CHUYỆN CŨ DĂM BA
I
Bạt núi núi nghiêng, đạp thành thành đổ
Tần quân trăm vạn – đám cỏ khâu
Ô truy, Dạ Trạch giam thần mã
Hỏi kẻ nông phu ân oán bởi đâu?
II
Ba mươi vạn tù phu, đất đen trám miệng
Kỳ lạ Ly Sơn, Kình Bố thoát lưới trời
Tấm lưới đổi tay, phạm nhân Kình tính sổ
Quỷ Tần Vương dưới má khóc hay cười?…
III
Mất vợ Chúa Chiêm cơn thịnh nộ
Quân uy trăm vạn rợp Thần Phù
Đứa hầu thất sủng – tan Chiêm Quốc
Vẳng giọng Hời, than khóc vạn thu…
IV
Rời bỏ kinh đô đường bôn tẩu
Gặp chiếc thuyền con vua hỏi: “Giặc đâu rồi?”
– Muốn biết tìm người ăn xoài mà hỏi
Chỉ một miếng ăn, oán đủ lấp trời…
V
Bức chí luồn trôn, quốc sĩ họ Hàn
Dựng nghiệp Hán Vương – chui chuồng, đóng rọ
Dâng Sách Bình Ngô – biết đâu sau oán cừu ba họ
Khen lão Xích Tùng, gã Phạm ẵm Tây Thi….
CÕI “PHẠM TRÙ”.
Có tửng từng tưng và có sầu dư
Khó đồng nhất cuộc đời viên mãn
Có vinh hoa – có tai ương hoạn nạn
Có oán ân và thể tất nhân tình
Có dữ – hiền và trọng đãi – rẻ khinh
Sự đắc thời và đời thừa, kiếp lạc
Có sáng suốt – đui mù hèn mạt
Trắc ẩn thiện lương – căm hận bất bình
Có vô tâm và thấu nghĩa đạt tình
Thịnh vượng vẻ vang – gian nan lận đận
Đành cam phận hay vượt lên số phận
Sáng thế, văn minh – huỷ diệt văn minh
Tử tế, thiện lương hay gian giảo lưu manh
“Phượng hoàng sơ sinh – Lão ô bách tuế”
Sống ý nghĩa – vô minh, bất nghĩa
Cõi “phạm trù” ta – thương thảm trăm năm…

CƠ SỰ THỊ MẦU
Bây giờ chi ngự bệ sen
Hương thơm khấn vái, xôi dền cúng dâng
Em thì lẩng chẩng lâng châng
Ngoài sân lờ lượn, bâng khuâng, chài tình
Trên chùa Bụt đẻ, Bụt sinh
Mầu em, làng nỡ bắt tình, mõ rao?
Dám yêu, thì tội gì nào
Con tình, Giời ạ, xúm vào, sự sinh?
Chị oan, ừ lẽ thường tình
Em oan, buộc mãi phận mình vào oan
Dám làm, nào có thở than
Công bằng đâu hỡi thế gian, nhân tình?
Em thương chị, hơn thương mình
Giả trai chịu vạ, chung tình chồng chê
Quan làng ngọng nghịu, a ê
Đặt bày ngả vạ, chẳng hề xót thương
Bây giờ chị giữa Phật đường
Lả lơi em của bốn phương mua cười
Hư thân, hư khắp đấy thôi
Em đi túm hết vía người lẳng lơ…
TUY NHIÊN
Từ học lớp 4, lớp 5 tôi đã phải lòng thơ
Thấy ở đâu có thơ là vồ lấy đọc
Và ngấu nghiến đọc đến khi rách tướp
Và học đòi, học theo, tập tọng làm thơ
Việc cơm áo, đàn con… mơ vẫn cứ mơ
Khi rỗi rãi, canh khuya cắm đầu hý hoáy
Và nghiện, nghiện thật rồi, từ xưa ấy
Đã lúc gửi đi… hồi đáp vẫn không
Năm ba mươi, bốn, năm… bẩy, tám mươi vẫn nuôi mộng
Viết cứ viết, gửi có gửi… biệt vô âm tín, tung lòng
Biết Đỗ Trọng Khơi gửi đến 50 lần. Tôi chết sững
Thương cho Khơi, tôi ám ảnh khóa lòng
Rồi cơ hội cho Khơi, còn tôi biết khó lòng
Rồi có dịp tôi chọn mười bài đưa đến báo Văn
Sau được đăng một bài, ngực tôi tưởng vỡ
Nghĩ ông Lương Hiệu tám ba tuổi… mới đỗ trạng nguyên
Tình cờ tôi quen một cô – cây bút, biên tập viên
Được cô cảm tình, cho in chùm và đến 10 chùm ấy
Báo điện tử* tôi ơn cô không gì hơn vậy
Và tự tin, ra thơ mình chắc đã là thơ
Tuy nhiên, tuy nhiên… các báo khác chẳng thể mơ
Tuy nhiên, tuy nhiên… tôi đã ngót U90… ngấp ngơ
——————-
*Thuộc tạp chí Nhà Văn và cuộc sống.
TÂM THỨC GIU – ĐA
Những vần thơ – cứ gọi là thơ
Nở như nấm không mùa – cách tân hay cách cổ
(Đôi khi có tân cơ giao duyên)
Tôi quý thơ và yêu thơ lúc ngỡ muốn điên
Khó mà yên, bực dọc mãi xưa giờ
Những vần thơ – cứ gọi là thơ
Khó học cách của Giê Su
chim đất sét bay lên được
Còn Giu – Đa, đất sét (cùng bác thợ gốm cho) cứ về đất sét
Xoay xỏa mãi thôi, cáu giận khóc òa
Buồn thiếu hồn thơ hay không phải thần thơ
Nặn bóp cả một đời đất sét về đất sét
Thơ bí truyền khó nhập thần, nắm bắt
Ta tự thương mình mang tâm thứ Giu – Đa!

Bài viết liên quan: