Tôi vẫn nhớ hình ảnh một đứa trẻ ba, bốn tuổi ngồi trên chiếc giường giữa đống đồ đạc lỉnh kỉnh vừa chuyển từ quê lên. Mẹ ngồi bên cạnh, cầm bát bón cơm cho tôi từng thìa. Bát cơm nóng với miếng thịt mỡ to. Tôi ngồi đó, giữa sân rộng, nhìn người lớn tất bật qua lại, sắp cái này, xếp cái kia…
Vậy là gia đình tôi chuyển tới phố Còng vào khoảng những năm 1989 – 1990, nơi tôi sẽ gắn bó suốt thời thơ ấu, từ những ngày chập chững tới trường cho đến tận khi vào cấp ba. Sau những năm tháng học hành, ra trường rồi đi làm qua một vài nơi, tôi lại trở về, tiếp tục gắn bó với đất phố Còng cho đến tận bây giờ. Hơn ba mươi năm, tôi đã chứng kiến biết bao đổi thay nơi mảnh đất này, từ cát bụi hoang sơ, thưa thớt, đến tấp nập phố thị với ánh đèn xanh đỏ. Hơn ba mươi năm ấy là biết bao điều đáng nhớ.

Ông bà vốn muốn gắn bó với quê cha đất tổ ở làng Diệc, Tĩnh Hải, nhưng bác cả lại muốn chuyển cả nhà lên phố Còng để tiện cho con cháu sau này. Tôi vẫn nhớ có lần ông kể, cả khu đất rộng mà ông bà và bác mua khi đó chỉ có mấy chục nghìn đồng. Căn nhà gỗ ba gian với cột kèo vững chắc dưới quê cũng được chuyển lên.
Ngày đó, ai theo nghề giáo cũng nghèo. Nghe nói nhiều người đã bỏ nghề. Nhà tôi có đến hai người theo nghề ấy: bác gái và bố tôi. Nghề y cũng chẳng khá hơn, mà mẹ lại còn đi làm xa, nên bà nhiều lần khuyên mẹ bỏ nghề, về xuôi buôn bán cho gần chồng gần con. Thế nhưng mẹ vẫn kiên quyết giữ nghề. Bố và bác cũng vậy, gắn bó với nghề giáo cho đến tận khi về hưu.
Vì nghèo, nên nhà tôi có thêm “nghề tay trái” là làm kem, học được từ nhà ông chú cùng quê, rồi sau mua lại máy móc để làm. Nhà bác làm trước, bố tôi làm theo sau. Công việc này vất vả: phải thức khuya nấu bột, khuấy hồ, đổ khuôn, cắm que kem; rồi dậy sớm để kịp ra kem cho người buôn lấy hàng mang đi bán.
Trước sân, bên giếng nước muối khuấy lạnh, các khuôn kem vừa lấy ra khỏi máy là lập tức được nhúng vào thùng nước bên cạnh. Sau đó, bố kẹp khuôn giữa hai chân, dùng kìm rút từng hai que kem một ra, bỏ vào mẹt. Kem ra đến đâu, người ta xếp ngay vào thùng xốp đến đó. Giấy vụn được xé nhỏ, rải lên trên, rồi phủ thêm một lớp chăn mỏng. Thế là thùng kem sẵn sàng được buộc sau xe đạp, đi khắp các ngả. Ai bán kem cũng có một cái kèn gắn với vỏ nhựa để bóp kêu. Tiếng kèn ấy khiến bao đứa trẻ mê đắm. Nhà có gì đổi được kem là mang đi đổi hết, chứ mấy ai có tiền mà mua.
Phố Còng khi đó là một con phố nhỏ chạy dọc quốc lộ 1A. Xung quanh làng xóm hầu như đều là nhà tranh, khá hơn thì lợp mái ngói. Nhà mái bằng đã hiếm, còn nhà tầng, dù chỉ hai tầng thôi, cũng được coi là thuộc hàng khá giả nhất nhì. Cạnh nhà tôi có một ngôi nhà hai tầng to vào loại bậc nhất hồi ấy.
Mỗi mùa mưa bão, quang cảnh phố Còng thật đáng thương: nhà cửa xiêu vẹo, mái tranh rơi rớt khắp nơi, cây cối đổ gãy, tan hoang và xơ xác. Hai bên đường, phần đất lưu không vẫn là đường đất. Quốc lộ khi đó còn nhỏ, chỉ có hai làn, làm từ thời Pháp. Sân nhà chưa xây lấn ra sát mép đường như bây giờ, nên phố còn rộng và thoáng. Xe cộ cũng thưa thớt. Có lần, vào ngày Tết vắng xe, chúng tôi còn mang bóng ra đá ngay giữa đường quốc lộ.
Thú vui của trẻ con xóm tôi khi ấy là đá bóng và đi câu cá. Ao hồ còn nhiều, nhà cửa chưa ken kín như bây giờ. Bố tôi câu cá rất giỏi. Thường thì bố rang gạo cháy làm thính, rắc trước khi câu. Nhưng mấy ao gần nhà dần ít cá, nên bố cũng ít đi câu hơn. Trẻ con thì chỉ cần kiếm một sợi dây sắt nhỏ, có khi là dây phanh xe đạp, hí hoáy mài nhọn, uốn thành lưỡi câu; rồi kiếm dây cước, đào giun hay bắt cào cào làm mồi. Đủ đồ là rủ nhau vác cần đi câu khắp nơi: ao nhà hàng xóm, ao xóm trong, xóm dưới… Hễ ngõ ngách nào đi sâu vào là kiểu gì cũng có một cái ao hay bờ mương. Những cái ao tôi từng biết giờ đã lấp hết. Gần nhà có cái ao của khu thủ công nghiệp, sau này cũng bị lấp để bán đất làm nhà. Từ đó, chúng tôi có thêm những hàng xóm mới.
Hỏi trẻ con hồi đó món gì ngon nhất, tôi dám chắc mười đứa thì cả mười đều trả lời: mì tôm. Mà không chỉ ngày xưa, trẻ con bây giờ có khi cũng thế. Mì tôm là món phải thật ngoan mới được bố mẹ mua cho, hoặc những hôm bố mẹ đi trực vắng nhà mới được ăn. Úp tô mì xong đâu dám ăn một hơi cho hết. Phải vừa ăn, vừa cố tình để rơi ra đĩa, rồi lại nhặt ăn tiếp. Húp sạch nước, vậy mà vẫn còn thòm thèm. Một bát chẳng bao giờ thấy đủ, nhưng tiêu chuẩn thì chỉ có một gói.
Năm 1993, nhà tôi xây nhà ngói. Tôi nhớ chính xác năm đó vì có một ô cửa sổ được bác thợ đổ xi măng làm hoa văn và khắc dòng chữ “Năm 1993” phía trên. Lúc ấy, tôi còn đứng nhìn chăm chú. Nhà xây bằng đá, không có xi măng trộn như bây giờ mà dùng vôi và cát làm hồ. Sau đó, nhà hàng xóm xây nhà tầng, dùng cát trộn xi măng, có cột bê tông, nhìn sang lắm. Nhà ấy có điều kiện vì họ mở cửa hàng sửa xe máy, rồi sau còn bán cả xe máy Trung Quốc.
Xe máy Nhật đắt đỏ, ít nhà mua được. Bố mẹ tôi phải gom góp đến khi tôi học lớp 7 mới mua được một chiếc DD đỏ, mà cũng là xe cũ. Nhưng cái đêm bố dắt xe về dựng trong nhà, tôi thấy lạ lẫm vô cùng. Mùi xăng, màu xe… tất cả như một dấu mốc cho sự thay đổi lớn lao của gia đình. Từ đó, bố không còn phải đạp chiếc xe mi-pha đi dạy học cách nhà cả chục cây số nữa. Có xe máy, tôi cũng được về quê nhiều hơn. Trước kia, mỗi lần về quê nội là bố mẹ phải còng lưng đạp xe chở hai anh em, lại còn qua đò. Còn về quê ngoại thì nhất định phải đi mượn xe máy vì quá xa.
Xe ô tô hồi đó thì hiếm vô cùng. Có cán bộ nào về quê bằng ô tô là trẻ con kéo đến xem đông như hội. Còn bây giờ, ô tô chạy đầy đường, thậm chí nhà nào cũng có. Đường phố vì thế trở nên chật chội, ken đặc, đâu đâu cũng thấy xe đỗ ven đường. Có lẽ vì vậy mà trong tôi, phố xưa vẫn luôn thoáng đãng và thi vị hơn.
Còn phố Còng trở thành phố thị từ khi nào? Với tôi, có lẽ là từ lúc xuất hiện những cột đèn tín hiệu giao thông đầu tiên: một ở ngã tư bưu điện, một ở ngã tư chợ Còng. Trước đó, những thứ ấy chỉ có ở thành phố, mà tỉnh tôi khi ấy còn chưa lên thành phố, mới chỉ là thị xã. Giờ đây, phố Còng đã trở thành một đô thị sầm uất, phần nào nhờ sự phát triển của khu công nghiệp Nghi Sơn với nhà máy lọc hóa dầu và các nhà máy nhiệt điện. Nhưng sự phát triển ấy cũng kéo theo hệ lụy: không khí ô nhiễm, tiếng ồn, khói bụi, và cả mùi hôi từ nhà máy bột cá mà người dân phải chịu đựng suốt nhiều năm.
Sự đổi thay nào cũng có cái giá của nó. Và trong những khoảnh khắc lặng yên, tôi lại thấy nhớ phố tôi, phố Còng của những ngày xưa.

Bài viết liên quan: