Tình nghĩa xóm làng – Truyện ngắn của Hà Văn Hồng

Buổi chiều bên hàng nước, tiếng mấy bà đang xì xào chuyện làng chuyện xóm. Ngồi bệt dưới đất là bà Han, miệng nhanh nhảu:

 

Cái ông Thân nghĩ mà khổ, mới tí tuổi đầu đã cảm vì rượu chè. Đời nó bạc như vôi ấy, sống chết nay mai cũng chẳng biết đường nào mà lần.

Lời nói vừa dứt, bà Thoa chen lời:

 

  • Thì nó thế mà, lúc nữa mọi người cùng nhau sang phụ giúp, mỗi người tay chân lo ma chay cho ông ấy. Nhà ông thì có một thân một mình.

 

Bà Thuý hàng nước vẻ mặt trầm xuống, đôi mắt lim dim, trong lòng không thể nào nói ra được câu gì nữa. Bà Thành dục mọi người sang đám, nhanh chóng mấy bà tản về gần hết. Riêng bà Thuý, vẻ mặt vẫn nguyên xi.

 

Tiếng trống rội vang một khoảng, buổi chiều hôm đó như mang theo một nỗi buồn không tên. Từng dòng người tiến về nhà ông Thân, nơi có tất cả cảm xúc đọng lại.

Phía bên hiên, mấy bà lặng lẽ rửa bát, lau lại cái đĩa ướt, ai nấy nhìn nhau làm mà chẳng nói một câu. Đến gần tối, không khí đám tang của ông Thân bắt đầu trở nên nặng nề, người viếng ra vào liên tục khiến hơi thở như bị dồn nén. Ngoài kia, tiếng dế kêu lên như đồng cảm với nỗi lòng của mọi người.

 

Khoảng bảy giờ tối, cơm nước đã xong, chuẩn bị xếp ra ăn. Đám ma ông Thân được dân làng quyên góp, mỗi người một ít để làm ma. Họ nghĩ, thôi thì dù sao trước ông Thân có phần ghanh ghét với bà con, nhưng vì tình nghĩa xóm làng, người ta vẫn không bỏ mặc ông.

 

Xứ này không giống xứ khác, mọi người sống biết nhau hơn, từng cái nhỏ nhặt cũng hỗ trợ hết mình. Họ nghĩ đời người chỉ sống một kiếp, không vì mấy chuyện cỏn con mà quên mặt nhau. Người trong xóm vẫn hay bảo nhau vậy, sống với nhau cả đời, có khó mấy cũng không quay lưng.

 

Tất cả ân nghĩa đó được thể hiện qua chính đám ma của ông Thân. Ai cũng gác lại việc nhà để đến phụ giúp lo ma chay cho ông, chẳng tiếc một lời cảm tạ. Sống cùng với nhau thì coi nhau là thân, chứ ngoài kia chưa chắc người trong nhà lại đối xử tử tế với mình. “Cho đi rồi nhận lại” câu nói được đúc kết từ những kinh nghiệm sống lâu đời của cha ông ta.

 

Cũng trong thời điểm đó, mấy ông lão tuổi đã xế chiều ngồi lại một bàn nói chuyện với nhau. Từng hơi thở có vẻ nặng nhọc hơn thường ngày. Bên cạnh là ông Nguyên, người đã trải qua nhiều thăng trầm trong cuộc sống, lặng lẽ nhìn vào khoảng tối ngoài kia mênh mông vô tận.  Cụ Chí cầm chén trà rót, từng tiếng tí tách vang lên, hoà theo điệu kèn, tạo ra một bản âm hưởng đối lập.

 

Nhìn vào bên trong linh cữu, cảm giác trống trơn. Thường trong mỗi tang gia hay có con cái ngồi đó khóc lóc, nhưng với đám hôm nay thì không có một ai. Bởi ông Thân, cả đời vốn cũng chỉ có cái xóm này. Theo lời kể xưa, ông sinh ra trong hoàn cảnh mưa lũ triền miên.

 

Cái thời ấy điều kiện thiếu thốn, dân làng tự gọi bà đỡ đến đỡ đẻ. Trong lúc mưa lũ, ông Thân sinh ra trong vòng tay của dân làng. Mẹ ông cũng chết ngay sau khi sinh.

 

Từ bé đến lớn, ông Thân được bà con truyền tay nhau nuôi. Khi lớn thì dân làng cho một mảnh đất, sinh sống từ đó đến giờ. Đó cũng là lí do vì sao khi chết, dân ở đây vẫn một mực lo chu toàn. Nó giống như câu nói “đã thương là thương cho roi cho ngọt”. Dân làng Yên Xá bao năm vẫn nối tiếp những truyền thống đoàn kết, giúp đỡ nhau.

 

Đúng mười giờ, tiếng kèn trống dừng lại. Người ta tự hiểu là đến lúc nghỉ. Cả đêm không ai cho đánh. Thời thế đổi khác, lệ làng cũng phải theo.

 

Ông Đại cùng vài ông bác ở lại trông quan, còn đâu mọi người về hết. Mấy người còn dừng chân thì phân công nhau nấu nồi cháo ấm. Anh Hoàng thợ xây có tiếng xung phong nhận nhiệm vụ. Quá giờ khuya, mắt ai cũng đã lim dim mà nồi cháo vẫn chưa chín. Anh Hoàng mệt mỏi nằm rũ ra nền nhà, miệng phì phò những tiếng ngáy. Duy nhất chỉ còn ông Bảy thức, mắt đăm đăm nhìn vào đống lửa bùng bùng, lòng thấy nóng rực trong người.

 

Ông mở nồi cháo đang sôi ùng ục, lấy cái thìa húp một hơi. Mùi cơm lan toả đến tận mũi. Hạt cơm đã mềm, ông mới gọi mấy người đang ngủ say:

 

  • Mọi người dậy ăn cháo thôi, chín rồi đây này. Không dậy là tôi ăn hết đấy?

 

Chỉ chừng chưa đến ba giây, những người có mặt ở đó đều như bị đánh thức. Ánh mắt mở thao láo bừng tỉnh. Cụ Xuyến chạy đến múc vài chén cháo đầu tiên, những làn khói bay nghi ngút lên khiến không gian như mờ lại.

 

Được một lúc, ai cũng cầm trên tay bát cháo nóng hổi, kèm theo là hành, thịt băm nhuyễn, lá tía tô cứ phải gọi là ngon tuyệt. Ăn xong, ai cũng xuýt xoa khen. Đã lâu rồi họ mới được quây quần bên người hàng xóm, chứ không phải người thân, để thưởng thức một món ăn dân dã miền quê.

 

Trăng đã đổ bóng. Mọi người thay nhau ngủ, thay nhau trực, không biết trời đã sáng toang. Phía ngoài cổng, tiếng dân làng lại rộn vang.

Hôm nay, theo dân quê, là ngày đưa người chết về nơi an nghỉ cuối cùng. Với mọi người, coi như đã hoàn thành một nghĩa vụ.

 

Ông thầy Hùng cầm trên tay bài điếu, cùng với đó là những tiếng khèn vang lên. Sau một hồi làm lễ, đến bảy giờ, chiếc quan tài được khênh ra ngoài đặt vào chiếc xe rồng. Tám thanh niên sừng sững vào khiêng, ai cũng thật cẩn trọng. Khi chiếc quan được đặt vào xe an toàn, cũng đến giờ đưa tang.

 

Chiếc xe được nhiều người bám vào đẩy đi, chậm rãi lăn trên con đường quê. Đi trước là mấy bà goá cầm cờ tang, thứ mà chỉ người phụ nữ goá được cầm. Tiếng kèn cùng tiếng gõ mõ vang lên, xé toạc không gian im ắng buổi sáng hôm đó.

 

Những bước chân rồi cũng đến lúc phải dừng. Chiếc xe đã đến địa điểm huyệt mộ. Thầy Hùng làm lễ một lượt xong, ra lệnh cho mấy thanh niên khênh quan tài hạ xuống huyệt. Bà Đảm cầm những bộ quần áo của ông vứt xuống mộ, cùng với đó là vài tờ tiền lẻ. Theo quan niệm ở đây, người ta sợ người về bên thế giới bên kia thiếu thốn, kể cả tờ tiền cũng vậy.

 

Giây phút ấy, mọi người cảm thấy tròn nghĩa vụ khi ngôi mộ đã được đắp đất xong.

Nhận thấy trách nhiệm cũng đã xong, một số người về trước, mang theo sự nhẹ nhõm trong lòng. Đấy là tình làng nghĩa xóm dù một việc nhỏ cũng thổ lộ rõ nhất. Sống với nhau một ngày, cũng mang nặng nghĩa tình.