Ông Hoàng thấp thỏm, trông chừng sốt ruột. Ông lẩm bẩm một mình: “Quái lạ! Sao giờ này bà nhà vẫn chưa thấy về, điện thoại cũng không liên lạc được!”. Ông dọn cơm sẵn ra mâm và đậy lồng bàn, chờ. Vừa bật ti vi thì đã nghe tiếng xe ngoài cổng. Ông Hoàng lật đật chạy ra nhìn vợ từ đầu đến chân xem có bị làm sao không.
Bà Hà hài lòng với chuyến hợp đồng bán bưởi hôm nay, nhưng bà cũng suy nghĩ mông lung về việc gặp đứa con riêng của ông Hoàng. Bà thao thức, trăn trở. Thỉnh thoảng bà lại thở dài nghĩ về chuyện một thời đã qua.
***
Người đàn ông trạc 37 tuổi, da sạm nắng, đầu đội chiếc mũ lưỡi trai cũ kỹ, chiếc ba lô lộn ngược đeo vai ngật ngưỡng trên đường. Đang đi, bỗng anh ta loạng choạng, tay chới với vào không trung người lảo đảo sắp ngã xuống. Những người đi đường thấy thế lên tiếng: “Đỡ lấy anh ấy! Anh ta bị động kinh rồi!”. Nằm xuống vệ đường, người đàn ông rên hừ hừ, miệng phì phì, nước bọt nơi miệng trào ra, tay chân co giật liên hồi, mắt nhắm nghiền. Sau cơn co giật, người đàn ông nằm bất động miệng ú ớ không ra tiếng. Người phụ nữ nhà gần đó nghe tiếng ồn ào, liền chạy ra. Đến bên người đàn ông, chị lấy vạt áo lau sạch dịch tiết ở miệng. Biết làm gì bây giờ? Chị nhìn trân trân vào người đàn ông hồi lâu như nhận ra một nét thân quen nào đó. Sao giống anh Hoàng đến vậy? Cũng ánh mắt ấy, cái nốt ruồi bên mắt phải ấy, không lẫn vào đâu được. Có khác là sạm đen hơn và tóc đã có sợi bạc lẫn sợi đen. Rồi chị ta mạnh dạn: “Có phải anh là Hoàng? Không chờ người đàn ông trả lời, chị ta nói như điều khẳng định: “Đúng rồi! Anh Hoàng đây mà. Thôi vào nhà em đã, có gì thì tính sau”. Nói rồi chị nhờ những người xung quanh đưa người đàn ông vào nhà mình.
Người đàn ông tỉnh lại uể oải xin cốc nước. Một lúc, như chợt tỉnh, anh ta ngơ ngác hỏi: “Cô là ai? Đây là đâu thế này?” Người phụ nữ lên tiếng: “Anh có làm sao không? Anh có nhận ra em không? Em là Hà, Hà ngày xưa ở Nông trường Sao Vàng với anh này!”. Người đàn ông nhìn Hà chằm chằm: “Sao tôi lại ở đây?”
Như thấy đã khỏe, người đàn ông ngồi dậy cầm lấy túi đồ, cúi đầu cảm ơn chị chủ nhà, chia tay. Người phụ nữ níu tay anh lại, rồi chỉ lên di ảnh trên bàn thờ: “Anh có nhận ra người trong ảnh là ai không?”. Tấm di ảnh trên bàn thờ là một người đang còn trẻ, ánh mắt sắc sảo nhưng gương mặt xương xương trông chừng khắc khổ. Người đàn ông đến bàn thờ thắp nén hương, anh nhìn trân vào tấm di ảnh. Hình như anh đang tìm về một nét quen thuộc nào đó, bất chợt thốt lên: “Có phải là anh Tiến đây không?”. “Anh Tiến – Chồng em đó!” – Chị chủ nhà trả lời với giọng buồn. “Vậy là sao? Vậy em là Hà, Hà phải không? Anh là Hoàng đây này!” Hai người ôm chầm nhau, nước mắt lưng tròng. Hà nhìn dáng mệt mỏi của Hoàng, ái ngại: “Chuyện dài lắm anh! Anh cứ ở lại đây vài bữa. Không sao đâu. Khỏe lại em kể chuyện cho anh nghe nhé! Giờ thì đi tắm giặt, nghỉ ngơi cho lại sức”.
***
Xong bữa sáng, hai ông bà ra phòng khách uống nước. Bà Hà cất tiếng: “Tôi đi chuyến này là mang tin vui về cho ông đấy nhá!”. “Sao! Bà đã đặt được mối hàng rồi à? Họ mua bao nhiêu, ngày nào thì đến nhận hàng”. “Đặt mối bán hàng là một nhẽ. Việc tôi báo tin cho ông là việc khác cơ!”. “Việc gì thì bà nói nhanh nhanh xem nào”. Bà Hà hớp ngụm nước rồi nhìn ông Hoàng cất tiếng: “Việc đặt mối bán hàng coi như đã thỏa thuận. Họ đặt mua 2 tấn bưởi Luận Văn, đạt tiêu chuẩn, giá cả phải chăng. Nếu tính bình quân, vị chi nhà mình bán 2 tấn thì cũng kiếm được bội tiền. Đó ông xem tính toán lời lãi thế nào để tôi còn điện thoại cho người ta đến ký hợp đồng”. Bà Hà nhìn nét mặt ông Hoàng xem có biểu hiện gì khác không nên bà cứ dấm dứ như để cho ông sốt ruột chờ cái tin mà bà sắp nói ra. Ông Hoàng căng thẳng nhìn bà Hà, trán ông nhăn lại cặp mắt như trũng sâu thêm, chờ đợi. Bà Hà như đọc được suy nghĩ của ông Hoàng, bèn thủng thỉnh: “Tôi báo tin này cho ông nhưng ông đừng đứng tim mà tôi phải nhọc lòng đưa ông đi bệnh viện đó”. “Có gì bà nói nhanh lên tôi còn tính chuyện mua bán nữa chứ”. Không thể để cho ông Hoàng đợi lâu hơn, bà Hà thông báo: “Là tôi đã tìm được manh mối đứa con trai của ông trên Hòa Bình rồi đấy. Hiện cậu ta đang làm việc cho một công ty thu mua hoa quả ở Hà Nội”. Ông Hoàng xúc động, tay run run, miệng lắp bắp: “S…a…o! Bà bảo… s…ao? Bà đã có manh mối tìm được con cho tôi…”.
Có được thành quả hôm nay, hai ông bà đã vượt qua bao nhiêu nhọc nhằn, vất vả. Bưởi năm nay được mùa, được giá. Ông bà rất phấn khởi. Ông Hoàng thấy lòng mình thư thái lắm. Có được cuộc sống như hôm nay là nhờ bà Hà nhiều. Lòng ông bồi hồi nhớ lại những năm tháng vừa qua.
***
Sau khi được phẫu thuật cắt bỏ khối u ở não, trí nhớ Hoàng dần phục hồi đưa anh trở về cuộc sống thường ngày. Anh mơ màng nhớ lại. Mấy tháng trước anh được Bác sĩ phát hiện có khối u ở não. Căn bệnh nan y, chưa biết điều gì sẽ xảy ra. Nhiều đêm anh không ngủ được. Căn nhà trống vắng, phòng ngủ chỉ có tiếng muỗi vo ve và tiếng thở dài của anh. Ngày đó cuộc sống quá khó khăn đã đẩy gia đình anh đến ngõ cụt. Vợ anh bỏ nhà đi đâu không rõ. Chỉ để lại tờ giấy với mấy dòng chữ trên bàn khi anh thức dậy. Anh biết rằng vợ đã đi làm ăn xa để tìm cuộc sống mới. Đứa con trai cũng đã đi theo mẹ. Anh hụt hẫng, chán chường. Vừa thương, vừa giận vợ vừa trách mình, trách đời. Sao đời mình lại bạc bẽo đến vậy! Rồi anh được tin, vợ anh đã theo bạn vào Nam, bỏ lại đứa con nơi trại mồ côi. Anh sinh ra rượu chè. Tiền anh không dùng chữa bệnh mà nướng vào những cơn say xỉn, để rồi bệnh cứ nặng thêm. Thỉnh thoảng lên cơn động kinh, khi nhớ khi quên, rồi không biết bấu víu vào đâu, anh lang thang đây đó. Và cuộc gặp gỡ với Hà đã làm thay đổi đời Hoàng.
Nhiều đêm không ngủ được anh cứ phân vân. Ở lại thì thật phiền với cảnh mẹ góa, con côi làm cho anh hoang mang. Hà! Giờ đây anh đã nhận ra cô! Những ký ức một thời ở Nông Trường Sao Vàng trong anh bùng dậy. Anh biết mình có lỗi với cô ấy nhiều lắm. Bao nhiêu suy tính đến với anh. Anh sắp xếp đồ dùng vào ba lô và nghĩ, đến đêm nhân lúc mẹ con Hà ngủ say anh sẽ nhẹ nhàng chia tay. Món nợ ân tình này có điều kiện anh sẽ trả. Nhưng những cử chỉ, hành động và lời nói chân tình của Hà làm anh đắn đo: “Anh định đi đâu với cơ sự này. Sức khỏe chưa ổn, tiền bạc thì không. Mà anh biết về đâu bây giờ cơ chứ! Thôi anh cứ ở lại đây với em. Dù sao anh và em cũng đã từng sống một thời đáng nhớ, nó quý giá biết chừng nào. Anh ở lại đây sẽ có bao điều bất ngờ với anh đó”. Hoàng thấy mình nên làm một điều gì đó có ý nghĩa. Anh gật đầu đồng ý.
Bằng sự cảm thông, bằng tình yêu thương từ hai người, một thời gian, Hoàng và Hà “rổ rá cạp lại”. Tiếng cười, tiếng nói trong nhà rộn ràng đã đem lại niềm hạnh phúc muộn màng cho hai người.
Hoàng sớm hòa nhập với cuộc sống. Cũng như bao người dân ở xã Xuân Hòa, vợ chồng anh Hoàng ngoài trồng trọt chăn nuôi họ trồng bạch đàn ở những đồi hoang. Nhưng trồng bạch đàn lâu thu hoạch, mà kinh tế cũng chẳng nâng lên được mấy.
Một hôm đi thăm rừng bạch đàn về, Hoàng bàn với vợ: “Này em, sau khi bán lứa bạch đàn này chúng ta sẽ thay đổi cơ cấu cây trồng. Cứ trồng bạch đàn mãi thế này làm sao mà giàu lên được”. Hà nhìn Hoàng âu yếm: “Tùy anh, làm sao tốt hơn thì làm”.
Hoàng lộc cộc trên chiếc xe đạp tìm đến xã Thọ Xương, nơi nổi tiếng với đặc sản bưởi Luận Văn. Giống bưởi Luận Văn gắn liền với khu di tích lịch sử Lam Kinh. Theo truyền thuyết, vào đầu thế kỉ 15, trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi đã đóng quân tại đây và lấy tên làng Luận Văn đặt cho sản phẩm bưởi của làng. Đây cũng là bưởi tiến vua của vùng đất này.
Hoàng đi đến nhà một ông lão có vườn bưởi Luận Văn đang ra hoa, tỏa hương ngan ngát. Tán bưởi rộng như cái nong, lá xanh ngăn ngắt, nụ hoa xòe những cánh trắng muốt, ong bướm dập dìu bay lượn. Hoàng cúi đầu chào. Ông lão đang say sưa ngắm vườn bưởi, giật mình quay sang nhìn Hoàng: “Anh hỏi tôi hả? À về giống bưởi Luận Văn chứ gì!”.
Dưới gốc nhãn tỏa bóng trước sân một già, một trẻ đang say sưa câu chuyện về giống bưởi Luận Văn. Ông lão cho biết, giống bưởi đỏ Luận Văn là bưởi tiến vua Thanh Hóa. Giống bưởi vỏ đỏ, ruột đỏ ăn có vị ngọt hơi chua nhẹ. Do màu đỏ và mùi thơm đặc trưng, bưởi Luận Văn thường được người dân trong vùng chọn để bày trên bàn thờ nhân dịp Tết với mong muốn mang lại sự may mắn và phát tài. Ông Lão có tên là Thơm, mời Hoàng uống nước, kể: “Ngày đó, ở đây dân cư thưa thớt, chủ yếu sống dựa vào trồng sắn, ngô. Ngày nông nhàn thì đi rừng kiếm củ mài, kiếm củi để thêm tiền tiêu dùng. Tôi được bố vợ cho mấy cây bưởi là giống bưởi quý, đó là bưởi Luận Văn, tôi trồng ngay trước vườn nhà. Chỉ sau vài năm, cây đã phát triển tốt, cao bằng đầu người. Lúc bấy giờ, cả thôn chỉ có mình nhà tôi trồng bưởi. Ban đầu, người dân ở đây nghĩ tôi trồng cho vui. Họ bảo tôi là người thích chơi “cây cổ”. Nhưng khi lứa bưởi ra quả đầu tiên, vợ tôi mang ra chợ bán thì mọi người rất thích và mua hết. Nhận thấy thổ nhưỡng phù hợp với giống bưởi này, vợ chồng tôi quyết tâm khai hoang khu đồi sau nhà. Có đất, tôi chiết cành để nhân giống. Lấy ngắn nuôi dài, chỉ sau ba năm, vợ chồng tôi đã phủ kín diện tích đất khai hoang với hơn trăm gốc bưởi. Từ đó, nhờ vườn bưởi này, gia đình tôi có nguồn thu nhập ổn định”. Rồi ông Thơm hướng dẫn cho anh Hoàng về đất đai, kỹ thuật trồng. Một trong những nguyên nhân tạo nên chất lượng đặc thù của bưởi Luận Văn là do điều kiện thổ nhưỡng.
Đất của vùng trồng bưởi này chủ yếu là đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất hoặc đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng, tầng đất mặt tơi xốp và ẩm, dày trên 30 cm. Mà đất vùng Xuân Hòa bên anh cũng giống đất Thọ Xương đấy.
Chia tay ông Thơm về trong lòng anh Hoàng trỗi dậy niềm vui lâng lâng với bao hy vọng. Ông Thơm còn hứa giúp cho anh cây giống.
Hoàng về bán mấy sào bạch đàn, anh thuê thêm nhân công rồi hì hà, hì hục làm đất, tạo khu vườn, vay vốn mua phân, cây giống và tiến hành trồng bưởi.
Cây được hai năm tuổi xanh tốt, tự nhiên cành và cả gốc của cây có hiện tượng mủ chảy ra. Cây yếu dần và chết. Người thương tình tiếc cho anh thì chép miệng: “Biết thế cứ để bạch đàn vậy có tốt hơn không!”. Người ghen ghét thì bảo: “Trứng đòi khôn hơn vịt. Làm giàu tưởng bở!”. Nguy cư sạt nghiệp đến nơi. Vợ chồng Hoàng lo lắng cho vườn bưởi nên tìm đến Phòng nông nghiệp. Cán bộ Phòng nông nghiệp cho biết là do bưởi nhà anh bị bệnh thối gốc, chảy mủ.
Được sự hướng dẫn của Phòng nông nghiệp, vợ chồng Hoàng hối hả lao vào công tác chữa bệnh, chăm sóc vườn bưởi. Trời không phụ lòng người. Vườn bưởi vợ chồng anh đã bình phục trở lại, tỏa màu xanh biếc, hai người nhìn nhau thở phào nhẹ nhõm.
Rồi năm sau trên những lộc non hoa đã nở trắng, những cánh hoa đầu tiên đung đưa như đàn bướm chập chờn, hương ngan ngát cả khu vườn. Quả nhu nhú như quả cau rồi lớn dần. Ngày đêm hai người thấp thõm mong chờ. Lứa bưởi đầu tiên cũng đủ trả vốn liếng. Hai người lại hì hà hì hục đêm ngày chăm sóc chờ vụ mới. Đến hẹn lại lên, chuẩn bị giáp Tết vườn bưởi nhà vợ chồng anh Hoàng có rất nhiều thương lái đến mua và đặt cọc. Một ngày, anh tiếp không biết bao nhiêu thương lái khắp nơi đến mua hàng.
Tin lành đồn xa. Thấy bưởi Luận Văn của nhà vợ chồng anh Hoàng thu nhập cao, mọi người trong vùng tìm đến để học hỏi kinh nghiệm trồng cây. Anh Hoàng không tiếc thời gian đã giúp mọi người kỹ thuật trồng, chăm sóc cây và anh hứa sẽ cung cấp giống cho ai muốn.
Được dăm ba năm, bưởi Luận Văn của vợ chồng anh Hoàng đã trở thành nguồn thu nhập chính. Hai vợ chồng làm không xuể, họ thuê nhân công mùa vụ. Cuộc sống đầy đủ hơn, bát cơm đầy đặn hơn. Anh sửa lại nhà, sắm thêm tiện nghi. Một phần vốn dành đầu tư cho những vụ mới.
Nhưng tin đồn anh Hoàng sử dụng thuốc tăng trưởng phun vào cây, dùng chất kích thích tiêm vào quả như ngọn gió độc lan nhanh. Các thương lái tẩy chay, người dân quanh vùng không còn ai mua bưởi anh nữa. Các công ty lần lượt cắt hợp đồng. Bưởi hái ra không bán được chất đống, hỏng dần. Anh phải thuê xe đi bán tháo ở những vùng xa, may ra kiếm lại ít vốn. Bưởi đang chín trên cây trải một màu vàng buồn bã. Nguy cơ sạt nghiệp đến gần.
Một lần nữa anh lại cầu cứu đến các cơ quan chức năng, các nhà báo. Sau khi các cơ quan chức năng về kiểm định chất lượng họ không thấy có dấu hiệu sử dụng chất tăng trưởng hay chất kích thích. Các nhà báo lại vào cuộc… Và tin vui đến với gia đình anh Hoàng. Thật hú vía. May sao có nhiều người đồng tình ủng hộ gia đình anh. Các thương lái, các công ty lại về hợp đồng mua bán. Vườn bưởi lại tốt tươi ra hoa kết trái, tỏa một mùi hương thanh khiết, khiêm nhường. Anh được cơ quan chức năng giới thiệu, hướng dẫn đăng ký chất lượng, dán tem, dán mác thương hiệu.
Từ đó, bưởi đỏ Luận Văn gia đình anh Hoàng đã được công nhận là sản phẩm OCOP. Không những thế anh cũng hướng dẫn cho bà con cách làm như anh. Bưởi Luận Văn của Thọ Xuân nói riêng và của Thanh Hóa nói chung đã được công nhận là sản phẩm OCOP và được đánh giá là loại bưởi có hiệu quả kinh tế cao. Trung bình, 1ha bưởi cho thu nhập khoảng 500 triệu đồng. Đời sống người dân trồng bưởi Luận Văn từng bước đổi đời. Giống bưởi Luận Văn được đưa vào chương trình khôi phục và phát triển cây ăn quả đặc sản của tỉnh Thanh Hóa.

***
Nghe tiếng chim chào mào hót rộn ràng, ông Hoàng thấy lòng mình như vui lây. Vậy mà đã mười mấy năm qua đi. Lòng ông rạo rực.
Tối nay, bà Hà ăn mặc gọn gàng. Bộ quần ông Hoàng tặng bà nhân ngày cưới mặc vào bà thấy như trẻ lại. Dưới gốc nhãn cổ thụ bên tuyến kênh Nhà Lê ở Nông trường Sao Vàng, bà Hà nhìn ông Hoàng âu yếm rồi hỏi: “Ông còn nhớ nơi này không? Đây là nơi kỷ niệm tình yêu của chúng mình”.
Ông Hoàng thổn thức với những lời bà Hà vừa hỏi, ông lục lại trong trí nhớ của mình.
***
Ngày ấy cách đây cũng đã lâu lắm rồi. Tại nông trường Sao Vàng này, Hoàng, Hà, Tiến là ba người bạn rất thân nhau. Họ cùng trong đội trồng cây ăn quả. Hà quê ở xã Xuân Hòa, cách nông trường không xa. Hà có khuôn mặt cân đối. Làn da mịn màng màu đồng quê mặn mà nhưng có duyên. Mắt to long lanh luôn chứa đựng nụ cười. Ánh mắt lúng liếng làm cho đám con trai trong nông trường lúc nào cũng muốn tán tỉnh. Trong đám con trai đó Hà đã phải lòng Hoàng. Cô luôn chú ý, quan tâm anh. Hoàng quê ở Ngọc Lặc, người Mường. Tuy người dân tộc nhưng anh có nước da trắng như con gái thị thành. Sự hiền lành ít nói của Hoàng luôn là điểm hút của các cô trong đội. Trong đội còn có Tiến, quê Nam Định. Tiến làm tổ trưởng. Tính tình vui nhộn, hay đùa nghịch, nhưng làm việc rất nghiêm túc và có kế hoạch. Anh em trong tổ thường gán cho anh là ‘hắc xì dầu’. Anh là người luôn để ý và quan tâm đến Hà. Trong lòng anh luôn ao ước Hà sẽ là người yêu anh. Tiếc nỗi những tình cảm đó cứ giấu kín trong lòng mà anh chưa dám thổ lộ.
Một buổi tối đi xem phim về Hà rủ Hoàng đến bên dòng kênh Nhà Lê. Hoàng ngơ ngác không biết có chuyện gì mà Hà sốt sắng đến thế. Đang nghĩ mông lung Hà nắm tay Hoàng kéo anh ngồi xuống vạt cỏ mềm bên dòng kênh. Tiếng Hà nhỏ nhẹ: “Ngồi gần sợ em làm thịt anh hay sao?”. Hoàng nhìn Hà không nói gì. Hà mạnh dạn hơn: “Anh có biết những ngày tháng qua, tình cảm em dành cho anh là gì không?”. Không đợi Hoàng trả lời Hà kéo Hoàng gần lại nói nhỏ: “Tình yêu đó!”. Nói rồi Hà hôn lên má, lên môi Hoàng. Bị bất ngờ làm chàng trai có mệnh danh ‘nhát gái’ chỉ biết ngoan ngoãn cuốn theo vào dòng xoáy của cuộc yêu.
Từ ngày trở thành đàn bà, Hà gầy đi trông thấy. Cô bỏ ăn, nôn khan. Hoàng thấy vậy hỏi: “Em có bị làm sao không. Nếu có em bé chúng mình báo cáo với cơ quan làm đám cưới nhé!”.
Nhưng lời hẹn đó không thành sự thật. Một lần nông trường cử Hoàng và Tiến lên Nông trường Sông Bôi để liên hệ mua ít giống dứa về trồng. Hai người đi đến một con suối để sang bên kia. Nước suối đang dâng to hơn bình thường do trận mưa bất ngờ tối hôm trước. Hoàng nói với Tiến: “Để mình thử bơi sang bên kia rồi buộc dây kéo cậu sang nhé. Chứ chờ ở đây biết khi nào nước rút, trời cũng sắp tối rồi”. Mặc cho Tiến ngăn cản, Hoàng liều mình cầm sợi dây rừng bơi sang. Mới được gần nửa con suối thì một cây to trên thượng nguồn trôi về đâm vào người, Hoàng chới với và trôi theo dòng nước. Tiến chỉ biết nhìn theo, mắt ngấn lệ.
Căt dòng suy tư của ông Hoàng, bà Hà chợt hỏi: “Đang nghĩ gì mà tôi thấy ông mơ màng đến vậy?”. Ông Hoàng bừng tỉnh trở lại với hiện tại. Bà Hà nhìn ông, ánh mắt như ẩn chứa một điều gì bí mật. Khuôn mặt bà giản ra, miệng đằng hắng: “Ông bình tĩnh nghe tôi nói điều này. Một điều bí mật rất quan trọng cứ giấu mãi trong lòng mà hôm nay mới có điều kiện nói ra”. Một không khí bao trùm chờ đợi. Ông Hoàng sốt ruột: “Chuyện gì bà nói nhanh đi”. Bà Hà giọng run run, ấp úng : “Thu Yến…! Thực ra Thu Yến là con gái ruột của ông!”. “Vậy là sao? Thật vậy sao? Còn ông Tiến chồng bà…?”- Tiếng con tim ông Hoàng đập loạn nhịp như cái ngày nụ hôn đầu bà Hà trao cho ông.
Bà Hà chậm rãi kể. Khi nghe tin ông bị lũ cuốn trôi, nông trường cử người đi tìm kiếm nhưng thất vọng trở về. Ngày đó tôi bỏ ăn, quên ngủ. Lúc nào cũng khóc, cũng ủ rũ nỗi buồn. Mỗi lần gặp anh Tiến cứ cầm tay, nắm áo đòi bắt đền. Cái bụng thì ngày càng to ra. Nguy cơ đuổi việc rất gần vì tội quan hệ bất chính. Tiến đến. Anh ấy giúp đỡ, động viên tôi. Và rồi Tiến hứa sẽ thay ông chăm sóc, lo toan mọi việc. Thế rồi hai người thành vợ chồng. Khi Thu Yến lên 7 tuổi, anh Tiến bỏ mẹ con ra đi không một lời trăng trối, anh bị tai nạn trong một lần chống bão ở nông trường.
Ông Hoàng nghe xong chuyện không nói gì, chỉ nghe tiếng ứ nghẹn trong cổ họng, tay ông nắm chặt tay bà Hà.
Để cho cảm xúc của ông Hoàng qua đi, bà Hà nhìn chồng hỏi: “Vậy việc bị lũ cuốn trôi ra sao? Ông làm gì, ở đâu?”. Ông Hoàng không nhìn vợ, ông nhìn về phía dòng kênh. Mặt kênh êm đềm, phẳng lặng như tấm gương soi rõ ánh trăng đang rơi xuống dòng kênh phản chiếu lên ánh sáng bàng bạc. Ông Hoàng nhớ lại. Ngày đó, ông bị trôi theo con nước lũ của dòng suối. May sao càng trôi xa thì dòng nước yếu dần. Phía trước có một cành cây nhô ra. Bằng sức lực còn lại ông với tay nắm lấy cành cây và đu người lên. Khi ranh giới giữa sống và chết mong manh, con người ta như có một sức mạnh không tưởng. Vậy là thoát chết rồi – ông thốt lên. Trời tối dần, vừa đói, vừa mệt, vừa lo sợ ông run bần bật vì rét. Lần theo một lối mòn, ông đi tiếp. May quá, phía trước le lói ánh đèn. Một mái nhà sàn hiện ra. Ông được một gia đình người dân tộc Mường giúp đỡ. Ông trình bày sự việc xảy ra và xin chủ nhà cho nghỉ lại.
Ông Hoàng nhìn lên bầu trời trong xanh, ánh trăng nhìn ông như đưa ông về với những ký ức. Mấy phút lặng yên qua đi, ông Hoàng kể tiếp: “Được mấy ngày khỏe lại, tôi xin phép gia đình trở về. Con đường về nhà theo sườn núi cheo leo. Trên là núi đá tai mèo, dưới là vực sâu. Khi đang cúi người cầm dây leo để bước qua hẽm đá, dây leo đứt tôi ngã nhoài rơi xuống chân núi, chân đập vào hòn đá chắn ngang nên bị gãy. Nhưng cũng may chưa rơi xuống vực. Ông chủ nhà xé chiếc áo đang mặc lấy mảnh vải buộc cố định rồi dìu tôi trở lại bản. Bản chỉ lèo tèo vài nóc nhà. Không có trường học, trạm xá. Mọi người xúm vào lo thuốc thang, ăn uống cho tôi. Khi cái chân lành thì tôi cũng trở thành con rể của bản. Những chuyện tiếp sau đó thì như bà đã biết.
Bà Hà âu yếm vỗ nhẹ vào vai ông: “Thôi! Việc đã qua rồi. Cái gì đến thì cũng đã đến. Ngày mai bảo cái Yến và chồng nó đưa ông lên Hà Nội, tìm lại đứa con thất lạc đã. Khi nào gia đình ta đoàn tụ thì hãy nói chuyện này với các con sau”. Ông Hoàng nắm lấy tay bà Hà, rồi ghé sát hôn nhẹ lên trán: “Cảm ơn bà nhiều lắm!”
Càng về đêm ánh trăng càng tỏ, soi rõ nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt của hai người đang lâng lâng niềm hạnh phúc. Thoảng trong ngọn gió, mùi hương bưởi đang ngả màu chín vàng ngan ngát một mùi thơm thanh khiết. Hương của đất trời, hương của tình đời.

Bài viết liên quan: