Tôi thu mình trong góc nhỏ của một quán trà ven Hồ Tây, tĩnh lặng nhìn vệt khói mỏng vẽ những nét mờ loãng lên tấm kính cửa sổ đã hoen ố bụi đường. Nước sôi rót xuống, đánh thức từng cánh trà ủ hương sen Bách Diệp đang cuộn tròn. Chúng cựa mình, bung nở, loang ra thứ sắc xanh lục ánh vàng sóng sánh. Ngước lên, bên kia lớp kính mỏng, tiếng còi xe rít lên bóp nghẹt không khí, dội những mảng âm thanh khô khốc vào vách tường.
Hai mươi hai năm ngược xuôi – từ thuở gã trai bước từ rặng nhãn Hưng Yên đến hòa mình vào lòng phố thị – giờ đã hằn đôi vệt chân chim nơi khóe mắt. Gót giày tôi mòn vẹt cọ xuống bao vỉa hè chốn này, để rồi cứ ngỡ mình đã đọc vị được Thủ đô.
Người ta thường bảo phố phường ồn ào – một cái vỏ bọc mắt thấy tai nghe quá đỗi hiển nhiên mà bất kỳ ai cũng dễ dàng dán nhãn khi nhắc về Hà Nội. Nhưng với tôi, phố câm lặng thì đúng hơn. Những khối bê tông chọc trời dẫu tráng lệ đến mấy cũng đâu biết cất lời. Phố chỉ thực sự lên tiếng qua những phận người đang oằn mình bám sát mặt đường nhựa, hay lẩn khuất, chìm lấp đâu đó trong những vùng sương tối thị thành.
Đặt chén trà còn vương hơi ấm xuống bàn, tôi đẩy cửa bước ra ngoài vạch kẻ trắng dưới lòng đường – đi tìm một cuộc đối thoại nhọc nhằn thuộc về những kẻ lỡ nhịp.
***
Trời rụng dần về chiều. Nắng loãng ra, rỏ những vệt màu cam quạch cuối ngày hắt qua kẽ lá sấu già xù xì. Chiếc loa phường nương theo chiều gió, rè rè nhả từng đoạn tin ngắt quãng.
Lốc cốc… lốc cốc… Đầu nạng gỗ nện bồm bộp xuống vạch vôi trắng đã mờ. Mẩu cao su bọc dưới chân nạng mòn vẹt, trượt đi trên mặt đường nhựa vẫn còn hầm hập phả nhiệt. Một kẻ mù lòa đang bấm mười đầu ngón tay chai sần, đen kịt nhựa thuốc lào vào bả vai người thọt chân phía trước. Cẳng chân gầy rộc rướn lên. Vải áo rách ướt sũng. Mồ hôi rỏ xuống gót chân nứt nẻ đang tứa ra một rãnh máu mỏng manh.
Người thọt hơi nghiêng đầu. Cánh mũi anh ta phập phồng đánh hơi luồng khói bô khét lẹt phả ra từ đám đông, rồi lách thân mình gầy gò rẽ một lối đi hẹp. Người mù gù lưng bám sát. Quai ba lô siết hằn vệt đỏ bầm trên vai. Chiếc loa thùng rách màng xóc nảy theo từng nhịp nạng gỗ khập khiễng.
Tôi đứng lặng người nhìn con hẻm nhỏ như cái miệng khổng lồ từ từ nuốt trọn hai cái bóng vẹo vọ. Bóng tối ụp xuống. Mùi rêu vữa trát tường ẩm mốc xộc thẳng vào xoang mũi, quện lẫn mùi khai ngấy của nước tiểu chuột đọng lại ở bậu cửa. Họ ngồi phịch xuống nền xi măng nứt nẻ lót manh chiếu lác lốm đốm mốc. Bàn tay nổi gân xanh thò vào túi quần đẫm mồ hôi lôi ra một xấp giấy lộn xộn. Tờ hai nghìn rách góc. Tờ năm nghìn ướt nhẹp, dính bết vào nhau. Ngón tay người mù mân mê từng nếp gấp, cẩn thận miết dọc đường viền đồng tiền cho phẳng phiu.
Họ bẻ đôi nắm xôi nguội ngắt bọc trong lá chuối héo, san cho nhau từng hạt nếp cứng đanh. Tiếng nhai trệu trạo vỡ vụn vang lên trong hẻm vắng. Thế giới câm lặng ấy giấu đi sự rẻ rúng của người đời. Họ tự nương vào nhau mà sống lay lắt qua ngày.
***
Màn hình điện thoại hiển thị hai giờ sáng. Đêm trôi về miền hun hút…
Chợ đầu mối Long Biên sực lên cái mùi chua loét của mồ hôi, quện với hơi sương ẩm lạnh từ bãi bồi sông Hồng thốc vào. Dưới ánh đèn vàng khè chao đảo, nền chợ nhão nhoét bùn lầy, lấp lánh mớ vẩy cá tanh tưởi. Mùi ruột cá ươn xộc thẳng lên óc, buồn nôn. Dưới gót ủng cao su cáu bẩn của đám buôn chuyến, mấy cành ly gãy nát ứa nhựa, mùi hương đài các bị vò nát, chết ngạt giữa đống xú uế bến bãi. Tiếng chửi thề, tiếng văng tục lanh lảnh rít qua kẽ răng đám cò mồi.

Ánh nhìn tôi bị hút vào một cái lưng trần khét nắng gập làm đôi. Thùng xốp ứ nước đá đè nghiến lấy bả vai gã cửu vạn. Dây dù siết chặt, tứa ra một rãnh máu nhờ nhờ lẫn mồ hôi. Gã thở hắt ra, rít lên những tiếng sòng sọc trong cuống họng. Nước từ đống cá đông lạnh rỏ tỏng tỏng xuống lưng áo rách bươm. Tầm nhìn nhòe đi.
Chợt gã khựng lại. Thằng bảo kê bến bãi đang sấn sổ, giơ chân định đá thúng hoa của bà già móm mém ngồi thu lu góc chợ. Gã cửu vạn hất hàm, khạc một bãi nước bọt tạch xuống nền xi măng. Cặp mắt vằn tia máu trừng lên, găm rịt lấy mặt thằng kia. Chẳng cần hé răng nửa lời. Thằng bảo kê chột dạ, lầm bầm chửi đổng rồi quay lưng chuồn thẳng.
Rầm! Thùng xốp nện xuống nền đất ẩm. Gã ngồi phệt xuống bậc thềm sứt mẻ. Bàn tay đen kịt bùn đất moi ra cái bánh bao nguội ngắt, vỏ dính tịt vào lớp nilon xộc xệch. Bẻ đôi. Cái phần nhân thịt lèo tèo bằng đầu ngón tay được gã dúi thẳng vào cái rá tre lót lá chuối của bà bán hoa. Rồi gã đứng phắt dậy, lầm lũi bước tiếp. Quai hàm vuông vức bạnh ra, nhai trệu trạo mẩu bột trắng nhạt toẹt.
Dưới cái vỏ bặm trợn của gã giang hồ bến bãi, cái chất trượng phu vẫn âm ỉ, dẫu nhọc nhằn.
***
Bỏ lại sau lưng tiếng ngã giá chát chúa, hơi lạnh rạng sáng lùa tôi bước gót xuống những bậc thang tăm tối của hầm bộ hành Ngã Tư Sở.
Một gã thiếu niên dựa lưng vào vách ốp gạch men, mái tóc nhuộm bết ướt mồ hôi. Nó nhai bánh mì. Cặp mắt hằn vệt chân chim non nớt trân trân nhìn ổ chăn rách góc hầm. Bà cụ nhặt ve chai rên hừ hừ, nhịp thở rít qua kẽ răng móm mém. Thằng nhóc cúi đầu, bẻ đôi ổ bánh mì. Bàn chân trần rón rén bước, lớp bụi xi măng bám chặt gót chân. Nó đặt mẩu bánh sát mép bao tải tơi tả, rồi quay lưng đi thẳng.
Ở góc đối diện, người đàn bà quắp chặt đứa trẻ bụi đời vào vòm ngực xẹp lép. Vết bầm tím trên gò má chị giật giật theo nhịp thở. Chị kéo chiếc áo mưa bằng nilon mỏng trùm kín đôi chân đầy nốt muỗi đốt của đứa bé. Nó rúc sâu vào hõm cổ chị. Mạch máu dưới da thịt đang truyền cho nhau nhiệt lượng sinh tồn. Hầm bộ hành như cái tổ lớn, bao bọc lấy những phận người bị bỏ lại phía sau.
***
Sương bắt đầu loãng ra, nhường chỗ cho vệt sáng ban mai đỏ ối hắt xiên qua từng kẽ lá sấu già. Phố khẽ rùng mình vươn vai sau một đêm dài nín thở. Chẳng còn giữ được vẻ câm lặng xót xa của vài giờ trước, tiếng động cơ rít lên, quất những lằn roi âm thanh xé rách lớp màng nhĩ mỏng manh buổi sớm.
Lòng bàn chân tôi áp chặt xuống mặt đường nhựa hãy còn loang lổ hơi sương, nghe rõ từng gợn lồi lõm của một thân thể thị thành đang oằn mình vì chen chúc. Dưới lớp vỏ bọc đen sẫm vô tri kia, dường như mồ hôi, những giọt máu thầm lặng và cả nhịp thở đứt quãng của muôn kiếp ngụ cư vẫn đang cựa quậy, râm ran truyền lên từng nhịp xót xa.
Ngực tôi thắt lại giữa lằn ranh đêm và ngày. Một nỗi niềm thẳm sâu dâng lên, rồi cứ thế chảy tràn qua từng mạch máu. Mùi của Hà Nội – cái cốt cách hào hiệp mà người ta vẫn mải miết ngợi ca – hóa ra chẳng hề lẩn khuất trong những vần thơ đài các tráng lệ. Thứ “bụi thơm” thuần khiết nhất của đất này lại vỡ ra từ chính những vệt nứt nham nhở dưới đáy gót giày, nơi những thân phận rách bươm đang lấy chút hơi ấm cuối cùng của mình để bọc lấy nhau qua giông bão.

Bài viết liên quan: