Chùa trong phố – Tản văn của Nguyễn Phú Hoàng Nam

Nếu nhắc đến đô thị là chỉ nhớ ngay đến toàn những ồn ào, vội vã thì vẫn còn đó những mái chùa trong phố minh chứng điều ngược lại. Mặc cho dòng đời hối hả, dòng người bon chen, mái chùa vẫn khiêm nhường chứng kiến, bao dung làm điểm tựa tinh thần cho tha nhân tìm về sau những lúc mỏi mệt mưu cầu danh lợi hay gặp phải mất mát, tang thương.

Phố phường thay đổi, lòng người đổi thay. Có lẽ, chỉ mái chùa cổ kính là vẫn tĩnh tại vì đã thấu tỏ lẽ vô thường.

Tôi nhận thấy chùa trong phố thường có diện tích vừa phải, đôi khi cần thêm tầng. Diện tích chùa đi vào chiều sâu hơn bề ngang. Sân vườn vừa vặn, có hoa lá thơm thảo, cây cối xanh mát, lư hương đá nghi ngút khói và thường không thiếu pho tượng Phật Bà Quán Thế Âm thanh bạch, từ bi, kham nhẫn đón nắng, mưa ở ngoài trời để lắng nghe cho tỏ tường lời kêu cầu phù hộ, độ trì từ nhân gian.

Chùa chiền là nơi nhà tu hành chuyên tâm tụng kinh niệm Phật, xa rời cõi trần tục. Đó là chốn thiêng. Nhưng tôi cảm nhận cái thiêng rời xa cái tục quá thì mất đi chất đời. Chùa ở đô thị chọn nằm ngay trong phố với tinh thần nhập thế sâu sắc. Nếu nhà tu hành ẩn tu ở mái chùa chốn thâm sơn cùng cốc thì đã có định lực. Nhưng chọn tu hành ở mái chùa giữa phố thị, thì giới – định – tuệ càng phải vững vàng, sáng suốt hơn nữa. Bởi chỉ cách một cổng tam quan là đã đến chợ đời. Nơi hầu hết con người ta chưa thể tĩnh tâm tu hành vì còn bận tâm với cơm áo, công danh, tiền tài, tình ái. Thoát tục hay hoàn tục đôi khi cách nhau trong gang tấc.

Mỗi lần đi qua những ngôi chùa nằm ngay trên đường, thậm chí trong chợ, tôi đều băn khoăn tự hỏi phía sau chiếc cổng tam quan đang đóng im lìm kia, các nhà sư phải tụng những bài kinh gì để nhất tâm bất loạn, để “Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến” nhỉ? Họ có lẽ là những con người can đảm khi đã chọn tu hành trong mái chùa nằm giữa phố. Để dân cư còn điểm tựa tinh thần, an tâm quay về nương tựa Bụt.

Vào đêm giao thừa hằng năm, hai cha con tôi thường chọn đi chùa ở gần nhà. Con phố tất bật thường ngày giờ trở nên tối tăm, lặng lẽ. Có lẽ thời khắc ấy ai cũng đang ở nhà cúng bái hoặc chuẩn bị hoàn tất những công đoạn cuối cùng để ra đường ngắm pháo hoa. Cha con tôi thả bộ trên phố. Mạch sống trước thời điểm chuyển giao năm cũ và năm mới nhịp nhàng, êm ả. Mái chùa hiện lên, lung linh với ánh sáng vừa phải, không chói lóa. Một vài chàng trai cô gái chào mời cha con tôi mua gói muối lấy lộc đầu năm, cạnh cổng chùa, một người phụ nữ trung niên bày bán vàng hương, đồ cúng lễ đơn giản, đang ngồi lướt điện thoại.

Vào đến chùa dâng hương, dâng chút công đức giọt dầu xong xuôi là cũng đã gần đến lúc đồng hồ điểm 12 tiếng kéo theo chuỗi âm vang rực sáng của màn trình diễn pháo hoa trên bầu trời thủ đô. Nhưng trong lòng tôi vẫn ngân lên tiếng chuông chùa và những lời tâm sự của cha về một năm đã qua.

Tôi nhận ra rồi sẽ đến lúc con đường đi lễ chùa đêm giao thừa của tôi trống vắng, khi cha không còn bên cạnh. Để bớt muộn phiền, người ta cần phải biết buông bỏ. Nhưng nếu có thể buông bỏ mọi điều, thì tôi không còn dám chắc còn là con người nữa hay không?

Mái chùa chẳng bao giờ phán xét hay đòi hỏi khách đến thăm chùa cần phải có một câu trả lời rõ ràng, cụ thể về những lựa chọn của họ trong đời. Nụ cười của pho tượng Phật với đôi mắt khép hờ có lẽ là biểu hiện rõ nhất cho sự từ bi kết hợp với trí tuệ. Như tăng nhân trong chùa, không ở xa đời nên hiểu cõi đời, hiểu cho lòng lưu luyến của chúng sinh, dù cho chỉ là cõi tạm. Cõi tạm ấy chỉ đến một lần trong đời, Sắc – Không chẳng khác biệt, thì phàm nhân lỡ mang lòng phàm thì cũng đâu phải là tội nhân nhỉ?

Dĩ nhiên tượng Phật không phải là Phật. Nhưng Phật tính ở vạn vật, trong từng chiếc lá, nén nhang, bậc thềm trong mái chùa bình yên. Và tất nhiên, nằm trong cả trái tim của từng khách lễ chùa. Dù họ kêu cầu gì đi chăng nữa thì nhân quả cũng hiếm khi sai lệch. Phật lặng lẽ để người đời nghe thấy tiếng kêu cầu của chính mình, để về nương tựa Bụt nhưng thực ra là có thêm nội lực để tin cậy bản thân, để giác ngộ về nụ cười trong chốn bụi trần và khép hờ đôi mắt, hoan hỷ đại xá cho mình và cho người.

Dù vậy, chùa trong phố cũng có kiếp nạn. Khi mà dân cư thị thành ngày càng làm ăn khấm khá, chẳng tiếc bạc tiền công đức để thỏa mãn nhu cầu tâm linh. Khi chùa to ra oai với chùa nhỏ, chùa nhỏ khao khát thành chùa to, thì lá cờ trước sân dễ bị gió lay động hoặc do tâm người ngắm cờ bị dao động.

Tôi nhận thấy có một số chùa trong phố thường hay tấp nập kẻ vào người ra cũng đôi khi lãng quên việc đạo để lo toan việc đời. Chùa không chỉ thờ mỗi Phật, mà còn thờ cả Mẫu. Không chỉ bố thí Pháp mà còn bán mua nghi lễ, lá sớ dâng sao giải hạn, dịch vụ cầu siêu. Thời thế kim tiền, bạc tiền là giải pháp. Nhưng với người tu học thì bạc tiền khó mang lại sự giải thoát. Sức hấp dẫn của việc “Sở cầu tất đắc” tạo thành một vòng luẩn quẩn, tay phải buông, tay trái nhặt.

Liệu đó có phải là phương tiện thiện xảo để giáo hóa chúng sinh hay tam độc đang đưa lối nhà tu hành? “Nhất niệm thành Phật, nhất niệm thành Ma” con đường tu hành của chùa trong phố thật lắm chông gai, thử thách mà người bình phàm như tôi còn chưa thể hiểu hết được.

Đến khi hiểu được, có lẽ tôi sẽ biết thương. Cái thương không bị bó hẹp, chi phối bởi thiên kiến. Mà đến từ việc nhận ra người tu hành hay người chưa tu hành, người đang cầu đạo và người đã đắc đạo, rồi ai cũng là “Phật sẽ thành” vào một kiếp nào đó.

Phố phường thay đổi, lòng người đổi thay. Có lẽ, chỉ mái chùa cổ kính là vẫn tĩnh tại vì đã thấu tỏ lẽ vô thường. Chiếc lá cây bồ đề xanh mướt trong nắng như ngọc bích- thật may mắn cho ai an trú nơi khoảnh khắc thực tại tinh khiết “vô sở cầu” ấy.

Hết.