Khúc ngã ba sông sương giăng quánh đặc. Màu sương ngả đục y chang thứ mủ tràm quánh lại trên vết vỏ cây bị rạch. Cái ranh giới nước lờ lợ, trôi tuột giữa ba ngả Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng ngày xưa – chưa bao giờ chịu nằm im một chỗ. Nước trôi. Bèo dạt. Và người thì cãi lộn. Hai chục năm có lẻ, chả sót sáng nào, cái rốn chợ nổi này không rền rĩ ba cái thứ âm thanh nhức óc. Tiếng chửi thề chin chít, tiếng rổ rá nhôm nhựa va vào nhau lẻng xẻng. Rát cả mặt sông.
Ba chiếc ghe tam bản cũ mèm, ván lườn tróc vảy, lúc nào cũng nêm chặt cứng vào nhau ngay cái góc lõm cản gió nhất của ngã ba sông.
Chiếc mũi sơn xanh lờ lợ là của bà Mười bán chè thưng. Bả góa chồng từ hồi hai mươi mấy tuổi đầu. Dân Kinh rặt. Cái mỏ nhọn hoắt, chửi thề trơn tuột như bôi mỡ. Nhưng cứ hễ múc chè cho mấy đứa nít ranh hụt tiền thì bàn tay gân guốc ấy toàn cố tình múc dư ra nửa vá.
Sát rạt bên mạn trái là chiếc ghe sực nức thứ mùi nhang trầm Tàu ngột ngạt của thím Xẩm. Dân gốc Hoa miệt Chợ Lớn dạt về mưu sinh. Thím lầm rầm sống có một mình, bán mấy đồ vàng mã, nhang đèn, giấy tiền cõi âm. Tính toán chi li, so đo lật lọng từng cắc bạc lẻ cất kĩ dưới đáy nón lá.
Cạnh mạn phải là chiếc ghe chất đầy xấp xấp tơ lụa vụn, vải vóc đủ màu của Néang Lợi. Người đàn bà Khmer ròng, ít nói, lầm lì như tảng đá cuội. Nhưng chớ có dại. Hễ nọc sào ghe nào lớ xớ đụng mũi vô mạn ghe bả, bả lôi thẳng cây dằm gỗ căm xe ra phang tới tấp không kiêng nể.
Ba mụ đàn bà góa. Ba tộc người. Buộc chung ba sợi dây neo dừa nát tươm vô một gốc bần quéo quắt bên lở. Gặp mặt nhau là cấu xé.
“Cái ghe bà xích ra chút coi mụ Xẩm! Đâm lủng nồi chè tao bây giờ.Đui hả?”. Bà Mười vung cái vá nhôm gõ boong boong vô cột mái che, văng bọt mép.
“Ngộ neo trước. Tụi nỉ lấn tới thì có. Đụng rách xấp lụa của mụ Lợi rồi nỉ đền bằng mạng nha!”. Thím Xẩm nhổ toẹt bãi nước trầu đỏ lòm xuống rạch, vừa nhai móp mép vừa quăng cái lườm sắc như dao cạo sang chiếc ghe đối diện.
Néang Lợi hứ một tiếng rõ to, đục ngầu trong cổ họng. Bả gỡ cuộn chỉ đỏ, lôi tuột mạn ghe mình ra xa nửa thước, rít lên: “Tránh cái phường sát cá ra cho nước nó trong”.
Hai mươi năm trời ròng rã. Ngày nào cũng diễn đúng một tuồng. Họ giành giật nhau từng tấc nước neo đậu cho khuất gió, từng mống khách qua đường ghé mua ly chè hay nải chuối, bó nhang. Họ sống bằng sự xỉa xói, mạt sát nhau hàng ngày để lấp cho đầy cái lỗ hổng vĩ đại của sự cô độc lềnh bềnh trên mặt nước. Không chửi lộn, chắc họ chết chìm trong sự trống rỗng.
Cái vỏ bọc gai góc đâm tua tủa. Lùi xùi. Rách nát. Dân thương hồ đi ngang ngã ba này nghe tiếng ba mụ là lắc đầu ngán ngẩm, nổ máy lẹ cho khuất mắt. Chứ dính vô rách việc.
Nhưng thứ trôi nổi trên mặt nước đục ngầu này, dòm vậy mà đét phải vậy.
***
Nắng đứng bóng. Gắt như tát lửa. Một chiếc xuồng ba lá tơi tả lờ đờ tấp vô. Con mẹ chèo xuồng đen nhẻm, ốm nhom, nách kẹp đứa con gái chừng năm tuổi ốm lòi xương sườn. Con nhỏ thò lò mũi xanh, mắt hau háu dòm nồi chè thưng bốc khói ngùn ngụt của bà Mười. Bà mẹ cắn môi, rụt rè móc túi nilong ra mấy tờ bạc cắc nhàu nhĩ, vuốt vuốt nếp gấp.
Bà Mười xắn quần lỏn tới háng, chửi liền: “Đứng xớ rớ ám mâm chè tao hả? Mua không mua, lượn chỗ khác cho bà mần ăn!”. Chửi rát mặt. Nhưng tay bả thoăn thoắt quơ cái tô sành bự chà bá. Vá chè múc lút cán. Đặc kịt đậu xanh, nhừ tơi khoai lang. Chan thêm một vá nước cốt dừa béo ngậy quánh đặc dằn lên trên cùng. Bả dộng cái tô xuống mạn xuồng kêu cái “cốp”. Nước dừa văng tung tóe. “Đớp lẹ đi rồi cút. Chè tao khét đáy, nãy giờ đéo ai thèm mua. Ăn dùm cho trống nồi vớt vát!”. Bả giật phăng mấy tờ tiền lẻ rách rưới nhét vô túi mớn, đếch thèm đếm.
Ngay sát bên, thím Xẩm đang trề mỏ chửi một ông già móm mém. Ổng mua nải chuối đèo đẹt với bó nhang quắn cúng thất cho vợ. Tay run run chìa ra tờ hai chục ngàn lấm lem bùn sình. Thím Xẩm giật nảy mình, nhổ toẹt bãi trầu đỏ lòm xuống rạch: “A chời! Tiền dính sình xúi quẩy chết mẹ ngộ gòi! Lão già lẩm cẩm!”. Miệng chửi, tay thím ném tẹt tờ hai chục vô sọt rác sau khoang. Rồi thím quơ đại bó nhang trầm loại một thơm nức mũi, nhét thêm xấp giấy tiền vàng bạc cõi âm dày cộp, ném thẳng xuống lườn ghe ông già. “Cầm lấy! Bữa nay ngộ xả xui. Đốt cho bả nhiều nhiều, kêu bả độ cho ngộ trúng mánh. Đi đi, xúi quẩy!”.
Mạn ghe bên phải. Néang Lợi ngồi chồm hổm. Đôi mắt lầm lì nãy giờ chằm chằm dòm con nhỏ học trò đen nhẻm đang rụt rè rớ tay vô xấp vải lanh trắng phau. Cầm khúc thước gỗ, Lợi phang cái “chát” vô mu bàn tay con nhỏ. Đỏ lựng. “Tay dơ. Đụng vô hư lụa tao!”. Con nhỏ rụt tay, nước mắt rơm rớm, mếu máo kêu má dặn mua mét vải vụn về chấp vá áo dài năm học mới. Lợi hứ một tiếng đục ngầu trong cổ họng. Bả chụp cái kéo. Xoẹt. Xoẹt. Nhát cắt ngọt lịm. Cắt ngang xấp lụa xịn nhất, trắng bong không một vết xước. Bả vò nhàu nhĩ xấp lụa, quăng thẳng vô mặt con nhỏ. “Cầm về lau nhà. Lụa tao dệt lỗi. Đưa đây mười ngàn. Thiếu một cắc tao xẻ thịt”. Khúc lụa đó, đem ra chợ nổi bán đứt không dưới trăm ngàn.
Đó. Đời thương hồ xứ này nó vậy. Mở miệng ra là dao búa, là mạt sát, là đòi đâm đòi chém. Ba cái vỏ ốc xù xì, gai góc, sứt mẻ te tua ráng gồng mình lên mà cọ xát với cái mặt sông Hậu nhẫn tâm này. Gồng để không bị giang hồ bờ cõi nuốt chửng. Gồng để che giấu ba cục thịt mềm xèo, rỉ máu tứa lưa giấu tuốt luốt bên trong lớp vỏ bọc chát chúa đó.
Đâu ai biết, cái ngã ba sông sương mù đặc quánh này, ba chiếc ghe mục nát đinh tai nhức óc đó lại là cái phao cứu sinh giấu mặt của biết bao nhiêu mảnh đời rách rưới trôi dạt ngang qua.
***
Nhưng dạo này, cái tiếng cãi lộn tự dưng thưa đi. Lạt lẽo. Ngột ngạt.
Bắt đầu từ một buổi sáng rằm. Nước đứng. Gió chết vấp đẩu đâu chẳng thèm thổi. Lão Tư ve chai bơi xuồng lết xết qua, tấp vô mạn xin bà Mười ca nước mưa. Lão ực một hơi, quẹt mỏ, buông một câu ráo hoảnh: “Tới số rồi mấy má ơi. Tháng sau sáp nhập tỉnh. Trên giăng dây đuổi bãi, nã cọc bê tông xây cầu dây văng. Chợ nổi này dẹp lép”.
Bà Mười đang múc chè, khựng vá. Rồi bả cười cái hực. Chửi thề. “Đu bám cái ngã ba này hai chục năm, hơi đéo đâu nghe mỏ lão chém gió. Dẹp là dẹp thế đéo nào?”.
Thím Xẩm nhổ toẹt bãi trầu đỏ lòm xuống rạch, xua tay đuổi tà. “A chời, ngộ đóng hụi chết ở đơi, nhà nước thương xót người nghèo lúm, nỉ bớt xạo đi Tư”.
Néang Lợi ngồi rọc vải. Mắt không thèm ngước. Cây kéo nhấp xoẹt xoẹt. Coi như gió thoảng lọt tai. Lũ đàn bà bám rễ ở cái ổ chuột lềnh bềnh này nghe tin đồn giải tỏa mòn lỗ nhĩ rồi. Băm chục bận. Ôi dào. Trò hù dọa.
Nhưng tới trưa trờ trưa trật. Nắng đổ lửa. Mặt sông Hậu lợn cợn váng dầu máy tanh rình, bốc hơi ngùn ngụt. Ép tim. Khách ghé mua đồ thưa thớt, léo phéo vài mạng. Đám tài công sà lan ghé ăn chè, mua nhang, mồm mấp máy thì thầm. Tụi nó xì xầm chuyện đền bù. Chuyện mấy chiếc sà lan cạp đất đã thả neo lù lù tít mạn thượng nguồn. Chuyện người ta phóng tuyến, cắm cừ. Chữ “giải tỏa” dội vô mạn ghe. Đập bùm bụp vô màng nhĩ. Rõ mồn một.
Sóng vỗ oạp oạp. Sự sợ hãi bắt đầu bò râm ran dọc sống lưng.
Bàn tay múc chè của bà Mười run lẩy bẩy. Nước cốt dừa sánh ra ngoài, rớt xèo xuống bếp than đỏ rực. Khét lẹt. Thím Xẩm đếm lộn tiền thối, ngẩn mặt dòm sấp giấy vàng mã tơi tả rớt lả tả xuống sàn gỗ mục. Néang Lợi lỡ tay cắt phạm vô mép xấp lụa. Đứt ruột.
Tự dưng ba cái miệng ngoa ngoắt câm bặt. Lạnh ngắt.
Ngay xế chiều hôm đó, người ta đưa máy xúc tới thiệt. Tiếng động cơ ầm ĩ cạp nát bờ bãi, xé rách cái tĩnh lặng tơi tả của xóm thương hồ. Mấy khối bê tông tảng lớn tuôn xuống ngã ba sông. Họ bắt đầu kéo cáp nối nhịp ba bờ. Khu chợ nổi ngập ngụa mùi rác và khói ghe máy chuẩn bị tắt thở. Chết đứng.
Ba mụ đàn bà ngồi thu lu trên ba cái mũi ghe mục. Rệp mọt cắn ruỗng ván lườn. Họ dòm mấy trụ bê tông lừng lững nhô lên, lạnh lùng, xám xịt như mấy con quái vật đâm thủng mặt nước. Ruột gan thắt lại. Quặn từng cơn đau điếng. Nỗi lo cuộn lên tới tận cổ họng. Đắng nghét.
Mai mốt giải tỏa trăng trắng mặt sông, đi đâu? Về đâu? Lên bờ ư? Đất đâu mà lên. Tiền đâu mà cất chòi. Ba cái thân tàn ván mục này biết tấp vô cái xó xỉnh nào mà cắm sào sống tiếp? Cái gốc bần bên lở này là nhà, là mồ mả, là cái dây rốn níu ba cái kiếp đàn bà góa trôi dạt. Giờ bứng đi, bứt lìa ra, khác nào rút cạn luồng dưỡng khí.
Ngột ngạt. Mù mịt. Nỗi sợ nuốt chửng cái thói hung hăng chợ búa thường ngày, vắt kiệt sức lực của những thân xác đã ngoài năm mươi. Khóc không thành tiếng.
***
Sáng đó sương còn chưa thèm tan, có một nhà sư trẻ đi khất thực dọc bến nước. Vị sư đầu trần, chân đất, khoác chiếc áo cà sa vàng ươm đi tĩnh tại sát mép bùn sình lầy lội.
Sư không đưa bát xin đồ ăn. Sư cũng chẳng thèm nhận mấy tờ tiền cúng dường người ta dúi vội. Sư chỉ nài xin những mảnh vải vụn, chỉ thừa, dăm ba cái giẻ rách. Vị sư sắp thụ giới Tỳ kheo, đang đi gom nhặt những thứ cặn bã, vứt đi của thế gian để tự tay khâu một chiếc áo cà sa bá nạp – thứ áo vá trăm mảnh rách rưới tận cùng, bám rễ theo đúng cái hạnh khất thực bần hàn ráo hoảnh của bậc tu hành nguyên thủy.
Bà Mười đang quấy nồi chè đường sôi ùng ục, tự dưng khựng tay. Bả moi góc tủ lôi ra cái áo bà ba sờn rách bươm bắp vai đợt năm ngoái, vứt cái bẹp xuống mũi ghe: “Sư cạo lấy mấy miếng vải còn lành mà xài. Thứ này tôi rách quá rồi”.
Thím Xẩm ngưng nhai trầu, lục lọi cái tráp gỗ kêu cót két, lôi ra cuộn chỉ đỏ chót quấn dở dang, lầm bầm trong miệng: “A chời, ngộ cúng cuộn chỉ, may cho nó chắc mũi kim nghen”.
Néang Lợi không nói không rằng. Bả lôi cái kéo cắt xoẹt một xấp lụa Khmer màu lục bảo bị lỗi hoa văn loang lổ, bước ra mép ván, cung kính đưa hai tay cúng dường.
Nhà sư trẻ mỉm cười. Nụ cười trong vắt, nhẹ hều như không. Ngài chắp tay xá ba người đàn bà rồi lặng lẽ bước đi. Cái bóng vàng ươm chìm nghỉm vô lớp sương mù đặc quánh như sữa đục.
Đâu có ai ngờ, cái buổi sáng uể oải đó lại là ngày bình yên cuối cùng của ba chiếc ghe tam bản.
Đêm đó. Lại rống lên mớ gió chướng điên khùng. Chẳng có một điềm báo nào. Lũ chó hoang trên bờ cạn còn không kịp tru lên nửa tiếng.
BÙM! Trời đất lật nhào. Một tiếng nổ đinh tai nhức óc xé toạc màng nhĩ mỏng dính của màn đêm, hất tung cả một vạt mặt sông Hậu. Nước dựng đứng, rào rạt ụp xuống sàn ván. Bình gas công nghiệp nằm chình ình trên chiếc ghe bán đồ ăn khuya neo tít mé ngoài… phát nổ. Phực. Lửa bùng lên. Không phải cháy lan từ từ. Nó bốc thành một ngọn tháp rực rỡ, sáng lòa, man rợ thiêu đốt cả một vạt trời đen đặc.
Gió chướng ngoài bãi lùa thốc vô một cú chí mạng. Lửa táp thẳng vệt dài y chang một cái lưỡi lam khổng lồ rực lửa, lia ngọt xớt qua ba chiếc ghe tam bản mục nát đang neo sát rạt nhau. Màng bọc nilong, lá dừa nước, mái che lợp bạt phực cháy nhanh như giấy lộn.
Cái biển lửa đỏ ối liếm láp ván lườn. Hơi nóng hầm hập phả vô vách, táp nám đen mảng da mặt của những kẻ đang ngái ngủ. Trong khoang, khói cuộn thành từng nạm đặc kịt, xộc thẳng vô mũi. Phổi nghẹt cứng. Mùi đường phèn thưng chè sôi sùng sục trào ra xèo xèo khét lẹt, rít rít dính vô da thịt. Nó quấn chặt lấy cái mùi nhang trầm Tàu đang bốc cháy ngùn ngụt ngộp thở tới tận óc. Rúm ró trộn lẫn vô cái thứ mùi khen khét, sun quéo của mấy xấp lụa tơ tằm bén lửa. Ba thứ mùi vương giả của cái ngã ba sông giờ quện lộn tùng phèo, quánh đặc lại thành thứ mùi chết chóc tột cùng của ranh giới cửa tử.
“Cháy! Cháy ròi, a chời ơi… cứu…”. Giọng thím Xẩm rách toạc, khản đặc lọt thỏm giữa tiếng củi gỗ nổ lách tách.
Sống chết chỉ mành treo chuông. Bản năng sinh tồn đạp tung mọi thứ. Ba mụ đàn bà luống tuổi lóp ngóp bò lê bò càng ra từ trong khoang ghe đang rền rĩ tiếng gỗ nứt nẻ. Sặc sụa. Ho trào bọt mép. Nước mắt nước mũi giàn giụa quệt ngang quệt dọc trên khuôn mặt ám khói đen ngòm. Móc đâu ra thời gian mà vớt vát. Túi tiền lẻ chắt bóp nhét dưới đáy tủ ván ép, cái tráp gỗ sưa khóa kỹ, mớ khung cửi mục, cái nồi chè nhôm chà bá… Kệ mẹ nó hết. Lửa háu đói ngoạm sạch trơn không chừa một cọng rác. Lửa táp sém cả mớ tóc xơ xác rớt rụng xuống vai.
Bà Mười lao đầu xuống nước. Thím Xẩm lăn đùng khỏi mũi ghe. Néang Lợi vứt tấm bạt nhào theo. Ba thân xác đàn bà rớt cái tòm xuống dòng sông Hậu đen ngòm. Nước lạnh buốt thấu xương.
Sình lầy trơn tuột. Họ lóp ngóp ngóc đầu lên, quạt nước ngoi ngóp tấp vô bờ. Quờ quạng. Móng tay cào bấu vồ vập vô mấy cái rễ bần, rễ dừa nước tróc vỏ tới ứa máu tươi. Ba thân hình sũng nước, ướt nhẹp nằm sóng soài, bẹp dí trên bờ bùn dốc ngược. Lồng ngực phập phồng thở hước lên từng chập rát rạt.
Họ nằm đó. Chân tay bủn rủn cựa không nổi. Chỉ có sáu con mắt trân trân trừng lên, rực đỏ ánh lửa dội lại từ dưới mặt sông. Gỗ kêu răng rắc. Lửa táp lủng mạn. Họ trơ mắt ếch nhìn ngọn lửa tàn nhẫn nhai nuốt sạch sẽ toàn bộ cơ nghiệp. Cái ổ chuột, cái nhà, cái cần câu cơm, toàn bộ cuộc đời hai chục năm lây lất bám rễ ngã ba sông của họ đang xì xèo hóa thành tro tàn. Nước tràn vô lườn. Ba chiếc ghe xì xụp từ từ chìm nghỉm, mang theo mấy mớ cãi lộn chửi thề tắt ngấm dưới đáy bùn phèn.

***
Tờ mờ sáng. Sương lại giăng. Nhưng sương bây giờ lẩn vất tro bụi, lầm bầm bụi than đen nhánh rơi lả tả xuống mặt nước. Mặt sông cạn ngắt nước. Ba người đàn bà góa ngồi thu lu, ôm gối trên vạt bùn nhão nhoét ngay dưới chân cái gầm cầu bê tông đang xây dở lạnh lẽo. Mặt mũi lấm lem khói, đen thui như đít nồi. Đứa nào đứa nấy run lẩy bẩy, hai hàm răng đánh bò cạp vào nhau cộc cộc.
Hết rồi. Sạch bách.
Bà Mười dòm qua thím Xẩm. Thím Xẩm ngó Néang Lợi. Mắt đỏ ối, ráo hoảnh. Chẳng ai buồn chửi thêm tiếng nào. Sự xỉa xói, cái thói hơn thua nhau từng mi-li-mét nước dằng dặc suốt hai thập kỷ tự dưng nát vụn bấy nhầy trước một đống tro tàn đen ngòm nổi lềnh bềnh dưới sông. Đau quá. Đau lút tận xương tủy, người ta chả còn sức đâu mà cãi nhau nữa.
Lép nhép. Lép nhép.
Âm thanh dính dấp của gót chân trần lún ngập xuống vạt sình lầy đọng váng phèn nghe rõ mồn một. Trắng đêm thức trắng, tròng mắt ba mụ đàn bà đục ngầu, rát rạt. Từ trong mớ sương mù xám ngoét tanh tưởi mùi tàn tro trôi nổi, nhà sư trẻ sáng qua thong thả bước tới. Không có vầng hào quang chói lóa nào sất. Chỉ là cái vạt áo cà sa vàng rực lướt qua mặt bùn, đập thẳng vô đồng tử của ba kẻ vừa mất trắng cơ nghiệp, xé rách cái tuyệt vọng ớn lạnh rợn tóc gáy này.
Sư đứng đó. Cúi nhìn ba cái thân xác tơi tả, rách bươm rũ rượi run bần bật dưới sình. Ngài không chắp tay. Chẳng tụng kinh hay nam mô niệm một câu chú nào. Sư lặng lẽ đưa hai tay lên vai. Chậm rãi. Rút cái nút thắt. Cởi lơi tấm y cà sa phẳng phiu, sạch bong đang quấn chặt lồng ngực mình.
Một nhát dứt khoát. Ngài rũ thẳng tấm áo thiêng liêng rực rỡ đó xuống. Đè bẹp dí lên lớp bùn phèn đen thui, nhớp nhúa, sực nức mùi nước cống với cá ươn.
“Ba vị… lên đây ngồi. Ngấm sương lạnh, đổ bệnh bây giờ”. Cái giọng trầm đục, vỡ ra, đập lông lốc vô mấy cái trụ bê tông mới đổ dội lại.
Ba mụ già sững người. Trố mắt ếch dòm nhau. Tự dưng mấy cái cẳng chân gầy nhom lấm lem bùn đất rụt rụt lại, giấu tịt vô vạt áo ướt nhẹp. Đời thuở nào cái thứ cặn bã trôi sông dạt chợ dám bước bậy bạ lên áo Phật. Rủi thiên lôi đánh nát sọ.
Thấy họ trân trân lùi lại, nhà sư khụy luôn hai gối xuống bùn. Nhão nhoét. Ngài lôi từ tận đáy cái tay nải bạc màu ra một bọc vải lanh nhỏ xíu. Bọc kỹ rịt tới ba lớp lận. Mười ngón tay gầy gò run run lật từng mép vải. Mở ra.
Nằm lọt thỏm bên trong là một chiếc áo cà sa bá nạp đang may dở. Ba bề bốn bề tưa mép. Mấy đường khâu vắt sổ thô kệch, chắp vá loang lổ đủ thứ màu chỏi nhau bôm bốp.
“Này là khúc lụa lục bảo… con xin từ sạp cô Lợi”. Ngón tay cái của sư rờ rẫm miết lên mặt lụa xước. “Cái mớ chỉ đỏ choạch này, con xin lọt từ giỏ khâu thím Xẩm. Rồi mảng vải sờn rách vai này… con cắt cẩn thận từ cái áo bà ba má Mười bố thí…”. Giọng ngài nghẹn đắng. Tròng mắt đỏ ối, ứa ra hai dòng nước trong vắt lả chả rớt xuống mấy miếng giẻ rách.
Không đè nén nổi nữa. Ngài ngước lên. Lạy rạp luôn cái mạng mình xuống vũng bùn lạnh ngắt. Sình văng dính đầy mặt mũi. Lồng ngực phập phồng, tiếng khóc rống lên xé ruột xé gan:
“Hai mươi năm… Hai chục năm trước chớ có ít ỏi gì. Có một đứa con nít đỏ hỏn. Ruột gan nó chưa kịp nong, rớt cuống rốn. Khóc ngặt nghẽo ặt ẹo. Bị vứt thẳng vô cái rổ rách nằm trơ vơ giữa bến phà đêm sương xuống lạnh muốn nứt sọ. Ba bà góa… người thì cạo rát cái đáy nồi khét quậy vội miếng nước cơm lỏng bỏng. Người thì dốc ngược túi vét mấy cắc bạc lẻ chạy cờ hó đi mua lon sữa bò. Người thì ráng nhai nhuyễn nhừ nhúm chuối sứ đút vô cái miệng bằng hạt chanh cho nó sống lây lất qua mấy bận gió chướng cắt da cắt thịt.
Ba người đàn bà đó… sáng nào cũng chửi lộn văng miểng. Giành giật nhau từng tấc nước cắm sào. Vậy mà không ai dám giành làm mẹ đứa nhỏ đỏ hỏn đó. Không phải họ ác. Không phải họ máu lạnh. Họ sợ. Sợ cái đói khát rách rưới, sợ cái kiếp lênh đênh trôi sông lạc chợ của mình… nó kéo tuột cái mạng thằng nhỏ lún xuống tận đáy sình dơ dáy. Họ đành cắn nát bấy bờ môi, gạt nước mắt ẵm nó lết bộ lên tận cổng chùa xin cửa Phật cưu mang… Thưa ba người má… cái đứa con nít khát sữa đêm đó… là con đây!”.
Bà Mười giật thót nảy người, y như bị điện giật tung nóc. Thím Xẩm đánh rơi tuột cái túi trầu cốt trầu dập lép nhép đang ôm khư khư, lăn lông lốc xuống nước. Néang Lợi bụm chặt miệng. Móng tay cáu bẩn cắm ngập rơm rớm máu môi. Hai dòng nước mắt nóng hổi ứa ra, bò ngoằn ngoèo rửa trôi mấy vệt nhọ nồi nhem nhuốc, vạch ra hai đường rãnh trắng lóa trên gò má xạm nắng.
Trời đất quỷ thần ơi. Làm sao mà quên cho nổi. Tiếng thằng nhỏ còi cọc khóc ré lên xé nát buồng phổi trong đêm sương đặc quánh đó. Thím Xẩm lén lột đôi bông tai giả vàng đem nài nỉ đổi mấy cắc bạc còm mua lon sữa đặc. Bà Mười xé banh cái nón lá quạt muỗi ròng rã tới sáng mờ con mắt. Lợi nghiến răng lôi khúc lụa ưng ý nhất ra xé cái toạc rành rạnh làm tã quấn quanh cái thân hình tím ngắt của nó.
Họ đã giấu. Giấu nhẹm cái tình mẫu tử rứt ruột rứt gan đó chôn sâu tuốt luốt dưới đáy sông Hậu suốt hai chục năm ròng rã. Cố tình vùi lấp. Giấu rịt vô mấy tiếng chửi lộn ngoa ngoắt, đốp chát chua lè chua loét hàng ngày. Tự huyễn hoặc bản thân mình là một lũ máu lạnh, có chết vứt xác cũng không cần ai thương.
Bà Mười òa khóc rống lên. Khóc bạo liệt. Bả lê lết hai cái đầu gối trần trụi bầm tím, xước máu lệt bệt trên bùn. Hai bàn tay thô nháp nhăn nheo run lẩy bẩy vươn ra, ôm ụp lấy cái đầu trọc lốc lấm bùn của vị sư trẻ. Kéo rịt vô lồng ngực lép xẹp của mình. Thím Xẩm khóc nấc lên từng chập hụt hơi, nhào tới quắp cứng ngắc bờ vai áo sờn tưa chỉ. Lợi vòng cánh tay rát nắng siết chặt vòng lồng ngực gầy gò của đứa con chung. Nước mắt lã chã rớt xuống. Tơi bời. Mặn chát.
Tiếng khóc rền rĩ. Oán than có. Đứt ruột đứt gan có. Âm thanh của ba mụ góa xé toạc màn sương ngã ba sông đục ngầu phù sa. Cái nức nở đắng nghét, cái tuyệt vọng điên loạn vì mới mất trắng gia tài tự dưng bốc hơi sạch bách. Bị đè bẹp dí. Xóa sổ rành rạnh bởi cái nghẹn ngào vỡ òa của một ngày cởi trói hoàn toàn nỗi lòng. Ngày đoàn tụ.
Dưới gầm cây cầu bê tông khổng lồ đang nối nhịp chằng chịt, cái bóng xám xịt của ranh giới Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng đang bị cào bằng, bôi xóa để tạc ra một dải đất thênh thang mới…
Ngay chỗ đất chết rách nát ấy, giờ im phăng phắc. Tuyệt nhiên không còn bất cứ tiếng cãi vã nào nữa.
***
Sáng hôm đó, đám nhân công công trường thấy một cảnh tượng lạ lùng.
Nhà sư trẻ ngồi tĩnh tọa thiền định, mắt nhắm nghiền trên nền đất lạnh, sương giăng dính trên vạt áo. Xung quanh ngài, ba người đàn bà Kinh – Hoa – Khmer lấm lem bùn đất chụm đầu lại sát rạt nhau. Bàn tay chai sần xước xát của bà Mười giữ chặt nếp vải thô. Thím Xẩm nheo con mắt kèm nhèm ướt nhẹp xỏ mớ chỉ đỏ. Néang Lợi thoăn thoắt đưa mũi kim nhọn hoắt xuyên qua mấy lớp lụa vụn đan chéo.
Họ im lặng. Mím môi. Khâu chung một đường chỉ dích dắc mải miết. Những ân oán lặt vặt đứt lìa, rụng tơi bời, tan biến sạch trơn vào tro bụi trôi sông. Chiếc áo cà sa vá trăm mảnh rực rỡ dần thành hình từ những thứ phế liệu rách nát vứt đi, được dệt lại bằng máu mủ, bằng sự dung hợp và lòng vị tha đến tận cùng của cái tình người bạt mạng xứ châu thổ.
Mặt trời lết qua mép nước cồn bãi. Đỏ ối. Dòng sông Hậu quặn mình đón cữ nước lớn. Sóng ồ ập trườn lên, liếm sạch mớ tro tàn đen ngòm đương lềnh bềnh bám mép bùn, cuốn tuột ra biển. Bên trên đỉnh đầu, sắt thép của cây cầu mới đang vươn vai cựa mình. Nhịp đời hối hả sầm sập kéo tới. Nhưng lọt thỏm dưới cái rốn ngã ba sông, vệt nắng tinh khôi nhất vừa rớt trúng dải áo bá nạp đương thành hình. Ba màu lụa rách nát, lấm lem sình phèn. Nằm cạnh nhau. Sáng chói.

Bài viết liên quan: