Có những con ngõ nằm lặng giữa phố phường không ai buồn nhớ. Người ta đi qua rất nhanh, chẳng mấy ai dừng lại để nhìn thật kỹ một mái hiên cũ hay một ô cửa bạc màu. Những con ngõ ấy không xuất hiện trên bưu thiếp, cũng chẳng có tên trong các hành trình du lịch. Vậy mà nhiều năm sau, khi sống giữa những tòa nhà sang trọng, tôi lại nhớ con ngõ nhỏ phía sau khu chợ cũ năm nào. Nhớ tiếng cửa sắt kéo lên lúc trời còn mờ sáng. Nhớ mùi hành phi từ quán bún riêu đầu ngõ. Và nhớ ánh đèn vàng hắt qua khung cửa sổ mở suốt đêm. Có lẽ vì những nơi bình thường nhất lại giữ hộ con người phần ký ức lâu bền nhất.
Ngày ấy, tôi sống trong một khu tập thể cũ nằm nép sau khu chợ nhỏ. Mỗi mùa nồm về, tường nhà lại rỉ nước, những mảng vôi bong ra. Cầu thang hẹp và tối, lúc nào cũng ám mùi quần áo phơi mãi không khô. Hai người đi ngược chiều muốn tránh nhau phải nghiêng vai, né từng chiếc xe đạp dựng sát mép tường. Trên đầu, dây điện chằng chịt bắc từ ô cửa này sang mái hiên khác. Thế nhưng sau này, nơi ấy lại là nơi tôi nhớ nhất. Bởi ở đó, người ta còn kịp nhớ tên nhau giữa những ngày sống chật chội.

Con ngõ ấy chưa bao giờ biết đến sự im lặng. Từ mờ sáng, tiếng người gọi nhau mua rau ngoài chợ đã lao xao từ đầu ngõ đến tận cuối hành lang. Đến trưa, chiếc radio cũ nhà bác Hợi xe ôm lại rè rè vang lên những câu vọng cổ buồn. Chiều xuống, mấy căn bếp nhỏ đỏ lửa, tiếng dao thớt va nhau lóc cóc phía sau những ô cửa sắt. Đám trẻ con đá cầu dưới sân, nhiều khi quả cầu mắc lên dây phơi quần áo, cả bọn cười nghiêng ngả đến tận tối trời.
Những đêm mất điện, người lớn bê ghế nhựa ra hành lang ngồi chuyện trò từ giá gạo đến cơn mưa tới. Trẻ con nằm dài trên nền xi măng mát lạnh, ngước nhìn bầu trời chật hẹp bị cắt vụn bởi dây điện. Thành phố ngày ấy nghèo, nhưng là cái nghèo khiến người ta còn nhớ tiếng chân nhau mỗi khi về. Và nhớ cả mùi nước mắm kho quẩn quanh suốt những mùa mưa.
Tôi nhớ nhất bà Thìn bán xôi đầu ngõ. Bà nhỏ người, lưng hơi còng, mùa đông quanh năm quấn chiếc khăn len nâu đã sờn đến bạc màu. Mỗi sáng tinh mơ, chiếc xe đạp cũ của bà lại lọc cọc đi vào ngõ, phía sau là thúng xôi nghi ngút khói, thơm mùi nếp mới. Bà nhớ gần như hết thói quen ăn uống của từng người. Ông Hợi sửa xe không ăn lạc. Chị sinh viên tầng bốn thích nhiều ruốc. Còn tôi thì bà luôn gạt hành ra riêng trước khi gói. Có hôm ngủ quên, vừa lao xuống cầu thang đã nghe tiếng bà gọi vọng lên, dịu dàng như người thân trong nhà:
“Để phần rồi đấy nhé.”
Chỉ một câu nói giản dị ấy cũng đủ làm buổi sáng mùa đông bớt lạnh. Sau này, tôi từng ăn sáng ở nhiều nơi đầy ánh đèn và điều hòa, nhưng chưa đâu cho tôi cảm giác được nhớ tới như thúng xôi nhỏ của bà Thìn năm cũ. Có lẽ bà bán xôi bằng cả sự nhớ thương.
Thành phố đổi thay từ lúc nào, chẳng ai còn nhớ rõ. Tiệm sửa xe đầu phố nơi ám mùi dầu nhớt nay dựng bảng hiệu điện thoại sáng lóa. Quán photocopy chật ních học trò ôm tập đề cương thi biến thành tiệm trà sữa mở nhạc đến khuya. Cây bàng già giữa sân bị chặt vào sáng tháng sáu. Người ta nói bộ rễ của nó làm nứt nền xi măng cũ. Hôm thân cây đổ xuống, cả con ngõ bỗng lặng đi như vừa tiễn một người quen lâu năm. Bà cụ bán thuốc lá đứng thật lâu bên khoảng sân trống rồi lặng lẽ quay vào nhà.
Những người sống trong ngõ từ thuở trước cũng dần chuyển đi. Người bán nhà, người theo con tới khu chung cư mới. Những ô cửa mở suốt ngày nay khép chặt sau lớp kính màu xanh. Người mới đến ít chuyện trò hơn. Họ bước qua nhau trong thang máy, đóng cửa và sống sau những lớp khóa điện tử. Thành phố sáng hơn, rộng hơn, nhưng hình như lòng người ngày một xa nhau.
Năm ngoái, tôi trở lại con ngõ cũ sau gần mười năm rời Hà Nội. Con ngõ ngày nào hẹp và tối giờ bị những tấm tôn công trình che khuất quá nửa. Những bức tường từng loang nước mùa nồm đã được quét lên lớp sơn mới sáng lạnh. Nhưng càng sáng, khu tập thể già nua ấy lại càng lộ vẻ mỏi mệt, như một người già cố mặc chiếc áo còn thơm mùi vải mới.
Tôi gặp bà Thìn vào một tối muộn. Bà vẫn ngồi cạnh chiếc xe đạp cũ dưới ánh đèn vàng đục đầu ngõ. Thúng xôi nhỏ hơn trước nhiều, mái tóc bạc gần kín đầu. Bà nhìn tôi rất lâu rồi cười chậm rãi:
“Lâu lắm mới thấy về.”
Tôi sững người vì sau ngần ấy năm, bà vẫn nhận ra tôi. Giọng bà khàn hơn trước. Đôi bàn tay gầy run nhẹ khi gói xôi nóng vào lớp lá chuối đã sẫm màu.
Tôi hỏi sao bà còn bán khuya như vậy.
Bà cười hiền: “Nghỉ ở nhà lại thấy nhớ cái ngõ này biết bao.”
Người ta bảo khu tập thể này rồi cũng bị san đi để nhường chỗ cho một khối chung cư mới. Những căn hộ đầu tiên đã khóa cửa im lìm. Có ô cửa tối om, bụi phủ lên song sắt như thể nhiều năm rồi chưa từng có ai trở về. Ban ngày, tiếng máy khoan vang dội suốt con ngõ nhỏ, từng nhịp khô khốc như đang đục vào ký ức của những người còn ở lại. Bụi vôi bay trắng trong nắng. Xe tải nối đuôi nhau đậu kín đầu phố. Người ta tháo những tấm biển cũ, dỡ mái tôn, đập bỏ những bức tường từng giữ hơi ấm, tiếng cười và cả những bữa cơm nghèo của bao gia đình.
Tôi đứng giữa con ngõ quen mà thấy mình giống một kẻ đi lạc. Mọi thứ vẫn ở đó nhưng đã khác đi rất nhiều. Có những điều ta từng nghĩ sẽ tồn tại mãi mãi, cho đến ngày nhìn thấy chúng bị chở đi trên một chiếc xe phủ đầy bụi xi măng. Con ngõ cũ lặng dần như mất đi hơi thở.
Đêm cuối ở con ngõ cũ, tôi đứng rất lâu dưới bóng đèn vàng nơi đầu phố. Ngoài kia, thành phố vẫn rực sáng, xe cộ vẫn tấp nập, như thể chưa từng biết có một con ngõ nhỏ đang lặng lẽ đi đến ngày biến mất. Gió luồn qua dãy hành lang cũ, chạm vào những cánh cửa sắt đã hoen gỉ, tạo thành âm thanh mơ hồ giống tiếng ai gọi nhau về ăn cơm trong những chiều mất điện năm cũ.
Rồi từ rất xa, hay có thể từ chính miền ký ức của tôi, một tiếng rao đêm vọng lại, mỏng và khàn như sợi khói.
Tôi không còn phân biệt được đâu là âm thanh thật, đâu là điều còn sót lại trong trí nhớ. Chỉ biết rằng có những thứ dù phố phường đổi thay thế nào vẫn không biến mất. Chúng nằm trong mùi thức ăn cũ, trong ánh đèn hắt qua ô cửa nhỏ, trong tiếng dép lê trên nền xi măng ẩm, và trong trái tim những người từng lớn lên từ một con ngõ nhỏ.

Bài viết liên quan: