Với tôi, bà bao giờ cũng là người an ủi những nỗi buồn của tuổi thơ, nhưng thực ra trong chuyện này bà không khác gì một người mẹ thứ hai trong cuộc đời – vừa bao dung vừa nhân ái. Lúc nào bà cũng dành cho tôi tình thương nhiều nhất trong ngôi nhà. Như những người dân sống bình dị trong thị trấn nghèo nàn, bà chẳng buồn để ý đến chuyện ngoài luồng, thị phi hay những tranh cãi xô xát của cuộc đời thường nhật dù cho bà chỉ mới học qua lớp chữ cái i tờ để buôn bán.
Sau cuộc ly hương bão tố, bà làm bạn đời với ông tôi, và một khi để đi đến hôn nhân, bà trở thành một người phụ nữ nghị lực vào lúc khó khăn nhất, 1954 – bà cùng với ông tôi lênh đênh trên đoàn thuyền Cần Thơ. Dù khó khăn nhưng lúc nào tôi cũng thấy ông bà tôi sống bên nhau ấm áp, và chưa bao giờ xảy ra cãi vã, tôi luôn thích thú với những câu chuyện mà bà kể về gia đình mình, vì ở đó không có thứ gì quý giá, một thứ hạnh phúc bình yên, và khi ông tôi trở về thế bao ông cũng hỏi, bà tôi lại bình thản trả lời những câu nói lạnh lùng: “Các cháu ngoan cả, thưa ông, là tôi không bao giờ cho chúng nghịch nước”.
Nhiều năm tháng sau, khi bà ở vào tuổi lão niên với một mái tóc trắng bạch kim mà trí nhớ tuổi già đã bỏ quên bà trong sự lam lũ hay nuôi đến gần chục người con, một người hàng xóm sẽ nhắc đến chuyện đi vay gạo nuôi cháu, và bà tôi sẽ rút vào im lặng, như một sự khiêm nhường kín đáo. Nếu hôm đó là một buổi không đến trường và đang ngồi chơi pháo nổ, thế nào bà cũng nhờ tôi nhổ vài cọng tóc sâu như muốn hồi sinh lại thời con gái “đặc biệt” ấy, cái lọn tóc mà tôi chỉ dám đụng đến lần thứ hai khi ở tuổi yêu đương. Vào mỗi lúc chiều tà, tôi luôn hình dung ra khung cảnh, bà ngoại của tôi, như một thôn nữ mơ màng, xắn quần móc lợn ra giữa cái giếng làng gánh nước để lộ đôi chân trắng ngần nhưng chẳng bao giờ dám hò hẹn với ai khác, chỉ lo làm sao gánh vác việc nhà.

Sau khi ông tôi tích góp được một khoản tiền lớn từ nghề lái tàu thủy của đoàn thuyền Cần Thơ và đột ngột mất vì căn bệnh đường tiết niệu, bà tôi trở thành “trụ cột” trong gia đình gồm toàn những đứa cháu gầy nhom. “Gánh gồng” là điều mà tôi biết và cũng là người thông gia Nguyễn Thị Xới (bà nội tôi) gần gũi của bà vẫn kể, với một tình cảm hồ hởi, khi ông đã có dấu hiệu xuống sức ở tuổi tám mươi với lời dặn dò ân cần: “Đừng bao giờ để những đứa cháu đói, thưa bà Vũ Thị Tẹo!”. (tên thật của bà tôi). Nhưng sức lực của bà tôi có lúc đôi cũng không thể chống đỡ trước đói nghèo vì cứ phải một nách cưu mang mấy đứa con. Khi cha và mẹ tôi vì cuộc mưu sinh đầy nhục nhằn mà hai người phải tạm thời gửi tôi lại sống với bà từ khi tôi còn quá nhỏ, và chẳng bao giờ nhận được tình thương, luôn luôn vắng nhà, và cuối cùng đành quay về cố hương, bà tôi phải hái những món rau dại mọc um tùm ven các lối đi trong khu vườn sau nhà để lấp đầy bữa ăn, và mỗi lần đi xa về, thế nào bà cũng mang về mấy phần quà, rồi nói tôi phải học hành cẩn thận thêm một chút.
Buổi sáng bà thường dạy sớm ra vườn rau, tỉa tót từng khóm, xới lại những lớp đất cằn khô, ngồi hong tóc trong gian bếp ấm. Mỗi ngày, bà chuẩn bị cho tôi một ít thức ăn nhẹ để đến trường, bánh mì, trứng luộc, bánh tẻ, để sẵn trong chiếc ba – lô, và tôi sẽ không phải lo lắng trong suốt cả buổi học, ở ngồi trường làng Tân Dân cách xa nhà (vì không có phương tiện đi lại nên tôi phải ngủ trưa ở trường và cũng không có quán ăn, nên hầu như học trò nào cũng phải chuẩn bị bữa ăn cho mình từ đêm hôm trước); bà tôi sẽ vừa đưa tôi đến trước vòng tay của cô giáo chủ nhiệm vừa dặn dò, và trở về tiếp tục với những công việc đi làm thuê trong suốt một ngày. (Nhờ có bà tôi mà tôi đã không phải dở dang việc học ngay cả khi vào đại học).
Người bác ruột của tôi, người mà trước mỗi giờ đi làm bao giờ cũng không quên chào bà bằng một câu nói êm dịu, trước mỗi buổi sáng bình minh. Một khi đã lo lắng xong việc nhà, người cô ruột của tôi sẽ trở lại, với món bánh tráng trên tay-thứ quà quen thuộc của người già. Cho đến lúc tôi vào cấp một, khi tôi không thể nào làm quen với những phép tính lạ lùng, tôi giống như một học trò chậm tiến, mỗi lần như thế tôi đều tìm đến bà của tôi, với cuốn vở tập đọc bé xíu, tôi lúc nào bị cuốn hút trong những câu chuyện bất ngờ và luôn luôn tìm cách uống từng lời theo cách diễn đạt của bà. Như sợ tôi sẽ khó tập trung, bởi nạp quá nhiều kiến thức sẽ khiến não nổ tung, và mỗi lần đoán định được tâm trạng buồn chán đó, bà tôi lại dẫn dụ tôi vào câu chuyện cổ tích “chú lính chì dũng cảm” để hâm nóng thêm lòng can đảm.
Bác cả Hớn, mặc dù chỉ là chàng rể, nhưng bao giờ cũng chăm sóc bà tôi như người mẹ đẻ, và dòng máu của cư dân vùng quê nông nghiệp, từ bà luôn được truyền cho những đứa cháu nhỏ tuổi nhất. Với tôi, biệt danh mà ông thường nhắc đến là “Chân đất”. Nhiều năm tháng sau, tôi hỏi ông vì sao lại chọn cái tên đó cho tôi, ông nói, bởi vì tôi luôn lấm láp bùn đất trong những buổi chiều trốn học, và còn thêm một ý nghĩa vì màu da tôi cớm nắng. Cậu em tôi thì là “tàu ngầm” bởi vì anh có thể nín thở hàng giờ dưới nước, mà chẳng ai làm được. Biệt danh của một người anh em bà con của tôi là “Mắt hí” do hai hàng mi sụp xuống, một người khác khó dạy bảo nên có biệt danh là “Qủy sứ”. Một người khác trong họ, do trải đời quá sớm nên có biệt danh là “Ma cô”. Trong những năm tháng đó, ông luôn nhớ về chúng tôi với những tên gọi thân thương ấy, với chút hỏm hỉnh xen vào đó nỗi niềm đồng cảm.
Trong căn phòng của bà tôi, giữa lối đi vào cửa chính, có một cái hòm đựng đầy kỷ vật từ hồi con gái, tôi lúc nào cũng thích mở chúng ra để xem và để chúng vào trò chơi đồ hàng, nhưng tôi đã bị bắt gặp. Bà tôi, bao giờ cũng ngồi trên gian bếp bập bùng vào buổi sáng, để ánh lửa lan tỏa khắp ngôi nhà lạnh lẽo, qua mùa đông, ủ ấm cho luống cải ngồng, tới bè rau muống và vá lại những chiếc khuy áo bật cúc trước mái hiên lướt thướt mưa, như thế bà sẽ quên được thời gian-trước mỗi lúc vắng con cháu, chuyện trò với hàng xóm, đám bạn hữu từ xa tới, mà không cần đến Tivi, hay nghe đài. Bởi ngôi nhà luôn nhập nhoạng điện đóm, mà mắt người già như sao muộn trong đêm thật mờ nhạt, khó thấy, vì thế bà tôi thường thắp ngọn đèn dầu đã cháy gần hết bấc, cố ý vặn nhỏ, để ánh sáng vừa đủ cho tôi học bài.
Khi không trông cháu hoặc chăm sóc những bồn hoa mười giờ nở muộn buổi chiều, bà tôi thường ngồi ăn trầu với một số bạn già khác ở khu xóm Mới, những người cùng tuổi bà, và chơi tam cúc. Tôi nhớ có lúc bà còn chơi đánh chắt đánh chuyền. Khi chơi đánh chuyền, một trong số những “quả bồng” bay lên, mà bà đã nhanh tay chộp lấy khéo léo, có cả những que chuyền nhỏ như đầu đũa, được vót nhẵn thín, không có những cái rằm xiên xẹo, có đánh số thứ tự, và tôi thích thú ngắm nhìn, cùng học theo để chơi với đám bạn.
Bác Hoài tôi, giờ sống ở phố Trần Lãm – Thái Bình khiến tôi luôn bị cuốn hút bởi giọng điệu đặc sệt ngữ điệu miền biển của bà, bao giờ cũng giản dị, khiêm nhường: dù đã là chị em lâu năm, hai người luôn giữ nguyên cách xưng hô thân mật là “thưa bà”, mặc dù vẫn có cùng sở thích ăn trầu hay nhuộm răng mà ngày nay chẳng ai còn ưa thích. Họ giống nhau như hai giọt nước, và không chênh nhau về tuổi tác, nhưng họ vẫn nhường nhịn nhau trong đời sống. Đôi khi-cứ mấy chục năm mới gặp nhau một lần, có việc ra ngoài, hoặc có chuyện đột xuất, bà ngoại gầy guộc của tôi sẽ vận một bộ áo nâu gụ trong một ngày đẹp trời, và mỗi lần sửa soạn như thế: Bà ngoại tôi sẽ gọi vọng tên Tí Phương, người con gái út của bà và cũng là mẹ tôi, để vấn lại búi tóc gọn gàng cho bà. Tôi sốt ruột chứng kiến hành động chải tóc trên mái đầu trước tấm gương lớn-với những sợi tóc rơi xuống nền nhà và rụng và những tiếng nói thầm thì “nhè nhè thôi, con gái yêu, nhè nhẹ”. Tôi cũng ngỡ ngàng trước việc bà tôi ngồi giặt quần áo; bà tôi ngồi hàng giờ liên bên cái cầu ao cũ giữa trưa hè với những món bột giặt và một cái chày gỗ lạ lùng vừa vặn tay; tôi thán phục khi bà tự mình nhào đất rồi đắp thành những bước vách quây kín ngôi nhà mà mùi bùn đất thật khó chịu, và cái cảnh bà ngồi hứng nước mư với những ngón tay sần sùi khiến lòng tôi xao xuyến và nhớ mãi.
Mười mấy năm sau, khi đã sống xa nhà, tôi vẫn thường về thăm bà tại làng Đại Đồng, và nếu hôm đó vào buổi sáng tôi sẽ thấy bà ngồi đun thuốc bắc trong cái gian bếp ấy, bao quanh luôn luôn là những củi, giấy, vỏ trấu, than và những que nhóm. Mùi của thuốc bắc-một thứ cần thiết của người già, chữa bệnh xương khớp, sáng mắt và tăng tuổi thọ-để chống lại sự lão hóa của thời gian. Bà tôi luôn mang theo bên mình một cái cối giã trầu để khỏi làm phiền đến ai. Chiếc cối này, nơi những miếng vỏ sẽ được nghiền kỹ, những hạt cau, lá, vôi, và chỉ mấy phút sau, có một miếng trầu ngon lành và chẳng cần làm gì khác.
Có lẽ bởi sinh ra ở làng quê, thành ra bà muốn giữ lấy nét giản dị mà đôi khi bà trở thành một tâm điểm chú ý; niềm an ủi của bà tới con cháu và danh hiệu gia đình còn theo một chiều hướng khác nữa-tất cả những đứa cháu của bà đều phải học được tính tự lập ngay từ khi còn bé. Mỗi lúc gặp bà, tôi sẽ hôn tay, hôn má bà, sau đó bà sẽ cho một chút tiền lẻ, mà tôi dùng để mua những cây kẹo bông một cách vui sướng và rồi tôi sẽ kể cho bà nghe về tình hình học tập ở trường và việc tôi đã có người yêu, nghe đến đó có khi bà sẽ trẻ, khỏe thêm trong hạnh phúc tuổi già.
“Cháu Phúc vừa về thăm tôi. Cháu rất hiếu thảo, rất khiêm nhường. Cháu đang học báo chí ở trường học viện. Tôi đã dành dụm số tiền có được cho cháu mua sách. Nếu may mắn, một ngày nào đó cháu sẽ rất thành công và gia đình chúng ta sẽ một lần nữa nhận được sự tôn trọng, đó là ước nguyện khi ông của cháu còn sống”.
Sau khi bà mất, tôi cứ nhìn vô định vào tấm di ảnh của bà qua đôi mắt bé bỏng, cái hình ảnh của bà càng làm tôi nhớ thương bà hơn và ban cho tôi một thứ năng lượng tròn đầy, khiến cho tôi tự hỏi, trong khi cố dõi theo tôi từ nơi ấy, dường như có phải là bà đang từ quá khứ trở về hay bởi vì giờ đây tôi biết được rằng cuộc đời có bà là một cuộc đời ý nghĩa nhất.

Bài viết liên quan: