồi trên chiếc ghế của mình, mắt chăm chắm nhìn vào bức tranh, tay cầm cọ hững hờ. Cô biết mẹ đau lòng trước hoàn cảnh của chị Trang. Dù không sinh ra chị nhưng từ lâu mẹ đã xem chị như đứa con đầu lòng. An bỗng nhớ cái ngày đầu tiên mẹ đưa chị về nhà. Mẹ nói với An: “Đây là chị Trang, chị của Lâm và An nghe. Hai đứa không được bắt nạt hay vòi vĩnh chị nghe.”
Phải nói, từ ngày có chị Trang, gia đình An ấm áp hơn lên. Nhưng người vui nhất là An. Rảnh rỗi hai chị em ra bãi biển nhặt vỏ ốc. Chị Trang chọn những vỏ ốc bé xí, đều nhau, ngồi tỉ mẩn xâu cho An những sợi dây chuyền lấp lánh ánh xà cừ. Chiều chiều, hai chị em ra bãi biển thả diều. Nhìn cánh diều chao lượn trên bầu trời xanh vời vợi, chị bảo với An: “Diều đang bay về thăm làng Bân đó An nờ!”. Biết chị nhớ nhà, An nhắc mẹ mua quà để chị về thăm em. Hầu như, tháng nào chị cũng về nhà một, hai lần. Khi trở ra, chị thường mang cho An là những chùm sim tím rịm. Hoặc những trái thù lù như những chiếc lồng đèn xanh, cắn vào nghe một tiếng bụp, nước mật ứa ra ngọt lịm.
Từ ngày có chị Trang, mỗi đêm, chuyện “ngày xửa… ngày xưa…” của mẹ được thay bằng những “Chuyện cổ tích đời thường” của chị. Đó là những câu chuyện về làng Bân. Ở đó, có khe suối chảy róc rách len qua những tảng đá to từ trên đỉnh núi chảy xuống, nước trong vắt. Bên dưới là đồng cỏ cú xanh rờn, vỗ béo những chú bê non lớn nhanh, phổng phau. Ở đó, có những chú dế than đen mượt vì hàng ngày được tẩm bổ bằng những đọt cỏ non giòn ngọt, thơm thơm. Sau những trận đấu dế, đám bạn chị Trang, đứa nằm vắt vẻo lưng bò hát nghêu ngao, đứa nằm dài trên bãi cỏ thơm ngó lên đèo, chờ những chuyến tàu chạy ngang qua, những toa xe uốn lượn rồi mất hút sau cửa hầm.
Ở đó, có hàng dừa lão, không chỉ cho tàu lá khô vàng giòn như màu mật mía, ru gió lao xao, mà chúng còn cho những trái dừa nước ngọt sắc. Lá non vàng mướt, úp sát vào nhau như mũi giáo vươn lên giữa trời xanh. Cứ sau khi chơi chán, đám con trai leo lên ngọn, ngồi trên các bẹ dừa, mắt dõi nhìn ra biển, ao ước được viễn du đến bến bờ xa. Và trước khi xuống đất, chúng sẽ hái những lá dừa non cho lũ bạn gái đang hóng mắt chờ đợi bên dưới gốc cây. Những cọng lá dừa vàng mơ rơi lả tả, được gom nhặt, tước cọng, rồi khéo léo bện thắt thành những chú cào cào, chấu chấu nho nhỏ, xinh xinh.
Nhưng An thích nhất là truyền thuyết về làng Bân. Chị Trang kể rằng, ngày xa xưa ấy, để mở mang bờ cõi về phương Nam, có một vị vua đã gả cô công chúa út cho vua Chiêm Thành. Chẳng bao lâu vua Chiêm mất, theo tập tục, nàng phải hỏa thiêu theo chồng. Đúng lúc công chúa vừa được đưa lên giàn hỏa thì một dũng tướng của triều đình đã vượt ngàn dặm đến cứu người yêu. Khi đến chân đèo Hải Vân, đôi uyên ương đã vòng qua chân núi, dừng lại ở cánh đồng cỏ xanh, bên bờ cát trắng, dựng mái chòi tranh. Hai người quyết định từ bỏ kinh thành, sống đời thường dân. Họ chính là người khai sinh ra làng Bân. Con trai làng Bân nối tiếp cha ra biển đánh cá. Con gái làng Bân học mẹ làm mắm, làm khô. Trẻ con lớn lên trên lưng đàn bò mộng. Tại đầu làng, vẫn còn miếu thờ Ngài khai canh. Miếu rất linh thiêng, nếu thành tâm khấn vái ước nguyện sẽ thành hiện thực.
Chị Trang bảo với An rằng cứ mỗi lần về làng, chị đều ra miếu thắp hương cầu mong cho cha chị bị sóng biển đánh dạt vào một hòn đảo xa nào đó, chờ năm, bảy năm nữa hay lâu hơn cũng được, miễn là cha trở về. Chị nguyện cầu cho mẹ khỏi bệnh, gia đình chị có được căn nhà tươm tất. Ước nguyện của chị Trang đã thành hiện thực một nửa. Cuối cấp 2 chị thi đỗ vào trường Chuyên thành phố, cũng là lúc mẹ chị đón chị về ở căn nhà tường vừa mới xây. Mẹ chị khỏi bệnh, quán xuyến cơ sở sản xuất làm mắm, làm ăn khắm khá. Nhưng chị Trang vẫn quay quắt buồn: cha chị vẫn biệt tăm và làng Bân đã bị xóa tên. Kể từ khi về khu định cư mới, chị Trang bận giúp mẹ bán hàng nên thỉnh thoảng mới về thăm An. Rồi chị vào Sài Gòn học, lấy chồng, An không còn gặp chị nữa. Mãi đến lúc gia đình An chuyển về quê thì bất ngờ chị là đồng nghiệp của mẹ. Thì ra năm Covid, chị theo chồng rời thành phố Hồ Chí Minh về quê và xin dạy học ở Phú Túc.
Cô Lan vừa mang cà phê cho An thì có khách vào ngõ. Đoán là phụ huynh đến gặp mẹ để hỏi thăm việc thi cử, điểm số cuối năm của con em nên An cầm ly cà phê đi vào phòng tranh của mình.
Cô Lan mời khách vào nhà. Đó là một phụ nữ tầm bốn mươi tuổi, trông rất quen. Cô Lan mời khách ngồi trên chiếc ghế dài của bộ trường kỷ đặt giữa phòng. Cô lấy ấm trà vừa pha, rót ra tách, đặt trước mặt người khách lạ.
- Mời cô dùng trà sen. Trà nhà ướp đó cô.
Người khách ngồi xuống ghế, đặt giỏ trái cây bọc bằng giấy kính trong suốt lên bàn, khuôn mặt lộ vẻ lúng túng bối rối.
- Dạ em tên Duyên, nằm trong hội Phụ huynh của trường ạ. Mấy hôm trước, lúc em đến thăm Trang, có gặp cô ở ngõ.
Cô Lan chợt nhớ, hôm cô dắt xe ra khỏi cổng nhà Trang. Một chiếc xe du lịch trờ tới, và người phụ nữ sang trọng xuống xe, cất tiếng chào cô. Cô Lan gật đầu chào đáp lại theo phép lịch sự. Sao hôm nay, cô ấy lại đến tìm mình. Có lẽ Hội phụ huynh quan tâm đến giáo viên gặp khó khăn lúc ốm đau nên đến vận động tổ chuyên môn giúp đỡ, hỗ trợ chăng.
- Trà ngon quá cô ạ. Chắc là cô mua được búp sen tươi hái vào buổi sáng sớm. Trà này chắc đã ủ tầm vài tuần hơn rồi cô nhỉ. Nước xanh màu hổ phách, trà vẫn giữ vị ngọt đắng, đặc biệt hương sen rất thơm, đậm đà.
Lời khen của khách làm cô Lan thấy vui. Quả là khách rất sành điệu về trà. Cách thưởng thức trà từ tốn, nâng niu. Hai tay nâng nhẹ tách trà, nhấm từng giọt trà ngọt thơm, đôi mắt mơ màng như người ngà ngà say. Khi khách để tách trà xuống bàn, cô Lan nhẹ nhàng cầm ấm rót thêm và hỏi:
- Thế cô Duyên công tác ở đâu?
- Dạ em làm ở Sở Giáo dục ạ.
Ra vậy, đã là người cùng ngành nên Hội phụ huynh càng thấu hiểu và dễ dàng cảm thông, chia sẻ khó khăn với giáo viên.
- Cô Duyên chắc đã có gia đình? Được mấy cháu rồi?
- Dạ em có một bé gái. Cháu Thục Uyên học lớp 9A trường mình đó cô.
Cái tên Thục Uyên làm cô Lan giật mình. Cô giả vờ lờ đi và chuyển đề tài:
- Nghe nói sắp tới tinh gọn bộ máy, Sở Giáo dục có biến đổi nhân sự nhiều không cô Duyên?
- Dạ, chưa cô ạ. Ít nhất, phải hết hè. Qua kỳ thi tuyển vào cấp ba rồi mới có kế hoạch sắp xếp lại. Chuyên môn của em là Toán Tin, được nằm trong đội ngũ cốt cán ở lại bồi dưỡng cho giáo viên về AI nên vẫn được giữ lại.
Cô khách bỗng nhìn cô Lan, giọng chậm rãi:
- Hiện nay, không giống như năm cô thi giáo viên giỏi. Bây giờ ngành yêu cầu cần vận dụng trí tuệ AI vào soạn giảng đó cô.
Cô Lan lại giật mình. Cô nhìn chăm chú vào người phụ nữ ngồi đối diện mình. Ôi, chính là cô giám thị ân nhân của cô năm nào. Cô thốt lên mừng rỡ:
- Tôi sắp nghỉ hưu nên đầu óc có lơ đãng. Bây giờ cô lại trẻ đẹp nữa, nên tôi không nhận ra. Năm ấy, nếu không có cô Duyên chắc tôi bị loại trong phần thi soạn giáo án. Nhớ lại thật tức cười phải không cô, thi soạn giảng giáo án điện tử mà không rành thao tác lưu dữ liệu mới thật là gan lì.
Cả hai người cùng nhìn nhau cười.
- Đó là kỷ niệm nhớ đời của tôi đó cô Duyên.
- Em cũng ấn tượng và nhớ cô nhất trong kỳ thi đó. Cô soạn giáo án say sưa, quên cả thời gian.
- Thật ra tôi là tay ngang cô ạ. Công nghệ thông tin tôi học lỏm bõm. Nghe cô nhắc chung cả phòng: “Xin quý thầy cô lưu dần bài soạn vào máy tính để lỡ cúp điện còn dữ liệu ạ.”, tôi đổ mồ hôi hột cô ạ. Tôi cố nhớ các thao tác đã học từ thầy Hiệu phó, nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Tôi cứ nghĩ; thôi cứ soạn giáo án cho xong rồi tính. May thay, lúc đi ngang chỗ tôi, cô nói nhỏ: “Cô ơi, thoát ra màn hình. Nhấp chuột phải đi cô, kéo xuống chữ ‘new’ tạo ‘folder’ rồi lưu dữ liệu đi cô.”. Cô đã cứu tôi trong bàn cờ thua cuộc. Cảm ơn cô thật nhiều, cô Duyên nghe.
- Dạ, năm ấy em mới ra trường, lần đầu làm giám thị coi thi đó cô. Trước khi đi coi thi mấy hôm, thầy Thanh, chủ nhiệm của em năm lớp 9, lúc đó thầy là Phó hiệu trưởng trường Nam Ô có đến gặp và nhờ em quan tâm chú ý đến cô. Thầy kể về cô rất nhiều. Rằng cô nhiệt tình, tận tụy, có tâm với nghề. Đặc biệt rất sáng tạo trong vận dụng công nghệ thông tin vào bài giảng. Không biết sao nhìn thấy cô lúng túng khi lưu dữ liệu vào máy, em vừa thương vừa nóng ruột nên phạm quy chế một chút. Em chỉ nhắc chứ có thực hành thao tác đâu mà sợ bị kỷ luật cô nhỉ.
Cả hai lại cùng cười, vui vẻ. Bỗng cô khách ngập ngừng, bối rối nhìn cô Lan nói:
- Hôm nay em đến nhờ cô giúp một việc… Không biết cô…
- Cô cứ nói. Liệu tôi có giúp được gì chăng?
- Nếu cô có chấm bài thi số phách V12-0124 thì xin nhẹ tay một chút. Đó là bài của cháu Thục Uyên cô ạ. Cháu rất thích môn Ngữ văn và nguyện vọng thi vào trường Chuyên Q.H cô ạ.
Không khí đang vui bỗng chùng xuống. Cô Lan đi lấy phích nước sôi châm thêm nước vào ấm trà. Rót thêm vào tách cho khách và cả cho mình. Cô uống một ngụm trà, thấy nước nhạt thếch, không mùi vị. Cô Lan chậm rãi nói:
- Tôi không hứa trước, nhưng nếu trong số bài thi của tôi chấm có số phách ký hiệu như cô Duyên nói, tôi sẽ chấm với tinh thần “tìm hoa trong lá”.
Cô Lan lấy giấy ghi lại số phách. Cô khách xin phép ra về và gửi tặng cô giỏ trái cây. Cô Lan chỉ nhận chùm nho Mỹ gọi là lấy lộc. Tiễn khách ra về, cô Lan trở lại bàn, cầm tờ giấy vừa ghi xếp lại. Không cần xem, cô vẫn biết trong xấp bài thi đang chấm có ký hiệu số phách này. Nó không chỉ trùng khớp một mà hai bài thi. Một bài cô nhận từ thư ký Hội đồng thi. Bài còn lại, An đã nhận từ Trang, nó được để kèm trong hồ sơ cuối năm cùng với một lá thư. Nếu Trang không nhập viện, nếu tổ Ngữ văn không cùng lúc có hai giáo viên nghỉ hộ sản, nếu Phòng Giáo dục kịp thời bổ nhiệm giáo viên mới thay cô, bài thi sẽ được chấm hai vòng tại trường theo đúng quy chế. Và nếu cô không đồng ý ở lại dạy hết năm học, cô không gặp tình huống khó xử như lúc này. Cô Lan lấy hai bài thi ra đọc, đôi mắt đăm chiêu nghĩ ngợi. Cô thở dài, xếp chúng lại, để riêng ra. Cô đứng dậy, đi pha bình trà mới. Cô tiếp tục chấm các bài thi còn lại.
Bài thi đã chấm xong từ chiều tối. Cô Lan lên giường nằm đã lâu, cố dỗ giấc ngủ, nhưng sao vẫn cứ trằn trọc. Trước mắt cô, hình ảnh hai bài thi có cùng mã phách V12-0124 cứ hiển hiện lên. Nét chữ cứ chập chờn. Con số cứ nhảy múa… Bài thi thứ nhất cô chấm 7,5. Bài thứ hai 8,3. Bài thứ hai, chỉ khác bài thứ nhất ở nét chữ nắn nót hơn và có thêm phần kết.
Đúng như lời Trang viết trong thư: “… Cô thương kính! Em viết thư này kính mong cô giúp em một việc… Em gửi cô bài thi làm lại của em Trần Thục Uyên học sinh lớp 9A, lớp em đang giảng dạy và chủ nhiệm. Uyên là một học sinh giỏi và có năng khiếu môn văn cô ạ. Em ấy đã đạt giải 3 học sinh giỏi môn Ngữ văn cấp thành phố. Uyên có mơ ước sau này làm cô giáo dạy Ngữ văn, em có nguyện vọng thi vào trường Chuyên Q.H. Điều kiện dự thi vào trường Chuyên năm nay khắt khe hơn trước cô ạ. Học sinh dự thi chuyên Văn ngoài ba năm liền đạt học sinh giỏi, năm học cuối cấp điểm thi môn Văn phải đạt loại giỏi từ 8.0 trở lên. Học kỳ I điểm thi môn Ngữ văn của Uyên đã đạt 8.5. Ở bài thi học kỳ II này, Uyên chưa kịp viết kết bài phần Tập làm văn, có khả năng bài sẽ không đạt điểm 8.0. Vì vậy, Chị Mỹ Duyên – mẹ bé Uyên đã chuẩn bị bài thi thay thế. Kính mong cô thương tình chiếu cố khi chấm… Chúng em vô cùng biết ơn cô… Cô ơi, cô hãy thương bé như cô từng thương và giúp em có cơ hội thi vào trường Chuyên năm nào. Em làm việc này cũng để đền ơn chị Duyên, chị là người đã giúp đỡ để em được về dạy ở trường Phú Túc. Vừa rồi chị cũng đã cho em vay tiền để phẫu thuật tim cho cu Toàn cô ạ…”.
Xếp lá thư, cô Lan ngồi thẩn thờ. Cô nhớ đến việc năm xưa. Năm ấy, cuối năm lớp 9, điểm trung bình cuối năm môn Ngữ văn của Trang là 7,9. Để Trang có điểm trung bình môn đạt 8,0, đủ điều kiện thi vào trường Chuyên thành phố, cô Lan đã phải suy nghĩ, đắn đo và quyết định chấm vở soạn bài cho cả lớp. Riêng Trang cô gọi kiểm tra miệng thêm một cột. Việc làm của cô năm đó uyển chuyển, không phạm quy chế. Còn bây giờ, hoàn toàn khác, mặc dù Duyên đã chuẩn bị sẵn bài thi thay thế “hợp pháp” có mã phách và chữ ký giám thị coi thi hẳn hoi. Nhưng nếu cô chọn bài này để chấm, mặc nhiên cô đã nâng điểm bài thi, điều cấm kỵ đối với giáo viên, điều mà cô không hề muốn. Nhưng cô Lan lại băn khoăn. Liệu mình có vô tình trước ước mơ chính đáng của học sinh chăng? Đọc bài làm của Uyên, cô Lan cảm nhận mạch văn tràn đầy cảm xúc của một học sinh có năng khiếu. Hơn nữa, nếu chấm bài thi thay thế, cô Lan không chỉ giúp Trang đền ơn Duyên mà cô còn có điều kiện để trả món nợ ân tình năm nào. Năm ấy, chính nhờ những lời “gợi bài” từ Duyên, giáo án điện tử của cô đạt giải ba. Cộng điểm thi các phần lý thuyết và thực hành cô đạt giải nhất thành phố. Đó là bước ngoặt làm thay đổi cuộc đời đi dạy của cô: cô được cất nhắc lên làm tổ trưởng chuyên môn, được cấp giấy phép mở lớp dạy thêm. Nhờ vậy, cuộc sống gia đình khắm khá hơn, cô sửa sang lại nhà thờ họ tộc, nuôi hai con ăn học đến nơi đến chốn và thành đạt: Lâm – con trai lớn là Tiến sĩ ngành Hải dương học, An – cô gái út tốt nghiệp Trường Mỹ thuật, là một họa sĩ trẻ đầy triển vọng.
- Mẹ ơi, mẹ còn thức không hở mẹ?
Có tiếng An hỏi khe khẽ, cô đang đứng ngoài cửa phòng. Cô Lan giả vờ đã ngủ, không đáp lời An. Tiếng dép lẹp kẹp ra phòng ngoài. An đã sang phòng tranh của mình. Từ hè năm trước, khi cô Lan không dạy thêm nữa, căn phòng làm lớp học thêm của cô Lan chuyển làm phòng vẽ tranh của An. Phòng tranh đầy cảm xúc của ngôn ngữ tạo hình với cảm hứng chủ đạo về quê hương. Núi rừng mênh mông. Thác nước hùng vĩ. Biển xanh, bờ cát trắng xóa. Đầm nước lãng đãng sương… Xem tranh của An, người xem như được đi du lịch vào một miền đất vừa quen vừa lạ. Có bức dịu dàng, phẳng lặng như mặt đầm vào những đêm trăng sáng. Có bức thì thầm, xao động như rừng dương đón gió. Có bức ngang tàng, vững chãi của cội thông già vươn lên giữa những tảng đá lô nhô. Có bức mượt mà, óng ả của đồng cỏ trong ánh nắng ban mai. Nổi bật có hai bức tranh có bố cục giống nhau. Vẫn phông nền là núi cao sừng sững, đường đèo quanh co, thác nước trắng xóa, bãi cỏ xanh rờn… bức tranh thứ nhất, sáng nay An điểm xuyết đàn bò nhởn nhơ gặm cỏ. Còn bức tranh thứ hai, An vẽ cách đây một tuần, thay thế hình ảnh đàn bò gặm cỏ là hàng dừa lão đứng xơ rơ trong nắng chiều vàng nghệ và một ngôi đền cổ mái ngói rêu phong.
Cũng như mẹ: cô Lan đang thao thức, băn khoăn trước hai bài thi, thì An đang ngồi suy tư, nghĩ ngợi trước hai bức tranh vừa hoàn tất. Nên chọn bức nào để đi dự thi “Tranh quê hương” do Hội Mỹ thuật thành phố tổ chức. Hai bức là hoài niệm về làng Bân ngày ấy. Ngôi làng thơ mộng, hiền hòa hiện không còn nữa. Bây giờ là khu du lịch nghỉ dưỡng với resort cao cấp, hồ bơi, sân golf đã xây dựng hoàn chỉnh và đi vào hoạt động, thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Di chỉ của làng chỉ còn ngôi miếu thờ Ngài khai canh. Nhất định, ngày mai, An sẽ mang tranh đến đấy và thắp hương nguyện cầu. Cầu mong có phép nhiệm màu để gia đình chị Trang tai qua nạn khỏi. Nếu bức tranh đạt giải, tiền thưởng dù ít hay nhiều, An cũng sẽ dành tặng chị Trang và cu Toàn.
Sáng nay, cô Lan dậy thật sớm. Ấm trà sen đã pha sẵn, cô rót một tách trà đậm. Vị trà ngọt đắng, hương sen ngọt thơm như thanh lọc tất cả muộn phiền đêm qua. Cô lấy một trong hai bài thi có cùng mã phách V12-0124, xếp nó vào đúng thứ tự trong xấp bài thi cuối. Đây là bài thi cuối cùng của cô chấm cho học sinh, cô sẽ đem nó nộp cho nhà trường. Bài còn lại, cô đã chấm và giữ cho riêng mình. Vậy là, cô Lan đã giải xong bài toán hóc búa. Ngoài hiên nhà, nắng mới đã lên, lóng lánh trong mắt An. Cô cũng đang chuẩn bị đến khu du lịch nghỉ dưỡng dưới chân đèo Hải Vân.
Cuối tháng 2/2026

Bài viết liên quan: