Buổi chiều hôm đó, Nam đi vào hẻm, tay ôm chặt túi ve chai leng keng. Mồ hôi chảy xuống sống lưng, dính bết cái áo thun đã bạc màu. Thằng bé vừa bán xong mấy lon nước ngọt ở ngã tư, tranh thủ nhặt thêm ít chai lọ đem về cho mẹ. Đi ngang căn phòng trọ cuối hẻm, Nam thấy cánh cửa gỗ hé mở, bên trong vang ra tiếng đọc bài ê a:
-“A… Ă… Â… Bà… bé… bé ngoan…”
-“Bé ngoan chứ không phải bé ngoằn. Ngoằn là con rắn đó, hiểu chưa?”
Cả đám cười rần lên.
Nam ghé mắt nhìn vào. Căn phòng chưa tới mười lăm mét vuông, tường loang lổ vệt nước cũ. Giữa phòng là cái bàn gỗ thấp, quanh đó chừng chục đứa trẻ đủ mọi tuổi, đứa bảy tám, đứa mười mấy, có đứa lớn gần bằng người lớn. Đứng phía trên cái bảng trắng đã ngả màu là một cụ bà tóc bạc trắng búi gọn phía sau gáy, trên sống mũi là cặp kính gọng nhựa đã trầy đang cầm cái thước gỗ, gõ nhịp trên mặt bàn:
“Đọc lại nguyên câu nào, cả lớp!”
Lúc trước nó còn đi học, nhưng ba bỏ đi, má bệnh, Nam nghỉ giữa chừng, đi phụ quán rồi đi lượm ve chai. Thỉnh thoảng đi ngang buổi chiều, nó vẫn luộn bị tiếng đọc bài, tiếng cười giữ chân. Hôm nay không hiểu sao, nó đứng lại lâu hơn mọi khi. Bà giáo ngẩng đầu, bắt gặp thằng bé đang núp sau cánh cửa.
“Ai ngoài cửa vậy? Vào đây xem nào!”
Nam lúng túng bước vào, tay vẫn ôm cái túi ve chai. Bà giáo kéo cái ghế nhựa trống ở góc bàn:
“Con ngồi xuống. Tên gì? Học lớp mấy rồi?”
“Dạ… con tên Nam. Con… nghỉ học rồi cô.”
“Trước đó học tới lớp mấy?”
“Dạ… hết lớp 4.”
Bà giáo nhìn Nam: “Con thích học lại không?”
Nam nhớ cái bảng đen ở lớp cũ, nhớ tiếng bạn bè cười, nhớ mùi bút mực.Nhưng nó cũng nghĩ tới má ho khù khụ, cả nhà không còn hạt gạo: “Dạ… con phải đi lượm ve chai phụ má. Con… không có tiền đóng học cô ơi.”
Bà giáo bật cười:
“Ai kêu con đóng học? Lớp này là lớp tình thương. Học phí là… phải tới đúng giờ và ngoan. Được không?”
Cả đám nhỏ cười rần lên, có đứa vỗ tay bôm bốp. Nam ngước lên, mắt tròn xoe:
“Thật là không có đóng tiền gì hết hả cô?”
“Với điều kiện đừng có trốn học đi bắn cá nghe chưa.”
Nam đỏ mặt: “Dạ con đâu có tiền bắn cá…”
“Cả lớp, xếp cho bạn Nam một chỗ, ai có vở dư, bút dư cho bạn mượn. Mai cô cho tập mới.”
Chiều đó, Nam ở lại tới hết buổi, mải mê chép lại bảng cửu chương mà nó đã quên gần hết.
Một ngày của bà Lân bắt đầu từ năm giờ hơn. Chuông báo thức của cái điện thoại cũ rung lên, bà dậy, khoác chiếc áo len đã sờn, lúi húi đun nước, pha ấm trà nhỏ, ăn tạm ổ bánh mì khô. Trên tường treo chi chít giấy tờ: lịch, thời khóa biểu lớp học, danh sách 12 hộ khó khăn trong dãy trọ, cuốn sổ ghi chi tiết số ký gạo từng tháng. Trời dần sáng, bà mang túi vải đã sờn, bên trong là xấp vé số sáng mới lấy đi ra phía con hẻm nhỏ còn ướt nước do người ta vừa rửa sân, mùi cà phê và xôi sáng bay thoang thoảng. Bà đi bộ quãng đường quen thuộc, từ hẻm ra đến chợ, rồi tới bệnh viện, rồi vòng qua khu công ty. Có người quen thấy bà thì cười:
“Bữa nay cô Lân ra trễ nha.”
“Tối qua chấm bài tụi nhỏ tới khuya, ngủ quên chút.” -Bà cười, chìa xấp vé. “Mua giùm cô vài tờ, biết đâu trúng độc đắc đó nha.”
Cứ vậy, tới trưa, bà ghé tiệm cơm bình dân, ăn tô canh chua nhỏ, xin thêm chén cơm. “Bữa nào cô cũng gọi có nhiêu đây ha.”
“Già rồi ăn ít cũng được con. Để dành tiền mua vở cho tụi nhỏ.”
Ăn xong bà về phòng, tranh thủ chợp mắt. Cả căn phòng trọ im lặng, chỉ nghe tiếng quạt máy cũ quay cọt kẹt. Trên cái bàn nhỏ bên cạnh giường, sách giáo khoa từ lớp 1 đến lớp 5 được xếp ngay ngắn, bọc bìa nilon cẩn thận. Đầu chiều, bà lại tiếp tục đi bán vé số. Tay chân mỏi, lưng đau, nhưng nghĩ tới học trò, mười hai hộ nghèo trong sổ, bà lại bước nhanh hơn một chút. Về tới phòng, bà ngồi xuống chiếc ghế nhựa, rút cuốn sổ con ra, cẩn thận ghi:
“Ngày 14. Bán 240 tờ. Lời… X chia 3.”
Một phần bà gạch chú thích: “Tập, bút, quà lớp học.”
Một phần: “12 hộ khó khăn”
Phần còn lại: “Tiền phòng, điện, ăn.”

Lớp học bắt đầu lúc 5 giờ chiều. Gió chiều luồn qua ô cửa sổ nhỏ, mang theo tiếng xe, tiếng rao hàng, tiếng trẻ con ở đâu đó cười đùa. Nam tới từ lúc 4 giờ rưỡi, phụ bà quét nhà, lau bảng.
“Con đọc lại bảng cửu chương 7 cho cô nghe coi.”
“Bảy nhân một… bảy. Bảy nhân hai… mười bốn…”
Bà giáo gật gù. Đám nhỏ lục đục kéo đến, đứa ôm bao ni-lông, đứa dắt theo em. Bắt đầu buổi học, bà gọi từng đứa lên đọc bài, giải toán. Có khi, bà ngừng bài giảng, kể chuyện ngày xưa đi dạy ở trường làng, rồi chuyện học sinh nghèo được học bổng, sau này thành ông kỹ sư, bà bác sĩ, Tết về tìm thăm cô, đem theo giỏ bánh, ít gạo.
“Không phải cô kể để khoe đâu. Cô kể để tụi con tin là đời này có đường đi cho ai không bỏ cuộc.”
Bà có một cuốn sổ màu vàng, góc bìa đã quăn, ghi tên 12 hộ bà gọi là “đặc biệt khó khăn”. Trang đầu là nhà bà Tư mù, sống với con trai bị tai nạn lao động. Trang tiếp là ông Năm đạp xích lô bị tai biến, vợ bán vé số. Rồi bà Hạnh nuôi hai đứa cháu côi cút… Mỗi tháng, sau khi tính toán, bà ra đầu hẻm mua gạo. Người ta hỏi: “Sao cô không giữ tiền để dưỡng già?”
Bà cười hóm hỉnh. “Cô có phòng trọ, có chén cơm là đủ rồi. Với lại, bọn nhỏ là sổ tiết kiệm của cô đó.”
“Sổ tiết kiệm gì cô?”
“Mai mốt thành người đàng hoàng, biết thương người, biết sống tử tế, đó là lời lãi của cuộc đời cô.”
Một tối mưa tầm tã, hẻm ngập gần tới mắt cá. Đám nhỏ tới lớp ướt như chuột lột, áo quần dính sát người. Bà Lân xót xa: “Trời ơi, mưa vậy mà cũng đi học được. Té thì sao? “
Hậu cười: “Không đi học thì cô la mà.”
Cả lớp cười rần, bà giáo cũng bật cười theo.
Buổi học hôm đó, ngoài tiếng mưa gõ trên mái tôn, còn có tiếng ho của bà. Lúc đầu là vài tiếng khan, sau đó dồn dập hơn. Đám nhỏ sợ hãi, xúm lại:
“Cô ơi hay bữa nay mình nghỉ sớm đi cô!”
Hôm sau, tụi nhỏ mới biết bà bị viêm phổi, phải nằm viện vài hôm. Mấy ngày đó, chiều không tới lớp, Nam lang thang quanh hẻm, tay ôm túi ve chai, nhưng tâm trí luôn nghĩ tới hình ảnh bà chấm bài dưới ánh đèn vàng, chép nhận xét tận tình vào sổ liên lạc từng đứa:
“Nam: chữ tiến bộ, cần tập trung hơn.”
“Hậu: chăm chỉ, chịu khó.”
“Tí: hay chạy ra chạy vô, nhưng thông minh.”
Nam chợt hiểu, không chỉ có tụi nó cần bà. Bà cũng cần tụi nó như động lực sống, niềm vui mỗi ngày.
Ba ngày sau, bà về. Chưa đầy một tuần, bà đã lại đứng lớp, dù mấy cô hàng xóm la rầy:
“Nghỉ thêm vài bữa đi chị, ráng chi cho cực.”
Bà cười hiền: “Tới lớp nhìn tụi nhỏ là khỏe liền.”
Thời gian trôi, lớp học có thêm vài học trò mới. Có đứa là con chị công nhân mới chuyển về trọ, có đứa chuyên đánh giày ngoài ngã tư. Có em mới tám tuổi, cũng có em đã hai mươi nhưng chưa từng đến trường. Bà không từ chối một ai. Chỉ có điều, bà chia lớp thành mấy nhóm, nhóm đọc chữ, nhóm làm toán, nhóm luyện viết. Nam giờ đã lên “vai” đàn anh. Nó giúp kèm tụi nhỏ bảng chữ cái, chỉ tụi nó cách cầm bút, cách viết cho ngay hàng.
Một chiều nọ, đang giờ học thì có tiếng gõ cửa. “Dạ, cô Ba có đây không?”
Cửa mở ra, một cô gái khoảng hai lăm tuổi, mặc áo sơ mi trắng, quần tây đen, tay ôm một túi quà to. Bà Lân nheo mắt, nhìn một lúc, rồi reo lên:
-“Trời đất, Trang hả con? Sao lâu rồi không thấy ghé lớp chơi?”
Cô gái mắt rưng rưng…
Trang từng là học trò của lớp tình thương những ngày đầu tiên. Hồi đó, cô bán hột vịt lộn dạo, tối tranh thủ học chữ với bà. Sau này, có người giới thiệu làm công nhân may, rồi học bổ túc, rồi thi trung cấp. Giờ là nhân viên văn phòng cho một công ty nhỏ.
“Cô, đây là ít sách giáo khoa mới với tập vở, bút, rồi ít bánh kẹo cho tụi nhỏ. Công ty con thanh lý, con xin lại. Với đây là chút tiền con dành dụm, cô dùng mua gạo cho mấy hộ khó khăn.”
Bà xua tay: “Thôi, thôi, con mới đi làm, còn nhiều thứ phải lo.”
“Ngày xưa nếu không có cô, chắc giờ con vẫn bán hột vịt lộn ngoài kia. Con muốn tụi nhỏ bây giờ cũng có cơ hội như con.”
Đám học trò ngồi im, mắt tròn xoe.
Một hôm, có người trong phường tới. Chú cán bộ trẻ, đeo thẻ, đi cùng cô cán bộ phụ nữ khu phố. Họ ngồi ở chiếc ghế nhựa, nhìn quanh lớp học chật chội nhưng gọn gàng.
“Cô Ba, tụi con tới đây một phần là thăm cô, một phần là… trao đổi chút chuyện về lớp học.” .
Nam ngồi phía sau, tim đập nhanh. Nó sợ người ta bắt nghỉ lớp, bắt tụi nó về nhà.
“Mấy chú cứ nói. Cô nghe.”
Cô cán bộ phụ nữ cười:
“Trên phường biết cô có lớp tình thương lâu rồi, ai cũng quý. Chỉ là gần đây có quy định mới, tụi con đang tính xin cho lớp mình thành một “câu lạc bộ học tập cộng đồng”. Như vậy tụi nhỏ sẽ có sách, có bàn ghế, có bảo hiểm. Cô đỡ phải tự lo hết.”
“Mấy chú, nếu vậy, tụi nhỏ có phải đóng tiền gì không?”
“Dạ không cô. Đây là chương trình miễn phí.”
Bà gật đầu, khóe môi run run.
Khi hai người ra về, Nam mới dám thở phào. Nó quay sang thấy bà ngồi im, mắt nhìn lên cái bảng trắng, như thấy trước mặt là mấy chục khuôn mặt học trò cũ, mới, xa, gần.
“Cô sợ người ta bắt nghỉ hả cô?” – Nam hỏi nhỏ.
“Cô sợ tới một ngày già thêm chút nữa, chân không đi nổi, không bán được vé số, không đứng lớp được. Nhưng nếu có thêm người chung tay, cô yên tâm hơn rồi.”
Phố nhỏ đã ngủ yên từ lâu. Trong căn gác nhỏ chật hẹp, bà Lân ngước nhìn bóng đèn vàng vọt soi bóng lên trần nhà cũ kỹ. Ngày mai, 240 tờ vé số lại theo chân bà xuống phố, tiếp tục xây lên những giấc mơ như cái cách bà đang duy trì “nghiệp” dạy học của đời mình, tiếp tục thắp lửa cho những tâm hồn đang khát khao ánh sáng!

Bài viết liên quan: