TIẾNG NGỌC NGÀ – Tản văn của Thanh Thục

Cải cách hát ca theo tiến bộ

Lương truyền tuồng tích sánh văn minh.”

Tôi lờ mờ nhớ cái tôn chỉ này của gánh hát Tân Thinh năm 1920 vì đã được nghe rất nhiều lần người ta nhắc đến. Nhưng đó là chuyện của tuổi lớn, khi tôi đã bắt đầu bước vào khảo cứu món nghề ca hát này. Còn Cải lương? Nó vốn chẳng chờ tôi lớn rồi mới biết. Khi tôi còn tấm tấm tí tí, thì cái rạp Cải lương nổi tiếng Hà Nội đã ở đó rồi.

Tôi chẳng biết rạp Chuông Vàng do ai đề xướng; cũng chẳng biết được nó mở cửa từ bao giờ, và lại đóng cửa được bao lâu rồi nữa. Nhưng nó vẫn hững hờ ở đó; đối diện quán chè số 93, trước ngã tư Tạ Hiện – Hàng Bạc.

Nó không đóng cửa hẳn. Tôi biết. Thi thoảng có những đoàn hát nhỏ hoặc phường cải lương về đây diễn lại sân khấu cũ, nhưng ít. Phần lớn thời gian của nó đóng cửa im lìm như một trầm tích văn hóa, một bức phù điêu đắp nổi sống động giữa Phố cổ, màu vàng đã phong nhưng vẫn còn tươi, dòng chữ đá sắc nét. Một biểu tượng của loại hình nghệ thuật tưởng như bị lãng quên.

Phải nói rằng so với bè bạn ở miền Nam, tôi nói về Cải lương giống như một người ngoại đạo bước vào cuộc họp của Chính thống giáo. Nào ai có biết gì về Cải lương đâu? Tôi là một người Hà Nội, chính tông, tức là không can hệ gì đến cô Lựu ở Nam bộ, mà cũng chẳng họ hàng gì với Cao Văn Lầu thuở kháng chiến miền Nam. Chỉ nghe những băng đĩa của ông Hữu Quốc, Bạch Tuyết – Minh Vương rồi ậm ừ nhớ được vài câu, nào thì “Chàng là chàng có hay, đêm thiếp nằm luống những sầu tây” hay thi thoảng tru tréo lên “Kim Anh ơi dĩ vãng đau thương. ngỡ đã trôi xuôi theo dòng nước chảy”. Mỗi thế. Mà lại còn không hay cơ.

Lớn thêm chút nữa, có ăn có học thêm tí thì tôi cũng biết được Cải lương nó mồm ngang mũi dọc thế nào, ăn vận ra sao, lại xem vài vở để biết trình độ thẩm thấu đến đâu. Đúng là khó. Thực ra không chỉ món này mới khó, mà với tôi, nhiều món âm nhạc dân tộc đều không dễ dàng gì.

Cơ mà, lúc bé thì đâu có ai dặn dò tôi học những cái ấy để mà biết xem Cải lương.

Còn nhớ chừng năm, sáu tuổi, cứ chập tối, tôi hay đến quán chè 93 để thưởng thức món “chí mà phù” thượng hạng. Nói là chí mà phù cho nó sướng cái miệng, bày tỏ mình biết tí Hán văn, chứ kỳ thực nó là món chè mè đen ngọt truyền thống Trung Quốc. Ông chủ quán chè là học trò của một người bán rong người Hoa ngày trước. Họ di cư sang đây. Ông học và bán được ngót nghét hai chục năm là ít. Từ lúc tôi còn chưa ra đời mà.

Thế rồi tôi cứ ngồi ở quán chè ấy. Trước cái vỉa hè đã bị đội thị trường dẹp một nửa, phải hơi nép vào trong góc, ngồi sát trước cửa. Tôi trông sang rạp Chuông Vàng. Một tòa thành phải nói là đồ sộ đối với khả năng quan sát và ghi nhớ trong cái đầu bé nhỏ của tôi. Toàn bộ toà nhà sơn màu vàng (như tôi đã nói ở trên) tươi rói, hơi đậm và không hề bị lợt. Cột nhà cao tót như những cái trụ chống của thành Rome, trên khắc những dải hoa văn kẻ dọc màu trắng xen vàng. Cổng vào hình vòm cong rất nhẹ, cánh cổng đóng bằng thứ sắt tài tình gì mà đến nay đi qua vẫn chưa hề gỉ hoen. Hoặc họ đã trùng tu lại khi thành phố đi ngủ mà tôi không biết. Lớp kiến trúc tưởng như rất sáng trẻ này, lại ẩn chứa một cái gì ngược lại. Những chùm đèn lồng cùng màu treo chi chít trên một cái cây ở đằng chéo cánh lung lay theo gió nhẹ. Tôi biết nó không rơi, nhưng nhìn sức nặng của nó tôi bỗng sợ.

Trước đây, cánh cổng còn khép hờ. Một người bảo vệ già ngồi cạnh canh me cẩn thận. Bên trong, lấp ló một người nhân viên bán vé đang ngủ gật, giữa ánh đèn leo lét chiếu lập lòe vào chiếc áp phích rực rỡ. Dường như chiếc áp phích là thứ sặc sỡ nhất trong cái chỉnh thể có vẻ im ắng kia. Ở đó, tôi loang loáng thấy một người diễn viên mặc y phục Triệu Tử Long, bên cạnh một vài tướng sĩ mặt hằm hè. Có cả những danh tướng khác, hoặc nhân vật nào đấy nổi tiếng nữa, tôi đoán thế, không nhớ tên. Hôm nào thật tối, chúng tôi còn nghe lanh lảnh tiếng trường thương, đao kiếm, kim loại va nhau lạch cạch. Đèn sáng ở tầng trên. Hình như có giọng ồm ồm của diễn viên đóng một vai nào già dặn. Lần nào chúng tôi cũng chăm chú nghe, mà đổi lại vẫn không nghe ra chữ gì.

Một hai năm qua đi. Cổng rạp đóng hẳn. Người bảo vệ già đã đi đâu. Thi thoảng, những đoàn hát đến vào ban tối. Nhưng cũng thưa dần. Là một sự đứt gãy hẫng hụt hay hao mòn dần dần của thành phố, tôi không biết. Và Chuông Vàng biến thành cái dáng vẻ trầm tích như bây giờ.

Hàng Bạc sau này có khi không còn bán Bạc nữa, nhưng hồi chuông của Chuông Vàng vẫn vang im lặng trong lòng chúng tôi.